|
Ở bài trước [1], chúng ta đã đi đến một kết luận sơ khởi rằng
thật sự rất khó có một nước Văn Lang rộng cỡ vùng đất Bắc Bộ
ngày nay. Nhiều chứng cớ trình bày cho thấy đất nước nguyên thủy
của người Việt, ngay cả trong vòng thời gian một hai trăm năm
trước khi quân nhà Hán đến xâm chiếm (111 TCN), vẫn chưa hội đủ
các thành tố để có thể tiến đến được hình thái nhà nước theo như
mô hình của các chư hầu thời Xuân Thu Chiến quốc bên Tàu.
Những thành tố tạo nên tập hợp điều kiện cần và đủ, thường hỗ
tương với nhau, để một xứ ở vào thời xa xưa, có thể tiến đến
hình thái nhà nước và nước nhà, xin tóm tắt như sau:
- Lãnh thổ: Lãnh thổ càng lớn bao nhiêu thì kỹ thuật
liên lạc, truyền tin và phối hợp phải đạt được một cấp cao bấy
nhiêu.
- Dân tộc: Cũng y như 'lãnh thổ', dân tộc, tuy không
nhất thiết phải thuần chủng, bắt buộc phải có trình độ tổ chức
xã hội ở một cấp cao hơn tổ chức bộ lạc. Nếu vùng đất đó bao gồm
nhiều chủng tộc khác nhau, phải có một nhóm người thuộc một
chủng nào đó bị sức ép của đòi hỏi thực phẩm và giải quyết nạn
nhân mãn, đứng ra kêu gọi đoàn kết, hay thực hiện giấc mơ minh
chủ thôn tính các chủng và bộ lạc lân cận để luôn luôn bành
trướng lãnh thổ. Chủng minh chủ này không những phải hung hăn
hơn những chủng hay bộ lạc kia, mà còn phải hoàn toàn 'trên cơ'
những chủng hay bộ lạc khác về kỹ thuật tổ chức xã hội, chiến
tranh, và phân phối tài nguyên, nhân lực và thực phẩm. Các kỹ
thuật này vào cổ thời, từ Đông sang Tây, đều được thể hiện bằng
hai thành tố: Con Ngựa và Chữ Viết.
- Chính quyền: Mới xem tưởng đơn giản, chỉ cần một tù
trưởng hay một vị vua với đám quần thần phụ tá là xong. Trên
thực tế không phải như vậy. Muốn có chính quyền, phải có nhiều
yếu tố hỗ trợ cho việc tồn tại lâu dài. Trong đó, quan trọng
nhất phải có một chủ thuyết, kiểu này hay kiểu kia, tạo nên
xương sống cho riềng mối quốc gia. Chủ thuyết đó phải được đa số
dân chúng chấp nhận và tin tưởng. Thí dụ: Ở bên Tàu, thiên tử
lên được ngôi vua do ở mệnh trời. 'Thiên tử' mang nghĩa: con của
trời. Và đó tự nó cũng đã là một chủ thuyết rồi. Ở nước Nam cho
đến thời Lê Lị (Lê Lợi) luôn luôn vẫn có những huyền thoại về mẹ
của vua nằm mơ thấy mình được thánh thần mời vào phòng ngủ nghỉ
ngơi chốc lát, rồi mới sinh ra nhà vua, v.v. Hoặc vua phải có
quí tướng, như có một vài nốt ruồi ở đâu đó trên thân thể chẳng
hạn, cộng với một thứ dung mạo 'đế vương', v.v.
- Con Ngựa hay Kỹ thuật chiến tranh và truyền tin,
truyền pháp lệnh: Vào thời xa xưa, kỹ thuật tổ chức quốc gia,
chiến tranh và truyền tin liên lạc được thể hiện bằng 'Con
Ngựa'. Xứ nào dùng ngựa trước sẽ có lực lượng quân sự mạnh mẽ
hơn. Có ngựa và không có ngựa, vào thời xa xưa, cũng giống y như
có vũ khí tiêu hủy khối lớn, hay không vào thời bây giờ. Nước
Văn Lang thuở đó hãy còn dùng voi, hay cùng lắm con trâu. Con
ngựa xuất hiện đầu tiên ở miền Tây Bắc nước Tàu, ngay vào thời
điểm chín muồi giúp cho nền văn minh Hoa Hạ bộc phát dữ dội, tức
trong vòng thiên niên kỉ thứ hai trước Công Nguyên.
- Chữ Viết: Có chữ viết mới có giao hẹn, có khế ước, có
luật pháp hay pháp lệnh đàng hoàng. Có chức này chức kia trong
xã hội. Mới hợp thức hoá được phân chia giai cấp theo mô hình
nhà nước của Engels [2]. Mới tổ chức được triều đình, tức chính
quyền ở thời phong kiến xa xưa. Mới phân biệt ra đâu là chính
quyền trung ương đâu là địa phương. Có chữ viết mới có trước có
sau, có giấy tờ văn bản giúp cho việc tổ chức chính quyền ở cấp
bậc nhà nước hoặc nước nhà. Có chữ viết mới có sử sách. Có sử
sách mới tạo nên được truyền thống, và chủ thuyết về quốc gia,
dù ở dạng đơn sơ nhất.
Khi xử dụng 5 thành tố đó để kiểm chứng lại xứ sở nguyên thủy
của người Lạc chủng Âu và Việt, chúng ta đã đến một kết luận sơ
khởi: Nước Văn Lang, có vẻ là một nước không thể có thật. Dù ở
dạng với biên giới thu hẹp trong vùng đất Bắc Bộ ngày nay. Nếu
có thật chăng nữa, ý niệm về ‘nước’ của các chủng ở khu Lĩnh nam
(Hoa Nam) đã hoàn toàn khác với các nước, dù ở thế 'chư hầu', ở
Hoa Bắc vào thời Đông Châu liệt quốc. Nói nôm na hơn, nước Văn
Lang không thể nằm ngoài hình thái của tất cả các nước khác của
nhóm Bách Việt ở Hoa Nam. Ngay cả vùng Đông Nam Á, và tại nhiều
nơi ở Âu Châu, kể cả Anh Quốc và Pháp quốc [9] [27]. Tức bao gồm
một số bộ lạc đông dân gần gũi với nhau, thường hợp sức hợp quần
với nhau khi có đe dọa từ bên ngoài, tứ một chủng khác dữ dằn
hơn và đầy đủ phương tiện văn minh hơn. Hoặc tiến lên hình thái
quốc gia từ từ, qua hằng trăm năm, bằng lối quy phục của những
bộ lạc chung quanh đối với một bộ lạc lớn mạnh ở chính giữa, có
một tù trưởng to khoẻ, thông minh hơn người, cộng với một sức
thu hút lãnh đạo huyền nhiệm.
6. Quyển sách về
người Mường của Cuisinier [4] cho biết một số điểm có thể giúp
minh giải cho mô hình Văn Lang ở đây:
(i) Người Mường
khi nói về 'byua Yiệt', hay Việt tộc, họ xem như láng giềng tốt,
hoặc cùng lắm là chủ nhân vùng đất chung chung ở gần đó. Tức vua
Việt, nếu có, không phải là vua của họ. Và có rất nhiều vua Việt
khác nhau theo từng vùng. Tổ mẫu của chủng họ chính là bà Âu Cơ
(Ngu Cơ) biểu tượng bằng con nai có đốm sao. Những ông Thánh của
tộc Mường cũng thường khác nhau, giữa các 'mwang' khác nhau.
Mwang tức là 'mường', mang nghĩa: đơn vị xã hội người Mường. Có
mwang thờ thần Tản Viên (Sơn Tinh) như Việt tộc. Có mwang thờ
Thần Nông như hồi còn ở tại nước Sở. Có mwang lại gọi thần gạo
thóc bằng một tên khác, chứ không phải Thần Nông. Có mwang thờ
Thục Đế, tức Thục Phán - lãnh tụ đầu tiên của họ đã cai trị một
số bộ lạc lớn nào đó chung quanh Cổ Loa.
(ii) Theo truyền
thuyết Âu Cơ bản Mường (xem bài 1), sau khi chia tay với Lạc
Long Quân, Âu Cơ dẫn 50 người con (trai và gái) về vùng rừng
núi. Còn ông chồng thì dẫn 50 người con kia về vùng đồng bằng
gần sông gần biển. Cả hai đám con đều tạo dựng thành hai đại gia
đình của những vua chúa của các bộ tộc hay bộ lạc. Đám theo ông
Lạc trở thành đám hoàng gia mặc áo màu vàng. Đám theo bà Âu,
hoàng gia mặc áo đen. Trong nhiều truyện tích người Mường, ta
vẫn thấy họ theo sát với truyền thống đó, gọi bua Việt bằng vua
Yịt Yàng. Giải thích của chúng tôi ở đây: 'Yịt' chính là lối gọi
Việt (Yiệt) của người Mường. Nguyên thủy mang nghĩa cái rìu.
'Yàng' chính là từ của tiếng Mường cổ, có âm giống bộ tộc Kha Lá
Vàng: /Yềng/, mang nghĩa 'màu vàng' [26]. Yịt Yàng có nghĩa vua
Việt thuộc khối 'hoàng gia' mặc áo màu Vàng. Điều này có nghĩa
những nhân chứng khách quan đã để lại nhận xét: Văn Lang thật ra
chỉ bao gồm một số bộ tộc hay bộ lạc có tổ chức không khác với
tổ chức xã hội Mường bao nhiêu. Tức gồm một số bộ lạc cư ngụ tại
vùng đồng bằng, có thể có hoặc không có liên hệ huyết thống với
nhau.
(iii) Ngoài tên
gọi 'bua Yịt Yàng', cũng có một vài mwan gọi 'vua' Yiệt bằng
Hùng Wang. Cho thấy có rất nhiều cách gọi vua Việt - tùy theo
vùng, tùy theo mwan. Nhưng cũng không thấy tên Văn Lang ở đâu,
trong tất cả các truyện cổ tích của Mường. Riêng 'Hùng Wang',
theo lối giải mã loạt bài này, là một tên gọi người Mường đã bắt
chước gọi các vua Sở khi họ còn là 'công dân' nước Sở ở thời xa
xưa.
7. Người Việt ngày
nay hãy còn nhớ câu ngạn ngữ xa xưa: 'Phép vua thua lệ làng'.
Ngạn ngữ này cũng có thể dùng để minh giải cho thuyết về mô hình
Văn Lang trình bày ở đây: Phải chăng Việt tộc cho đến thời Ngô
Quyền (thế kỷ 10 sau CN) mới thực sự tiến đến hình thái nhà nước
độc lập, mặc dù chỉ trong vòng 7 năm ngắn ngủi. Dù vậy, chúng ta
cũng không thấy dấu vết gì về cơ viện xã hội nước nhà mà Ngô
Quyền đã tạo dựng được, ngoại trừ mô tả về việc Ngô Quyền
'sắp định bá quan, chế triều nghi, định màu sắc triều phục tỏ rõ
được tinh thần độc lập, quyền tự quyết của dân ta' [7]. Nói
một cách nôm na hơn: 'Phép vua thua lệ làng', phải chăng đã nói
lên một sự thật: Lối sống theo tổ chức 'làng xã' hay bộ lạc độc
lập nhưng rời rạc, không lệ thuộc vào sự chỉ đạo của trung ương
đã kéo dài quá lâu, từ khoảng năm 2000 TCN cho đến năm 1000 SCN.
Lâu đến nỗi nó đã đi vào xương tủy của người Việt. Lâu đến nỗi
đến khi quốc gia được hình thành trong nền độc lập thực sự ở
nhiều thế kỷ sau, người Việt vẫn còn giữ vững những thói quen lề
cũ.
8. Một điểm nữa
cũng rất quan trọng trong các lý thuyết về chính quyền và chính
trị cũng không thấy được thể hiện trong truyền thuyết về nhà
nước Hùng Vương. Đó là chính quyền, từ xưa đến nay, thường tồn
tại do ở dân chúng đã tạo được thói quen nhìn vào một
nhóm người nào đó như giới lãnh đạo, giới cầm quyền. Hoàn toàn
không có dấu ấn gì về 'thói quen' này trong sử Việt. Bằng chứng:
(i) Khi Lý Bí,
tức Lý Bôn, phất cờ khởi nghĩa và lần đầu tiên giành được độc
lập cho nước nhà vào giữa thế kỷ thứ 6, ông đóng đô ở cửa sông
Tô Lịch (Hànội ngày nay) [28], và đặt quốc hiệu là Vạn Xuân. Vạn
Xuân, chứ không phải Xích Quỷ hay Văn Lang, rất có thể chính là
quốc hiệu thật đầu tiên của nước Nam. Lý Nam Đế đã không nghĩ
đến việc dùng đến một thứ tên thiêng liêng là Văn Lang. Bởi có
thể Lý Nam Đế và dân Việt ở các vùng đất của ông không hề biết
đến nước nào mang tên Văn Lang hết. Như vậy, hoặc không có nước
Văn Lang, hoặc nếu có, đó chỉ là tập hợp một số bộ lạc đông dân,
chưa đạt đến dạng đầu não trung ương trong tổ chức quốc gia của
một vùng đất lớn.
(ii) Khi Thục
Phán dẫn dân xứ Tây Âu đến định cư, hay tị nạn chiến tranh gây
nên bởi quân Tần, hoặc thôn tính xứ Văn Lang, ở vùng lưu vực
sông Hồng, chính sử không có ghi gì về 'quân đội' chống trả của
vua Hùng. Sử Việt chỉ chép lại một số truyện cổ tích Mường về vụ
Thục Phán hỏi con vua Hùng làm vợ, nhưng không được. Tức giận
Thục Phán mới đem 3 vạn quân dân Âu sang chiếm xứ Lạc và tạo nên
'nước' Âu Lạc. Và con số 3 vạn quân này do người Hoa viết lại
vào khoảng trên 600 năm sau ('Giao Châu Ngoại Vực Ký'). Hoàn
toàn không có vụ phục quốc nào hết do 'quần thần', hay con chàu,
của vua Hùng khuấy động để khôi phục lại 'nước Văn Lang'. Cả
nước Việt tự cổ chí kim, từ thế kỷ -28 (TCN) cho đến thế kỉ +21
(SCN), cũng không thấy một người Việt nào mang họ Lạc, hay họ
Sùng theo tên Sùng Lãm Lạc Long Quân, con cháu của vua Hùng, mà
sử sách ưa nhận rằng đã theo Phụ hệ, tức giữ họ Cha: họ Lạc của
Lạc Long Quân. Rất ngộ, không có một người Việt thuần túy
nào mang họ Lạc, hay họ Sùng hết, dù rằng dòng vua đó kéo dài
đến hằng ngàn năm, và truyền 18 đời.
(iii) Thục Phán
cũng đã tạo được chính danh trên dưới nửa thế kỷ. Thế mà khi
Triệu Đà hô 'a lê hấp' sát nhập Âu Lạc vào Nam Việt, là sát nhập
liền, rất êm thắm. Không một chút binh lửa. Ngọai trừ một chuyện
cổ tích về Trọng Thủy-Mị Châu, mang nhiều nét rặc cổ tích Mường.
Cũng không có chống đối, binh lửa chiến chinh, hay kháng chiến
phục quốc gì hết. Tức có thể nói đất đó của các chủng đó, ở thời
đó (và đến nhiều thế kỷ sau, theo mô hình ở đây), vẫn chưa tiến
đến hình thái nước nhà và nhà nước. Và cũng có thể nói chủng chủ
lực ở khu lưu vực sông Hồng chắc phải cùng một thứ chủng với
khối dân chủ lực ở miền Quảng Châu (Hợp Phố, Nam Việt, Long
Xuyên và Phiên Ngung), tức chủng Thái-cổ. Hai vùng đất phải có
một thứ chủng đa số nên mỗi khi thay đổi 'ê-kíp' hay nhóm người
cai trị, đều diễn ra rất êm đẹp. Rất ăn khớp với truyền thuyết
giải mã ở đây: Hai chủng Thái-cổ và Việt-cổ di cư sang đồng bằng
ở Bắc Bộ từ miền Hoa Nam nước Tàu. Vào những thế kỷ đầu, chủng
Thái cổ nắm thế chủ lực.
(iv) Nếu chúng ta
để ý quyền lực nhà nước thường đi đôi với 'thói quen' trong đầu
óc của quần chúng, ta sẽ thấy một chính quyền càng ở lâu chừng
nào, và lãnh thổ một nước lớn chừng nào, thì khi thực thể đó
biến mất đi, người dân sẽ tìm cách khôi phục nó. Mặc dù thường
thường bánh xe lịch sử vẫn tiếp tục chuyển bánh không ngừng. Thí
dụ: Ở pên Tàu, khi nhà Tần hay nhà Hán có mòi yếu thế, rất nhiều
cuộc nổi loạn đã xảy ra tại các đất nước thuộc chư hầu xưa cũ ở
thời Đông Chu Liệt quốc. Họ cũng xưng là hậu duệ vua Sở, hoặc
con cháu các quan lớn trong triều Hán. Nhất là vào thời Tam Quốc
với ba nước Thục, Ngụy và Ngô. Tên ba nước này có địa bàn rất
gần hay trùng hợp với lãnh địa những nước xưa cũ tại đó vài trăm
năm trước. Ở Trung Hoa, chuyện phục quốc vẫn xảy ra dài dài có
khi suốt hằng trăm năm sau khi nước cũ bị mất. Thí dụ: Phản
Thanh phục Minh, mặc dù lúc cầm quyền nhà Minh cũng rất độc tài,
tàn ác. Như vậy, nếu Hùng Vương có thật và truyền đến 18 đời,
trải qua trên 2000 năm, dấu ấn của các bua Hùng phải ăn đến tận
xương tủy của dân Lạc thời đó. Thế mà, hai bà Trưng, rồi bà
Triệu qua đến Lý Bí, Phùng Hưng, cho đến Ngô Quyền và Đinh Bộ
Lĩnh, v.v. không một vị nào cần đến, hoặc mượn danh nghĩa vua
Hùng để đánh đuổi ngoại xâm, hay nhất thống nước nhà.
(v) Đặc biệt có
thể tra cứu bằng bất cứ quyển sách sử nào về cuộc khởi nghĩa của
Hai Bà Trưng (năm 40 SCN). Để ý cái chính danh rất cần thiết:
phục hưng lại nước Văn Lang hay Âu Lạc, hay tìm con cháu hay
chắt của các vua Hùng để phục hồi 'triều đại' Hồng Bàng, đã hoàn
toàn vắng bóng, từ đầu đến cuối của khởi nghĩa chống quân Đông
Hán. Chúng ta chỉ biết hai bà là con của Lạc tướng xứ Mê Linh
thuộc Châu Phong, một vùng rừng núi vào thời đó có rất nhiều
người thuộc chủng Thái-cổ cư ngụ, mà ngày nay thường gọi người
Mường. Thi Sách, chồng bà Trưng Trắc, cũng là con một Lạc Tướng.
Nếu vua Hùng có thật và nước Văn Lang có kinh đô đặt tại Châu
Phong trên dưới 2000 năm, người ta sẽ rất ngạc nhiên khi thấy
chính danh khôi phục lại triều đại Hồng Bàng đầu tiên không hề
được dùng đến. Ngô Sĩ Liên [3] có chép: 'Vua (Trưng Trắc) khổ
về thái thú Tô Định bó buộc vào pháp luật, lại thù vì Định giết
chồng mình, mới cùng với em gái là Nhị nổi binh đánh lấy trị sở
của châu. Định chạy về Nam Hải'. Cũng có thể để ý một vài
điểm khác: (a) Hệ thống luật pháp của nhà Hán qua thái thú rất
khắt khe so với lề lối của xã hội bộ lạc, tức trước thời Hán
thuộc xứ Văn Lang hay Âu Lạc chưa có tổ chức quốc gia; (b) Cái
chức Lạc Tướng (và Lạc Hầu, Lạc Vương) chỉ thật sự xuất hiện vào
khoảng thế kỷ thứ 4 SCN (quyển 'Giao Châu Ngoại Vực Ký'). Vào
thời bà Trưng (năm 40-42 SCN), chắc chắn Lạc Tướng được gọi bằng
một thứ tên nôm na hơn chưa được Hán hoá. Rất có thể đó là Thổ
lang hay Quan lang [4], tù trưởng bộ lạc thời đó.
(vi) Cũng ở thời
gian ngắn ngủi (2 năm) sau khi hai bà Trưng đánh đuổi được Tô
Định trở về Tàu, và trước khi Mã Yuện (Viện) tiến quân sang, có
tài liệu [28] cho biết 'Đối với nhân dân chính quyềnTrưng
Vương xá thuế 2 năm liền'. Tức xá thuế suốt thời gian vua
Trưng Trắc trị vì. Giới khảo cứu có quyền thắc mắc về vấn đề
thuế má, bằng cách viết lại câu ghi chép trên, nhưng hoàn toàn
vẫn giữ tất cả các ý chính: 'Đối với nhân dân, chính quyền Trưng
Vương không có thu thuế trong suốt thời gian trị vì'. Tức chính
quyền Trưng Vương hoàn toàn không có thu thuế má. Có nghĩa chính
quyền đó vẫn còn là một hình thái tổ chức nhà nước không cao hơn
cấp bộ lạc bao nhiêu. Bởi ai cũng có thể mường tượng thuế má
chính là nhiên liệu cho tổ chức quốc gia. Nhất là đối với một
quốc gia mới đánh đuổi được giặc ngoại xâm và phải đề phòng địch
mang quân tấn công trở lại. Cần nhiều chi tiêu về huấn luyện
binh sĩ, và củng cố nền quốc phòng.
9. Ý niệm 'thói
quen' quần chúng xem một nhóm người, một ê-kíp như những người
thuộc thành phần lãnh đạo 'muôn thuở', dù tốt hay xấu, hay hoặc
dở, luôn luôn đi đôi với cái ý niệm về 'di sản quyền bính' hay
'cội nguồn quyền lực'. Nói một cách nôm na, 'di sản quyền bính'
thường được hiểu như một cái gì liên hệ đến 'truyền thống' trong
xã hội loài người. Nó luôn luôn có ở trên mọi địa hạt, và là một
ý niệm lúc nào cũng được chính trị gia xử dụng. Từ Đông sang
Tây, xưa và nay. Nó nói lên nguồn gốc của quyền bính, quyền lực.
Quyền hành ở đâu mà ra? Bởi thật sự nếu quyền bính không có
nguồn gốc (hay không có 'thói quen' như đề cập ở trên), xã hội
rất khó tiến tới trật tự của một hình thái quốc gia. Thí dụ:
Ngày nay, ở những nước thuộc khối Muslim, người lãnh đạo nước
phải được sự chuẩn nhận của những vị lãnh đạo tôn giáo. Nguồn
gốc của quyền bính của các vị này lại có thể truy về thánh kinh
Coran, hay lời giảng huấn của thánh Mohammed. Ở bên Tàu, xưa có
thuyết thiên mệnh. Vua là thiên tử, con riêng của Trời. Nhiều vị
vua khi lập nên triều đại hay khi soán ngôi người khác chỉ cần
có diện mạo hoặc tướng tá hơi khác phàm một chút là xong. Ở các
xứ tân tiến Tây phương, cội nguồn của quyền bính nằm trong hiến
pháp. Dù vậy người dân luôn luôn được nhắc nhở đến cội nguồn qua
các ý niệm hết sức bình dân. Thí dụ, khi một tổng thống mới nhậm
chức tại Hoa Kỳ, báo chí ưa nói ông ta là tổng thống thứ mấy,
như tổng thống Bush hiện là tổng thống thứ 43, với hàm ý nguồn
quyền bính hành pháp đã truyền đến 43 đời với tổng thống George
Washington là người đầu tiên đã kiến tạo nên quyền đó từ chiến
tranh giành độc lập, tạo dựng nên Liên Bang Mỹ. Thí dụ khác: Đối
với nhiều tổng thống Mỹ, nếu còn trẻ và đẹp trai, giới truyền
thông ưa so sánh với tổng thống John Kennedy, được mến chuộng
nhất trong vài thập niên vừa qua. Lúc Bill Clinton nhậm chức
tổng thống báo chí ưa đem tấm hình Kennedy bắt tay cậu bé Bill
Clinton, rồi chua thêm đâu đó Kennedy đã trao ngọn lửa thiêng
lại cho Clinton. Cội nguồn quyền bính mới xem ra rất tầm thường,
nhưng không có không được. Nó là xương sống của một chính thể,
của nhà nước.
Để có thể quan sát lại vấn đề cội nguồn hay di sản quyền lực,
xin xem bảng tóm tắt các 'chính quyền' từ thời Hùng Vương (xin
tạm chấp nhận) cho đến thời Đinh Bộ Lĩnh. Ta có thể thấy rất rõ
những điểm nổi bật sau đây:
|
Nguyên Thủ |
Niên đại |
Cội nguồn
quyền bính |
|
|
~ 2800-258
TCN |
(a) Con rồng
+ tiên [3]; (b) Phép ảo thuật [7]; (c) Tù trưởng theo
thế tập [cổ tích bản Mường] |
|
Thục Phán |
~ 258-208
TCN |
(a) Đã là
lãnh tụ khối dân Âu đa số; (b) Có gốc gác ‘hoàng thân’
nước Thục, có dân Âu (Thái cổ) di cư xuống, hậu thuẫn. |
|
Triệu Đà |
207-140 TCN |
(a) Kế nhiệm
Nhâm Ngao, quan nhà Tần tại Nam Hải và Long Xuyên; (b)
Thôn tính Quế Lâm và Tượng quận; (c) Âu Lạc và Mân Việt
khuất phục (theo [7]) => Cội nguồn quyền lực xuất phát
từ chỗ 'làm quan' nhà Tần |
|
|
139-111 TCN |
Con cháu Nam
Việt Vương, nguồn quyền bính trao truyền theo kiểu thế
tập. |
|
Nhà Hán &
các thế lực đô hộ phía Bắc |
110 TCN -
939 |
Phe chiến
thắng của một cuộc chiến tranh xâm lược. Quan đô hộ là
đại diện của 'Thiên Tử', con Trời, có quyền cai trị.
|
|
Hai bà Trưng |
40-42 SCN |
Con gái của
Lạc Tướng tại khu vực đông chủng Âu (Thái cổ): Mê Linh.
‘Lạc tướng’ chính là dạng Hán hoá của Thổ lang hay Quan
lang trong xã hội Mường về sau. Nguồn quyền lực: Xuất
phát từ Lạc Tướng. |
|
Lý Bí (Lý
Bôn) |
544-548 |
Cội nguồn:
Giành độc lập. Đặt quốc hiệu Vạn Xuân. Ban đầu tự xưng
Nam Việt Đế, với ý dựa vào nguồn quyền lực của Triệu Đà. |
|
Triệu Quang
Phục |
548-571 |
Nguồn: Do Lý
Bí trước khi chết trao quyền. Chiếm khu đầm Dạ Trạch,
xưng Dạ Trạch Vương. Có lẽ người đầu tiên 'lăng xê' thần
linh Chử Đồng Tử và truyện tích Dạ Trạch.. |
|
Lý Phật Tử
|
571-602 |
Nguồn: Đảo
chánh Triệu Quang Phục với danh nghĩa con cháu của Lý
Bí. Cũng dựa nguồn Phật giáo lúc đó bắt đầu thịnh hành
tại đất Việt. |
|
Khúc Thừa Dụ
Khúc Hạo
Khúc Thừa Mỹ |
906-907
907-917
917-923 |
Cội nguồn từ
chức vụ Tiết Độ Sứ của nhà Đường
Cội nguồn
quyền lực: thừa kế di sản quyền bính của Cha
Khúc Thừa
Mỹ: thừa kế. Chính Khúc Hạo người đầu tiên thiết lập cơ
viện nhà nước cho nước Nam. |
|
Dương Đình
Nghệ |
930-937 |
Gốc gác
quyền bính: Tướng cũ của 'chính quyền' họ Khúc. Đánh bại
quan đô hộ Lí Tiến. Tiếp tục xưng Tiết Độ Sứ |
|
Ngô Quyền |
939-965 |
Con rể Dương
Diên Nghệ. Đem quân đánh bại Kiều Công Tiễn, người đã ám
sát Dương Đình Nghệ. Thiết lập triều đại độc lập đầu
tiên và khá lâu dài của nước Nam. |
|
Đinh Bộ Lĩnh |
968-980 |
Nguồn quyền
lực: những dấu hiệu siêu nhiên khi ra đời và ở tuổi niên
thiếu. Con của sứ quân Trần Minh Công, chiếm giữ Kỳ Bố
(tỉnh Thái Bình). Có công dẹp 12 sứ quân. Quốc hiệu: Đại
Cồ Việt. Sau bị Đỗ Thích ám sát. |
(i) Hùng Vương lên ngôi vua dựa vào một trong ba nguồn quyền
lực như sau: Thứ nhất, ông thuộc dòng vua chúa từ bên nước Sở ở
thời Xuân Thu Chiến Quốc ở pên Tàu, và theo tính cách siêu
nhiên, ông là con rồng cháu tiên, mang hai giòng máu Thái-cổ và
Việt-cổ. Hoàn toàn không có DNA kiểu Tàu. Thứ hai, theo Đại Việt
Sử Lược ông dùng bùa phép ảo thuật như nhiều vị tù trưởng ở thời
đó, thuyết phục dân chúng để mình lãnh đạo. Thứ ba, theo truyện
cổ tích Âu Cơ bản của người Mường [4], không phải chỉ có một
vua, mà rất nhiều vua anh em với nhau trong một đại gia đình của
các tù trưởng. Vua theo bản Mường chỉ là một tên gọi thay cho tù
trưởng.
(ii) Dù với nguồn
quyền lực nào đi nữa, chúng ta có thể thấy rất rõ cho dù có thật
một nguyên thủ gọi Hùng Vương, 'triều đại' của các vua Hùng rất
khó truyền đến 18 đời qua hằng ngàn năm. Lý do: Cội nguồn quyền
lực rất tầm thường không thể thuyết phục được dân chúng mãi mãi
tôn thờ một gia đình 'vua chúa' đến lâu như vậy. Tầm thường ở
chỗ cả Lạc Long Quân và Âu Cơ, hoặc Hùng Vương, theo truyền
thuyết [3], không người nào biết bay hay trường sinh bất tử cả.
Cụ Lạc phải 'dẫn' 50 người con xuôi về miền đồng bằng, và bà Âu
lại 'dẫn' 50 người con kia, cuốc bộ hay cưỡi voi lên núi. Cũng
tầm thường ở chỗ, nếu theo nguồn 2 ghi trong [7], Hùng Vương thứ
1 đã dùng ảo thuật để cho dân chúng theo. Nhưng không lẽ phép ảo
thuật đó có thể truyền lại được trong một dòng họ đến 18 đời và
qua hơn 2000 năm? Có lẽ chỉ nguồn thứ 3 theo cổ tích Mường là có
lí hơn cả.
(iii) Cội nguồn
quyền lực, hay di sản quyền bính, hoặc nói nôm na theo kiểu mấy
lý thuyết chính trị của người Tàu: 'chính danh', đều được thể
hiện khá rõ rệt ở bất cứ 'chính quyền' nào theo bảng tóm tắt
phía trên. Tuy vậy, ngay đối với những vị có công với đất nước
như Dương Đình (hay Diên) Nghệ, Đinh Bộ Lĩnh, việc ám thích soán
đoạt ngôi vua vẫn xảy ra như thường. Việc ám thích soán ngôi
soành soạch cho thấy muốn một chế độ truyền lại qua nhiều đời,
cội nguồn quyền lực phải thật sự hết sức siêu nhiên. Hoặc tất cả
những vị vua ở cùng triều đại nào đó, vị nào cũng phải thật 'anh
minh', dũng mãnh, giải quyết thật hay thật công bằng mọi vấn đề
khó khăn của xã hội. Nhất là ở xã hội đơn sơ chưa có chữ viết
hay những nhà tư tưởng siêu đẳng nghĩ ra được những chủ thuyết
chính trị hỗ trợ cho quyền bính. Về phương diện này, một lần nữa
có thể thấy kết quả ưu việt của chữ nghĩa và tư tưởng, nếu nghĩ
đến mô hình các nước phân tranh ở miền Hoa Bắc thời Xuân Thu
Chiến Quốc. Từ đó, có thể suy diễn việc Hùng Vương truyền ngôi
đến 18 đời, trải qua hằng ngàn năm, rất có khả năng, chỉ là một
chuyện mơ tiên.
(iv) Qua bảng tóm
tắt phía trên, chúng ta cũng thấy mặc dù đã có nguồn huyết thống
từ Lý Bí, Lý Phật Tử [32] lần đầu tiên đã xử dụng đến tôn giáo
(đạo Phật) như một cội nguồn của quyền lực. Sau này Lý Công Uẩn
đã tiếp tục truyền thống đó trong lúc lật đổ Lê Ngọa Triều.
(v) Đặc biệt và quan
trọng nhất, ta để ý trong suốt chiều dài lịch sử nước Việt, từ
ngàn xưa cho đến khoảng cuối thế kỷ 20, không có một nhà cầm
quyền nào đã xử dụng đến triều đại Hồng Bàng tức các vua Hùng
như cội nguồn hoặc di sản quyền lực. Tức, có lẽ Hùng Vương, nếu
có, chỉ là tù trưởng của một bộ lạc đông dân ở miền bình nguyên
sông Hồng, hay đại tù trưởng của một vài bộ lạc thuộc chủng Lạc
hay Việt-cổ, hoặc Thái-cổ và Việt-cổ ở gần gũi nhau. Và lãnh
thổ mà Hùng Vương cai trị có thể là một xứ Văn Lang nào đó, bao
gồm một số khu vực rộng nhất trải dài từ Hoà Bình, qua Sơn Tây
đến Phú Thọ mà thôi.
Ghi Chú
[1] Nguyên Nguyên (2005) Thử đọc lại truyền thuyết Hùng Vương
(4): Nước Văn Lang. Xem Khoahoc.net.
[2] Chử Văn Tần
(2003) Văn Hoá Đông Sơn - Văn Minh Việt Cổ. Nxb Khoa Học Xã Hội.
[3] Ngô Sĩ Liên và
cộng sự (1497). Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. Thanh Việt và Phạm Ngọc
Luật hiệu đính theo bản dịch của Đào Duy Anh. Nxb Văn Hoá Thông
Tin (2004). Bản của Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam được trình bày
đầy đủ trên mạng internet: perso.wanadoo.fr/charite
[4]
Jeanne Cuisinier (1946) Les Mương – Géographie Humaine et
Sociologie. Institut d’Ethnographie. Paris
[5]
Đọc sử 'nước' Chăm (thí dụ [6]) chúng ta thấy cho đến thế kỷ thứ
7 sau Công Nguyên, 'nước' Chăm hãy còn bao gồm rất nhiều tiểu
vương quốc trong một dải đất rất hẹp. Đừng nói chi đến nước Hồ
Tôn ở thời huyền sử.
[6]
Ngô Văn Doanh (2003) Văn hoá cổ Champa. Nxb Văn Hoá Dân Tộc.
[7] Khuyết Danh (1377-1388) Đại Việt Sử Lược. Bản dịch của
Nguyễn Gia Tường.
Nhà Xuất Bản Thành Phố HCM. Bộ Môn Châu Á Học Đại Học Tổng Hợp
TP.HCM.
[8] Phụ đạo viết
theo
辅 导
mang
nghĩa người Thầy dạy học, có thể Thầy dạy kèm con vua. Viết như
父 道
nghĩa:
con đường của Cha, ‘đạo’ làm Cha, hoặc vai trò Cha Chú..
[9] Quan điểm thời
đại thành lập được quốc gia có vẻ rất khắt khe theo từ điển bách
khoa của internet:
http://en.wikipedia.org/wiki/List_of_countries_by_date_of_nationhood
Xem vài thảo luận
khác về 'quốc gia' tại:
http://www.bsos.umd.edu/CSS97/papers/competin.html
http://www.slovak.sk/magazin_slovakia/496_Slovakia/history/history1.htm
http://repositories.cdlib.org/csd/03-09/
http://college.hmco.com/history/west/mosaic/chapter13/source388.html
[10] Bình Nguyên Lộc
(1971) Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam. Nxb Xuân Thu (USA)
tái bản.
[11] Keith Weller
Taylor (1983) The Birth of Vietnam. University of California
Press.
[12] Hoàng Thị Châu
(1969) Nước Văn Lang qua tài liệu ngôn ngữ. Nghiên cứu lịch sử
120. pp.37-48.
[13] Văn Tân, Nguyễn
Linh, Lê Văn Lan, Nguyễn Đổng Chi và Hoàng Hưng (1973) Thời đại
Hùng Vương. Nxb Khoa Học Xã Hội.
[14] Nguyễn Hiến Lê
(1997) Sử Trung Quốc. Nxb Văn Hoá
[15] Đây cũng là một
điểm sử sách Việt dễ bị lộn xộn nhầm lẫn. Theo với những luận cứ
của loạt bài này, bộ lạc Việt Thường chỉ có thể là đám rợ chủng
Yueh ở lưu vực sông Hoàng Hà gần miền Sơn Đông (rợ Đông Yi). Chỉ
có đám rợ này mới có thể đi đến Kiểu Kinh, kinh đô Tây Châu nằm
trong tỉnh Thiểm Tây ngày nay. Không có cách gì bộ tộc Việt
Thường nằm ở Hoa Nam hay khu vực Bắc Việt được bởi ở lí do đường
xá xa xôi và phải xuyên qua hàng ngàn bộ lạc rợ khác ở miền Hoa
Nam. Và chuyến đi giao hảo xa xôi như vậy hoàn toàn không cần
thiết. Theo thiển ý, chính ở chỗ có một bộ tộc Việt nào đó muốn
tặng vua nhà Châu con chim Trĩ, nên từ đó người Hoa gọi thứ
chủng Lạc đã tính tặng họ con chim Trĩ đó là chủng Lạc viết theo
bộ Trĩ (còn gọi Trãi): Lạc bộ Trãi ở miền Sơn Đông, Giang Tô và
Chiết Giang ngày nay:
貉 phân biệt
[10] với Lạc bộ Chuy chỉ dân Môn và Miến Điện
雒 , Lạc bộ
Mã
駱
chỉ dân Mân Việt ở
Phúc Kiến, và Lạc bộ Khương
羌各 tiền
thân của dân Khmer. Hy vọng sẽ trở lại vấn đề này vào một dịp
khác.
[21] Chiến tranh
giữa Thục Phán và vua Hùng thứ 18, theo thiển ý, chỉ có trong
truyện cổ tích. Thục Phán thuộc chủng Thái, có lẽ có công dẫn
một đoàn người dân xứ Tây Âu vào định cư ở khu lưu vực sông
Hồng. Trên đường chạy giặc Tần, trước đó đã tiêu diệt nhiều xứ
thuộc chủng Âu, tức Thái cổ. Trong đó có nước Thục ở khu Tứ
Xuyên ngày nay. So với sử Tàu, mô tả về Nghiêu Thuấn, Thục Phán
là nhân vật bán huyền sử xuất hiện trước tiên trong sử Việt.
Thục Phán có thể là người có thật, có thể không. Nhưng 'nước' Âu
Lạc của Thục Phán vẫn chưa có khả năng rộng lớn bằng khu vực Bắc
Bộ ngày nay.
[22] Nhiều sách xuất
bản tại Việt Nam xưa nay vẫn thường thiếu sót ở phần hình ảnh
trang trí. Quyển 'Văn Hoá Đông Sơn' [20] dày ngót 1000 trang -
đề cập rất nhiều đến 'trống đồng' nhưng rất tiếc không có hơn
một hình vẽ, hay ảnh về trống đồng. Chỉ có vài trang hình vẽ về
mấy cái lưỡi rìu lưỡi cuốc, dao găm. Quyển 'Mã Lai' [10] ngày
xưa cũng vậy. Tác giả trình bày các chữ Hán thế này thế nọ nhưng
không viết in ra được một chữ Tàu, giúp người đọc hiểu hay theo
dõi vấn đề dễ hơn.
[23] Một thành tố
quan trọng thường được các học giả Việt đề cập đến trong việc
minh chứng hình thành của xã hội có nhà nước: Phân chia giai
cấp, thể hiện qua việc phân cấp các ngôi mộ cổ. Có mộ cho thấy
rõ mộ của người giàu, với dụng cụ canh nông, bảo vật, đồ trang
sức, chôn cùng với người chết. Có mộ cho biết đó là mộ người
nghèo. Theo thiển ý 'phân hoá xã hội' chỉ là điều kiện cần cho
xã hội có nhà nước. Chứ không phải điều kiện đủ. Bởi xã hội bộ
lạc bán khai vẫn có thể có hình thức mộ táng phân biệt theo ngôi
thứ. Mộ của tù trưởng, chẳng hạn, vẫn có thể chứa nhiều đồ vật
hơn mộ dân nghèo.
[24]
mcel.pacificu.edu/as/faculty/barlow.html
[25] Nguyên Nguyên
(2004) Từ chữ Nôm đến quốc ngữ. Toàn bộ 8 bài, tại Khoahọc.net
hay aihuucongchanh.com.
[26] 'Yịt' chính là
âm gọi chỉ 'Việt', người Việt, của tiếng Mường cổ. Nguyên thủy
nó mang nghĩa 'cái rìu' viết như một cái móc, phần dưới của từ
'Việt' chỉ tỉnh Quảng Đông (ngày nay):
粤 . Phần
trên của chữ Việt chỉ Quảng Đông chính là bộ Mễ, nghĩa: lúa
thóc. 'Việt' dùng để chỉ Việt Nam, người Tàu cũng phát âm bắt
đầu bằng âm /Y/: Yueh hay Yue, mang nghĩa yượt (vượt) 越 . Chỉ
trừ dân Mân Việt (Phúc Kiến - Triều Châu) có phát âm /Wật/ gần
giồng với âm /V/ trong Việt, còn lại có đến 8-10 sắc tộc
khác
phát âm Yiệt bắt
đầu bằng âm /Y/. Loạt bài chữ Nôm [25] đã ghi chi tiết phát hiện
các tôn sư cấu tạo quốc ngữ đã nhập hai âm riêng của tiếng Nôm
/W/ và /Y/ lại thành một, biểu hiện bằng âm /V/. 'Yàng' ở đây là
âm của chủng Thái cổ. Dần dà về sau, âm biến theo tiếng Tàu,
'Hoàng' hay 'Wàng', chỉ màu vàng và 'vàng bạc châu báu'. Bởi
'vàng' (kim loại) có màu vàng. Tiếng Tàu dùng để chỉ vàng lại là
'Kim' (Jin).
[27] Hermann Kulke
(1986) The Early and Imperial Kingdom in Southeast Asian
History. IN: David G. Marr & A.C. Milner (Ed.) (1986) Southeast
Asia in the 9th to 14th centuries.
Institute of Southeast Asian Studies – Singapore & Research
School of Pacific Studies – ANU Canberra. pp 1-22.
[28] Huỳnh Công Bá
(2004) Lịch Sử Việt Nam. Nxb Thuận Hoá.
[29] Trần quốc
Vượng (1986) Traditions, Acculturation, Renovation: The
evolution of Vietnamese culture. IN: David G. Marr & A.C. Milner
(Eds) (1986) Southeast Asia in the 9th to 14th centuries.
Institute of Southeast Asian Studies - Singapore & Research
Schơol of Pacific Studies - ANU Canberra. pp 272-277
[30] Để ý Bình
Nguyên Lộc có vẻ đã vô tình đặt một tiêu chuẩn quản lý nước nhà,
theo kiểu nguyên thủ nước Văn Lang (Hùng Vương), hoặc ban tham
mưu gồm các Lạc hầu, Lạc tướng, chắc phải có người mang học vị
PhD về Chính Trị Kinh Doanh hay MBA từ Yale hay Harvard, nên đã
góp ý rằng Hùng Vương không thể nào để việc chênh lệch giữa hai
khu vực Cửu Chân và Giao Chỉ đó xảy ra.
[31] John K.
Whitmore (1986) 'Elephants can actually swim': Contemporary
Chinese views of late Ly Dai Viet. IN: David G. Marr & A.C.
Milner (Eds) (1986) Southeast Asia in the 9th to 14th centuries.
Institute of Southeast Asian Studies - Singapore & Research
Schơol of Pacific Studies - ANU Canberra. pp 118-133
[32] Triệu Quang
Phục và Lý Phật Tử thật ra mỗi người chỉ làm 'chúa' một khu vực
mà thôi. Đặc biệt Triệu Quang Phục chiếm giữ khu đầm (chằm) Nhật
Dạ và tự xưng Dạ Trạch Vương. Có lẽ ông là người đầu tiên đã
lăng xê chuyện 'Chử Đồng Tử', con rể của Hùng Vương, về báo mộng
sẽ giúp ông gầy nên nghiệp đế. Cũng y như Cao Biền sau này lăng
xê chuyện nằm mơ thấy nhà phát minh ra nỏ thần cho Thục Phán
mang họ y hệt như ông, Cao Lỗ [7]. Cao Lỗ qua giấc mơ đã phò hộ
và giúp Cao Biền rất nhiều trong cuộc chiến chinh với quân xứ
Nam Chiếu (Vân Nam sau này).
[33] Con voi vẫn là
thứ 'chiến xa' của các bộ tộc miền Đông Nam Á, chứ không phải
'con ngựa'. Điển hình, ai có đi tham quan Bangkok thường có dịp
đị thưởng ngoạn một làng du khách đặt ở ngọai ô thủ đô Thái Lan.
Ở đó mỗi giờ có màn trình diễn sống trận giặc giữa hai bộ lạc
lân cận. Họ dùng voi xả láng. Hai bà Trưng, bà Triệu, các vị anh
hùng giành độc lập tại nước Nam vẫn thường cưỡi voi ra trận mạc.
Theo [31] tới đời nhà Lý vẫn có căng thẳng giữa thiên triều bên
Tàu với chính quyền nước Nam ở chỗ Tàu đòi cống hiến voi để họ
tế lễ, nhưng người nước Nam không thuận bởi họ xem voi như thần.
|