|
1.
Chuyện Âu Cơ - Lạc Long Quân là một
chuyện di tản hằng khối, hoặc chuyện cố gắng hợp chủng, của hai
chi chủng Thái (Âu) và Việt (Lạc), đều có mặt tại địa bàn nước
Sở thời xưa. Hợp tác, hợp chủng để cùng chống lạì chủng Hoa.
Nhưng cuối cùng ước mơ không thành và đành phải chia tay.
2.
Truyền thuyết này bắt nguồn từ một
truyền tích cổ của người Mường. Bối cảnh thật sự của câu truyện
được dựng chung quanh nước Sở ở thời Xuân Thu Chiến quốc bên
Tàu. Sở, trước khi bị nước Tần thôn tính vào năm 221 TCN, bao
gồm hai tỉnh Hồ Nam và Hồ Bắc ngày nay, và chung quanh Hồ Động
Đình, lan rộng đến bờ biển phía Đông.
3.
Truyền thuyết Âu Lạc, như đã đề cập ở
bài 1 (Hùng Vương mang hai giòng máu), và khác với bản Mường, có
một đọan Fast Forward (quay nhanh), khiến người Việt, kể cả
những nhà khảo cứu, thường không để ý đến, hoặc bỏ sót. Đó là
đoạn Đế Minh bắt chuyến máy bay China Airlines 2879 TCN
đi 'tuần thú' phương Nam. Thời Đế Minh, khoảng cuối thiên niên
kỷ thứ 3 trước Công Nguyên, Hoa chủng nguyên thủy không biết gì
đến các địa danh như châu Kinh và Dương (cho ra tên Kinh Dương
Vương), rặng Ngũ Lĩnh, Động Đình Hồ,... Bởi đó là những địa
danh, nhân danh của nước Sở, chỉ được thành lập ngót 2000 năm
sau khi Đế Minh ra đời (khoảng năm 1000 TCN). Toàn bằng chữ Tàu
ròng và chỉ có vào thời Xuân Thu Chiến Quốc (770-221TCN). Đặc
biệt, diễn biến câu chuyện từ khi Kinh Dương Vương xuất hiện,
hoàn toàn xảy ra sau năm 1000TCN. Tức chuyện Âu Cơ và Lạc Long
Quân chỉ là chuyện di tản hai chủng Âu và Lạc xuống đồng bằng
Bắc Việt khi sức ép khủng bố của chủng Hoa nguyên thủy quá sức
dữ dằn.
4.
Người Sở có gốc chủng Thái. Người Mường
cũng vậy. Và rất nhiều bộ tộc Mường khởi xuất di tản từ Sở, vào
thời loạn lạc của Đông Chu liệt quốc. Họ chạy xuống phía Nam,
hội nhập với đồng chủng tại các xứ ven biên giới Việt Hoa
ngày nay như: Tây Âu (tức Âu Việt) và Điền Việt (tức Nam Chiếu).
Rồi sau đó theo với truyền thuyết, và cũng theo cổ sử Tàu, đặc
biệt quyển Hoài Nam Tử của Liu An, họ vẫn bị quân Tần rượt bén
nút.
5.
Bắt đầu của truyền tích: 'Đế Minh cháu
3 đời của vua Thần Nông' đã gây ra lộn xộn, và bao hiểu nhầm,
suốt 600 năm qua. Mục đích của việc kéo Thần Nông vào truyền
tích chỉ ở chỗ cho người Hoa biết dân Việt cũng phát xuất cùng
thời với chủng Hoa. Thật ra, trong lối cấu tạo truyện thần
thoại, không có cách nào khác hơn là việc đưa Thần Nông vào câu
chuyện. Các tác giả cũng đã biết rõ, Thần Nông, nếu người thật,
thuộc chủng Yueh (gồm Thái và Việt), chứ không phải chủng Tàu.
Bởi, như chúng ta sẽ thấy phía sau, Thần Nông, Đế Minh, Đế Nghi,
v.v. đều là 'dân' Sở, với khối Yueh làm chủ lực. Không có DNA
hay giọt máu Tàu nào trong người hết.
6.
Thần Nông nên được xem như một biểu
tượng, cho biết dân đó xứ đó thời đó đã tiến lên sinh sống bằng
canh nông. Thần Nông, người Tàu đã nhận bá vơ là một trong những
ông tổ của họ. Và đây chính là chỗ đã gây ngộ nhận trong giới
nghiên cứu Việt Nam, suốt mấy thế kỷ qua. Sự thật, Thần Nông,
nếu người, lại là người Sở chủng Yueh (chi Thái). Bởi ngày nay,
tại Hồ Bắc có rất nhiều tượng thờ Thần Nông. Có tượng mang đầu
sừng trâu. Và Hồ Bắc chính là địa bàn chính và ban đầu của nước
Sở thời xa xưa. Ngoài ra, tại Việt Nam, nhiều bộ tộc Mường hãy
còn thờ Thần Nông như thánh tổ nghề nông [1]. Rất có khả năng,
do đó, nhiều bộ tộc Mường đã di tản từ khối Yueh ở nước Sở.
7.
Nếu xem tên các nhân vật như biểu tượng
- ta sẽ thấy thật rõ:
-
Kinh Dương Vương: chỉ dân châu Kinh và
châu Dương, đều là hai châu chính của nước Sở. Đất Kinh bao gồm
dân chủ lực thuộc chủng Âu (tức Thái). Đất Dương nằm về phía
Đông của đất Kinh, chứa dân Việt chi Lạc. Châu Dương bao gồm
vùng đất Sở chiếm về sau này ở vùng ven biển: nước U Việt (Câu
Tiễn) và nước Ngô (Phù Sai).
-
Âu Cơ: tiêu biểu cho nhóm dân tộc hãy
còn theo Mẫu Hệ. Nhóm người Âu (Thái) ưa sinh sống ở miền núi
rừng. Rất rõ 'Âu Cơ' mang họ 'Âu' của chủng Âu hay người nước
Tây Âu. Bản Mường cho Âu Cơ mang tiền kiếp con nai đốm sao, cũng
loại thú sống miền rừng núi. Bản Việt ám chỉ Âu Cơ chính là
tiên, viết theo chữ Hán chính là 'người xuất hiện trên núi':
'người + núi' = nhân (ren) + sơn (shan):
仙
(
仙
=
人
+
山
=> tiên = nhân + sơn)
đã xác nhận rõ ' Âu Cơ' là dân miền núi rừng, tức chủng Thái cổ
hay Mường. 'Âu' trong 'Âu Cơ' cũng khẳng định bà 'Âu Cơ' mang
trong người máu và DNA của chủng Âu, tức Thái. Nước có chủng
Thái (Âu) bị tiêu diệt trễ hơn Sở chính là Tây Âu, đại khái nằm
ở địa bàn Quảng Tây ngày nay.
-
Bởi
cái tên 'Kinh Dương Vương' có chứa chữ 'Dương', chỉ đất Dương,
tác giả truyền thuyết mới dựng nên được một nhân vật chủng Lạc
(Việt) mang tên Lạc Long Quân. Lạc Long Quân, với họ Lạc, tên
lót ‘Long’, tức rồng chỉ dân miền đồng bằng gần sông biển.
Tiêu biểu cho chủng Lạc (Việt). Đây có thể là điểm 'tuyệt
chiêu', hoặc nói cho nôm na, 'sâu sắc', của các tác giả truyền
thuyết, chứng tỏ tác giả đã không để một sơ sót về hồ sơ chủng
tộc của Lạc Long Quân. Bởi nếu cho cha của Lạc Long Quân mang
tên không có chữ 'Dương' trong đó, như 'Kinh Vương' chẳng hạn -
vấn đề sẽ đổ vỡ ngay tại chỗ, bởi đất Kinh chỉ có chủng Thái chủ
lực mà thôi. Đất 'Dương' mớí có chủng Lạc [30]. Muốn cho chắc ăn
hơn, tác giả cho thêm họ LẠC vào tên 'Long Wang' từ bản nguyên
thủy của Mường, thành Lạc Long Quân, để nhấn mạnh y có máu và
DNA của chủng Việt (Nam). Do ở chỗ tác giả đã bao gồm 'Dương'
trong tên 'Kinh Dương Vương', việc cho Lạc Long Quân mang máu
Lạc 100% mới được hợp lí . Về sau, để ý đến tên hiệu An Dương
Vương của Thục Phán. 'An Dương' có thể mang nghĩa 'trị an xứ
Dương', ám chỉ một người chủng Âu (tức Thái) trị AN được xứ
DƯƠNG của chủng Lạc.
8.
Hôn nhân giữa Âu Cơ và Lạc Long Quân là
thứ hôn nhân của hai người dị chủng, một thứ 'tình không biên
giới', biểu tượng cho thí nghiệm hợp chủng giữa Âu và Lạc, qua
chuyện di tản thuở ban đầu của dân chúng ở hai châu Kinh (Thái)
và Dương (Việt), chạy trốn sức ép của vua quân nước Chu, nước Sở
(chuyên đi dẹp các đám rợ), nước Tần, ... HOẶC qua việc Thục
Phán, người chủng Âu chiếm xứ Lạc và lập nên nước Âu Lạc. Hay
biểu tượng cho việc Triệu Đà sát nhập miệt dưới của xứ Âu Lạc,
gồm đa số chủng Lạc, với đất Nam Việt thuở ban đầu bao gồm phần
lớn Quảng Đông, thuộc chủng Âu, tức Thái. Hợp chủng Việt với
Thái theo truyền thuyết có thể xảy ra từ lúc hai chủng còn sinh
sống bên nhau ở nước Sở, qua các địa danh và nhân danh như: Hồ
Động Đình, Ngũ Lĩnh, Kinh Dương Vương (châu Kinh hợp với châu
Dương), Thần Nông (vị thần có đầu mang sừng tlu (trâu), hiện còn
được thờ tại Hồ Bắc, tức Sở ngày xưa),…
9.
Truyền thuyết, cả Mường lẫn Việt, nói
rất rõ vợ Âu Cơ và chồng Lạc Long Quân thuộc hai chủng tộc khác
nhau: Âu Cơ chủng tiên hay nai có đốm sao, Lạc Long Quân, giống
rồng hay cá. Ở nhau lâu dài không đặng. Nên đành phải chia tay.
Nàng Âu dẫn 50 con đi về quê thật sự của mình: tức miền rừng
núi. (Để ý cả ‘tiên’ lẫn ‘nai’ đều là biểu tượng của rừng núi).
Trong khi chàng Lạc dẫn con xuôi về miền đồng bằng gần sông gần
biển (giống rồng hay cá đều có môi trường sinh sống là nước).
10.
Cuộc chia tay giữa vợ Âu và chồng Lạc nói thật rõ: chủng nào nên
trở về địa bàn sinh sống nguyên thủy của chủng ấy. Trên thực tế,
chúng ta đã thấy người Hán sau khi xâm chiếm toàn cõi Hoa Nam đã
tách nước Nam Việt thành 2 phần: phía Bắc gọi Quảng Châu bao gồm
toàn dân Âu tức Thái. Phía Nam gọi Giao Châu với thành phần chủ
lực là dân Lạc, tức Việt. Quảng Châu có rất nhiều núi rừng thích
hợp với dân Âu. Giao Châu trở thành nơi tụ tập hoặc tiếp nhận
dân Việt chủng Lạc, thích địa bàn gần sông gần biển.
11.
Ngay tại địa phận Giao Châu, những người gốc Âu (Thái) cũng cảm
thấy việc hợp chủng có mòi thất bại, và cũng theo truyền thống
can cường xưa cũ không chịu được thế lực đô hộ Bắc phương, nên
một số lại di cư về miền rừng núi. Lâu ngày họ trở thành người
Mường. Người chủng Lạc (Việt), cùng với một số chủng Âu, ở lại
miền đồng bằng châu thổ, trở thành người Kinh. Đó là ý nghĩa của
Âu Cơ dẫn nửa đám con lên núi, và Lạc Long Quân đưa con xuôi về
miền sông biển, của cả hai truyền thuyết Việt lẫn Mường.
Tên bà Âu Cơ cũng là
một tên của người gốc Sở. 'Âu Cơ' đọc theo quan thoại là /Yu ji/
hay có khi /Ou ji/. Và theo Quảng Đông chính là /Ngu Kơ/. Độc
giả các truyện Tàu chắc còn nhớ Tây Sở Bá Vương Hạng Yũ (Xiang
Yu) vào đêm cuối cùng khi đại bại bởi Lưu Bang, đã được một
người ái cơ họ Ngu (có phát âm như /Yu/ theo kiểu
quan thoại) múa kiếm để giải sầu. Người Hoa có thể gọi người ái
cơ đó là 'Ngu Cơ'
虞
姬
[7], nếu đọc theo lối phát âm Quảng Đông (và...Mường) y hệt như
'Ngu Cơ' dùng để gọi bà 'Âu Cơ'
嫗
姬
.
(Xin xem bài Ai= I= Tôi [8]).
(iii) Những chủng
tộc cư dân tại nước Sở
Xác định được chủng
tộc chiếm đa số ở nước Sở gần như giải quyết được một vấn đề khá
gút mắt trong việc tìm hiểu cội nguồn của người nước Nam.
Xin nhắc lại vào
khoảng đầu thiên niên kỷ trước Công Nguyên vua Thành Vương nhà
Châu phong đất cho một số đại thần ở những vùng đất nổi tiếng có
nhiều 'rợ' để bình định và cũng để ngăn chận sự quấy phá của đám
người này. Con ông Châu Công, tức người có công lớn phát triển
văn minh Hoa Hạ, được phong đất Lỗ (theo với truyền thống, nước
Lỗ sau này sản xuất được Khổng Tử). Lã Vọng được thưởng công
bằng đất Tề (tỉnh Sơn Đông ngày nay), nơi nổi tiếng với đám Đông
Yi. Hùng Yịch được phong đất Kinh Man, tức Sở sau này. Và các
đại thần khác lập nên nước Yên, nước Tống, v.v. (thí dụ: xem
[6]).
Tên vùng đất nguyên
thủy của Sở là Kinh Man hay Kinh Cức, hoặc Kinh Việt, có rất
nhiều rợ... Việt, tức Yueh [4] [6] [20], sinh sống. Dân nước Sở
được nổi tiếng rất thô bạo và ... mọi rợ. Ở mặt khác cũng có
nhiều bài viết dựa trên những quyển cổ sử Tàu như Sử Ký, Xuân
Thu, Tả Truyện, Chiến quốc sách, v.v. cho biết nước Sở bắt đuổi
theo văn minh Hoa Hạ rất nhanh [6]. Cung điện vua Sở thời Trang
Vương nguy nga tráng lệ hơn của nhà Châu rất xa. (Để ý lâu đài
và chùa chiền khá nguy nga ở Thái Lan ngày nay). Những khai quật
tại địa bàn nước Sở ngày xưa cho thấy những ngôi mộ của những vị
vương tước (như mộ của Tử tước Yi) chứa nhiều đồ đồng hơn mộ vua
chúa đời Châu đời Thương. Đặc biệt có rất nhiều đồ vật sơn mài
và hàng tơ lụa rất đẹp [22]. Theo một số websites đồ sơn mài vào
thời đó trị giá cao hơn đồ đồng rất xa. Về văn học, Khuất
Nguyên, tác giả của áng thi văn nổi tiếng Ly Tao và Cửu Ca, viết
theo kiểu Sở Từ, cũng là người nước Sở, thời Sở Hoài Vương [27].
Sau này Sở Bá Vương Hạng Yũ và Liu Bang, người thiết lập nên nhà
Hán huy hoàng, cũng gốc người nước Sở mở rộng (tỉnh Giang Tô bây
giờ) [23].
Rất nhiều tài liệu
(thí dụ [20][24]) vạch rõ tiếng nước Sở trong thời mới lập quốc
rất khác với tiếng Hoa mà Khổng Tử, Mạnh Tử thường dùng. Tư Mã
Thiên có viết trong Sử Ký: 'Người nước Sở họ Mị, người nước
Việt họ Tự' (xem [4]). Điểm này cũng dễ bị lầm. Tác giả
quyển Mã Lai [4] cũng như rất nhiều nhà khảo cứu Việt lầm Mị ở
đây là Mị Nương. Mị là Mệ, dùng để chỉ phụ nữ, theo họ Mẹ, của
mẫu hệ. Sự thật, theo trích dẫn của nhóm nghiên cứu tại đại học
Massachusetts [24], 'Mị' thật ra là 1 trong 5 từ hiếm hoi thuộc
tiếng Sở ròng, may mắn còn sót lại cho đến ngày nay
'Mị' trong tiếng Sở
mang nghĩa 'con gấu'. Tiếng Hán đọc kiểu Việt chính là: HÙNG.
Bởi vậy tất cả hai mươi mấy đời vua chuá nước Sở đều mang họ
Hùng: Hùng Yịch, Hùng Cừ, Hùng Thông, Hùng Sì, .v.v. Mặc dù về
sau, sau vụ Hùng Thông tự ý xưng vương (tức Sở Vũ Vương), các
con cháu kế vị vẫn giữ họ Hùng. Đó là lối gọi họ của dòng vua
chúa nước Sở theo tiếng Hoa. Chứ theo tiếng Sở đó là MỊ:
'Người nước Sở họ Mị, người nước Việt họ Tự'. Đúng y như sử
gia đầu tiên của Á Châu, Tư Mã Thiên đã ghi lại. Nước Việt ở đây
là U Việt của Tây Thi.
Như vậy đối với lê
dân nước Sở, lãnh tụ của họ thường xưng là 'Vương' và mang tên
giòng họ là 'Hùng', 'phiên dịch' thẳng từ tiếng Sở: 'Mị'. 'Hùng
Vương' của thời Hồng Bàng nước Việt, do đó có thể là sản phẩm
của trí tưởng tượng của dân nước Sở sau khi đã di dân đến miền
đất khác, trong hồi ức với ngày xưa, ở vài thế kỷ sau.
Trở lại vấn đề truy
tầm tiếng Sở, ta thấy ngay nếu tìm ra được tiếng chủng nào hiện
nay có từ nào mang âm gần giống với /Mị/, và mang nghĩa 'con
gấu' sẽ giải quyết dứt khoát dân của chủng nào đã là dân 'chủ
lực' của nước Sở thời xa xưa. Rất tiếc trang web của nhóm nghiên
cứu đại học Massachusetts chỉ cho biết tiếng Lào (cũng chủng
Thái) có từ chỉ gấu là /Hmị/. Và tiếng Thái, chính là /Mik/.
Ngoài ra, cũng có một hai mạng đặt giả thiết có thể người Hmong
(tức Miêu) đã là chủ nhân nước Sở. Rất may, chúng tôi sưu tầm
được đầy đủ các từ tiếng Thái, tiếng Mã Lai, tương đương với các
từ hiếm của tiếng Sở, và xin trình bày trong bảng đối chiếu như
sau:
NHỮNG TỪ THUỘC TIẾNG
SỞ CÒN SÓT LẠI (trích từ [24])
|
SỞ |
VIỆT |
ENGLISH |
THÁI |
MALAY |
HMONG |
GHI CHÚ |
|
Mị |
Gấu |
Bear |
Mee (mii) |
Beruang |
Dais |
Sở = Thái |
|
Guk |
Bú |
Suckle |
Duut (đút) |
MenyeDUT |
Nqus |
Sở ::
Thái::Malay |
|
Mik |
Mặt trời |
Sun |
Aathit |
MATahari |
Hnub
|
Sở= Việt=
Malay :: Thái |
|
Glap |
Gươm |
Sword |
Krabee |
Pedang |
Ntaj |
Sở = Thái ::
Việt |
|
U tu
|
Cọp (hổ) |
Tiger |
Suea |
Harimau |
Tsov txaij |
Sở :: Thái |
Chú thích:
(i)
Dấu '=' mang nghĩa:
‘rất giống âm’. Dấu '::' chỉ: ‘có âm gần gần giống’
(ii)
5 từ còn sót lại của
tiếng Sở được trích dẫn từ trang mạng của một nhóm nghiên cứu
tại đại học Massachusetts ở Boston (Mỹ):
umass.edu/wsp/tools/languages/Chu/history.html.
(iii)
Để ý tiếng Việt cũng
dùng 'ĐÚT' nhưng mang nghĩa khác, 'mớm ăn' spoon feed. Không
phải 'Guk' như tiếng Sở, hay 'Duut' như tiếng Thái, mang nghĩa
'Bú'. 'Guk' tiếng Sở phiên âm ra như 'Cấu' - xem Đông Chu Liệt
Quốc, sẽ thấy tên một vị tướng Sở: 'Đậu Cấu Ô Đồ'
(iv)
Bởi cũng có một vài
giả thuyết cho rằng người Hmong (tức Miêu) là hậu duệ của dân Sở
- nên chúng tôi đã truy cập tại địa chỉ:
ww2.saturn.stpaul.k12.mn.us/Hmong/sathmong.html để trích ra
các từ Hmong tương ứng với 5 từ thuần Sở này. Kết quả cho thấy
tiếng Hmong có vẻ ít máu bà con với tiếng Sở nhất. Để ý: người
Hmong xưng 'tôi' bằng /Kuv/. Có lẽ người Quảng Đông vay mượn
/kuv/ của người Hmong và biến sang ngôi thứ 3: /koi/ = nó, cô
ấy,...
(v)
Kết quả cho thấy rõ:
Tiếng Thái giống tiếng nước Sở nhất. Do đó, thành phần Yueh
(Việt) chủ lực ở nước Sở thời mới lập quốc chính là chủng THÁI.
Đây là một trong những đóng góp chính của bài.
(vi)
Để ý tiếng Mã Lai:
Hari = ông Trời. Mat => Mặt. Do đó, Mặt Trời => MATaHari (Mã
Lai). “Mặt’ của tiếng Việt, rút tỉa một phần từ /Myịện/ của một
phương ngữ Trung Hoa (xem loạt bài ‘Từ chữ Nôm’ [25]), một phần
từ tiếng Mã Lai, y hệt: /Mat/ như trong ‘Matahari’. Để ý thêm,
tiếng Mã Lai gọi 'cọp' bằng 'HariMau' (Trời+Cọp). Cọp => Harimau
(ông trời Cọp!) - cũng có ít nhiều tính chất ngôn ngữ Việt Nam.
(vii)
Đa số những từ cổ Sở
này được gạn lọc từ những quyển cổ sử Tàu như: Xuân Thu, Sử Ký,
Tả Truyện, v.v. Riêng cái tên 'Đấu Cấu Ô Đồ' chính là tên của
một tướng nước Sở có trong bộ truyện 'Đông Châu Liệt Quốc'. Bản
dịch của Nguyễn Đỗ Mục (Nxb Văn Học, Hànội) có ghi: Cấu = Bú, Ô
Đồ = Cọp. Ông tướng Ô Đồ này hồi còn nhỏ bị bỏ rơi trong rừng,
sống và lớn nhờ bú sữa cọp. Trong 'quyển Mã Lai', Bình Nguyên
Lộc, tác giả đầu tiên, đã chú ý đến vấn đề này, nhưng không hiểu
rút tài liệu từ đâu, ông ghi lộn 'Ô Đồ = bú sữa' => rồi liên kết
với /Susu/ của tiếng Mã Lai, và 'Nậu = Cọp', (thay vì 'U tu'),
rồi kết với 'HariMau', tiếng Mã Lai. Mặc dù dùng dữ kiện
hơi sai trật (Nậu= cọp, thay vì đúng ra: U Tu), và quá chú tâm
đến tiếng Mã Lai, nhưng Bình Nguyên Lộc cho thấy ông đi trước
các nhà khảo cứu Mỹ cũng vài chục năm.
Chúng ta thấy khá rõ
từ bản đối chiếu trên chủng Thái chính là thành phần lê dân chủ
lực của nước Sở vào thời xa xưa. Và cũng từng là cư dân của các
khu vực như: Tứ Xuyên (Thục), Quí Châu (Dạ Lang), Vân Nam (Điền
Việt), Lưỡng Quảng (Tây Âu). Còn những chủng nào ở tại Sở hay
không? Muốn biết xin tra cứu trên mạng, về tỉnh Hồ Bắc (Hubei)
và Hồ Nam (Hunan), cũng như nước Sở, theo pinyin quan thoại là
'Chu'.
Đai khái có vài ba
nhóm người dân tộc hiện vẫn còn cư ngụ tại địa bàn nước Sở xưa.
- Người Thổ gia
(Tujia): Có giả thuyết cho họ xuất thân từ đám Rợ đen (Wu Man) ở
phía Nam Hồ Nam. Cũng có giả thuyết cho họ là hậu duệ của người
nước Ba ngày xưa. Nước Ba nằm cạnh nước Thục ở khu vực Tứ Xuyên
ngày nay. Phía Tây của Hồ Nam và Hồ Bắc. Cũng có thể họ là một
trong đám rợ Tây Nhung hay Khuyển Nhung, đã đánh phá nhà Tây Chu
khiến vua Chu thiên đô về Đông vào khoảng năm 770 TCN. Ít có khả
năng nhóm người Thổ gia lại chính là hậu duệ dân Sở. Bởi họ từ
các khu vực khác di cư đến, và những nếp sống của họ khác xa với
dân Sở. Ngôn ngữ của họ giống Hoa ngữ hơn Sở ngữ. Với hình dung
từ đi trước danh từ, chứ không phải theo kiểu Thái - Việt, và Sở
(như Thần Nông). Dân Sở - tuy gốc rợ - nhưng đuổi kịp mốt Hoa Hạ
rất nhanh.
- Người Hmong (tức
Miêu [26]): Bình Nguyên Lộc [4] viện dẫn nhiều lý do để bác bỏ
chủng Miêu là nguồn gốc dân Việt Nam. Trong đó có: (i) sọ người
Miêu có chỉ số khác người Hoa và người Việt; (ii) Nếp sống, cho
đến ngày nay, vẫn còn dựa trên chăn nuôi săn bắn hơn là trồng
lúa, làm rẫy; và (iii) Ngôn ngữ của họ không giống tiếng Việt
chút nào, như đã kiểm chứng phía trên. Một vài trang mạng cho
biết có giả thuyết cho rằng người Tàu cóp chữ viết của Hmong tộc
và tạo ra Hán tự. Gần đây trên báo mạng Viễn Du [26], Trần
Trúc-Lâm có cho một bài về người Miêu tại Trung Hoa và Việt Nam.
- Nhiều chủng
khác, rất khó là chủng chủ lực tại Sở, như: Đồng, Yao (thường
xem như một chi của Hmong), Lo Lo, v.v.
- Và chủng Việt
chi Lạc (tức Việt nam cổ), cũng đã có mặt tại nước Sở. Nhưng
không phải là thành phần chủ lực đa số. Và họ rất dễ hoà chủng
với dân Thái chủ lực, bởi Thái và Việt cổ chỉ là hai chủng lớn
của Yueh mà thôi. Rất giống nhau ở cổ thời. Chắc chắn chủng Việt
cổ (Lạc) đã có mặt chung quanh nước Sở, nhất là các nước nhỏ ở
chung quanh, như: nước Quân, Dong, Trịnh, Trần,... Và hai nước
thật lớn ở ven biển là Ngô (Hạp Lư & Phù Sai) và Việt (Câu
Tiễn). Chủng Lạc còn có một nhóm không có đất nước gì hết, nhưng
'nay chỗ này mai chỗ nọ' y như dân du mục, thường gọi Bách Bộc
hay Bộc Yiệt [4] [12] [20]. Để ý, theo [12] viết dựa trên các
quyển cổ sử Tàu, ban đầu nước Sở ưa liên minh với các nước cùng
chủng như nước Thái (vâng, có nước gọi tên thẳng là Thái chỉ
chủng Thái (hay Âu)), để đi đánh các nước chư hầu khác. Đến một
hai trăm năm sau, vào khoảng năm 500 TCN, Sở có vẻ được Tàu hoá
kỹ rồi nên bắt đầu đấm đá với các khối chủng Yueh (trong đó có
nước Thái và đám Bách Bộc), và gọi họ là đám giặc Man.
Chủng Lạc đặc biệt
tập trung rất đông ở phía Đông của Hồ Động Đình, kéo ra tận
biển. Đó chính là 'châu Dương' bao gồm các vùng đất chiếm được
của hai nước Ngô và Việt.
TÓM TẮT: Cư dân chủ
lực của nước Sở ở thời Xuân Thu Chiến quốc bên Tàu, trước khi
được Hoa hoá, chính là dân thuộc chủng Thái, hỗn hợp với dân
chủng Hoa từ các nơi khác (như nước Châu chẳng hạn) di cư đến.
Đặc biết đám Bộc Việt (thuộc chủng Lạc) có mặt ngay tại nước Sở.
Và cư dân của vùng đất Sở đã chiếm được từ Ngô và Việt. Vùng đất
mới này thường được gọi Châu DƯƠNG.
|