|
Thử đọc lại truyền thuyết Hùng Vương
(4): Nước Văn Lang
Nguyên Nguyên
TÓM TẮT
Trong bài này, chúng ta đã thử quan sát một vài sự kiện thực tế
để tìm giải đáp cho câu hỏi: 'Nước Văn Lang có thật hay không?
Nếu có, lãnh thổ Văn Lang đã rộng đến đâu?'
Tiện dịp chúng ta đã tóm tắt ghi lại những lý giải có vẻ có chất
lượng nhất cho một cái tên nước toàn dùng tiếng Tàu ròng trên
một vùng đất trước đó, những người sinh sống không hề biết đến
một chữ Tàu. Và cũng thuộc nhiều chủng khác nhau. Những ý niệm
về nước nhà và nhà nước cũng được xem qua, và chúng ta đã phát
hiện thêm hai thành tố quan trọng đã tạo nên toàn bộ năm (5)
điều kiện cần và đủ để một thực thể có thể xem đã tiến tới hình
thái quốc gia và nhà nước, nhất là vào thuở cổ thời. Đó là: Con
ngựa và chữ viết. Năm thành tố, tạo nên một tập hợp các điều
kiện cần và đủ cho hình thành của 'nước', là: (1) Lãnh thổ; (2)
Dân tộc, (3) Chính quyền (triều đình), (4) Con ngựa, và (5) Chữ
viết. Hai thành tố sau (4) và (5) phải có mới có thể quản lý
sinh hoạt và điều động được tổ chức quốc gia. Cũng chính nhờ hai
thành tố này, chủng Hoa đã tiến nhanh tiến mạnh đến việc hình
thành nước nhà và nhà nước, để rồi sau khoảng 800 năm nhất thống
được cả lục địa phía Bắc sông Dương Tử. Sau khi nhất thống, nhà
Tần, tiếp theo bằng nhà Hán đã tiến chiếm trọn miền Hoa Nam
(Lĩnh Nam), rất thần tốc như thế chẻ tre. Nguyên do chính: Khối
Bách Việt ở Hoa Nam vào thời đó còn rất nhiều lủng củng trong
cách thức tổ chức xã hội. Nhất là 5 thành tố cần và đủ kể trên
vẫn chưa đạt được đến một góc, một phần nhỏ của hình thái ở miền
Hoa Bắc. Khối Bách Việt cũng không có kinh nghiệm xương máu của
chính trị, chiến tranh và hoà bình, như Hoa Bắc trong suốt hằng
trăm năm Xuân Thu Chiến Quốc.
Trong bài tới, chúng ta sẽ thử vạch ra một mô hình để nhận diện
lại ý niệm về nước trong khối Bách Việt. Đặc biệt sẽ thử xem
nước Văn Lang, nếu có, đã có thể rộng đến đâu.
Ghi Chú
[1] Nguyên Nguyên (2005) 18 đời vua Hùng Vương: Một ý niệm về
liên tục. Xem khoahoc.net, aihưucongchanh.com, honque.net. v.v.
[2] Trần Trọng Kim (
1971) Việt Nam Sử Lược. Trung Tâm Học Liệu của Bộ Giáo Dục xuất
bản. Đại Nam tái xuất bản tại Hoa Kỳ.
[3] Ngô Sĩ Liên và
cộng sự (1497). Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. Thanh Việt và Phạm Ngọc
Luật hiệu đính theo bản dịch của Đào Duy Anh. Nxb Văn Hoá Thông
Tin (2004). Bản của Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam được trình bày
đầy đủ trên mạng internet: perso.wanadoo.fr/charite
[4]
Jeanne Cuisinier (1946) Les Mương – Géographie Humaine et
Sociologie. Institut d’Ethnographie. Paris
[5]
Đọc sử 'nước' Chăm (thí dụ [6]) chúng ta thấy cho đến thế kỷ thứ
7 sau Công Nguyên, 'nước' Chăm hãy còn bao gồm rất nhiều tiểu
vương quốc trong một dải đất rất hẹp. Đừng nói chi đến nước Hồ
Tôn ở thời huyền sử.
[6]
Ngô Văn Doanh (2003) Văn hoá cổ Champa. Nxb Văn Hoá Dân Tộc.
[7]
Khuyết Danh (1377-1388) Đại Việt Sử Lược. Bản dịch của Nguyễn
Gia Tường. Nhà Xuất Bản Thành Phố HCM. Bộ Môn Châu Á Học Đại Học
Tổng Hợp TP.HCM.
[8]Phụ
đạo viết theo
辅 导
mang nghĩa người Thầy dạy học,
có thể Thầy dạy kèm con vua. Viết như
父 道
nghĩa: con đường của Cha, ‘đạo’
làm Cha, hoặc vai trò Cha Chú..
[9]
http://www.bsos.umd.edu/CSS97/papers/competin.html
http://www.slovak.sk/magazin_slovakia/496_Slovakia/history/history1.htm
http://repositories.cdlib.org/csd/03-09/
http://college.hmco.com/history/west/mosaic/chapter13/source388.html
http://en.wikipedia.org/wiki/List_of_countries_by_date_of_nationhood
[10] Bình Nguyên Lộc (1971) Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt
Nam. Nxb Xuân
Thu (USA) tái bản.
[11] Keith Weller
Taylor (1983) The Birth of Vietnam. University of California
Press.
[12] Hoàng Thị Châu
(1969) Nước Văn Lang qua tài liệu ngôn ngữ. Nghiên cứu lịch sử
120. pp.37-48.
[13] Văn Tân, Nguyễn
Linh, Lê Văn Lan, Nguyễn Đổng Chi và Hoàng Hưng (1973) Thời đại
Hùng Vương. Nxb Khoa Học Xã Hội.
[15] Chuyện cổ tích
của miền Nam Cam-Bốt, tức địa bàn xứ Phù Nam xa xưa, vẫn đề cập
đến Bà Chúa Lá Dừa.
[16] Quyển 'Mã Lai'
của Bình Nguyên Lộc có dẫn chứng lịch sử cho rằng mỗi khi có
biến loạn tại nước Chăm, người hoặc binh lính Chăm ưa chạy về
đảo Hải Nam để tị nạn. Người Chăm và Hải Nam ở thời cổ đại có lẽ
có bà con hay ít lắm hiểu được tiếng nói của nhau.
[17] Nguyễn Hiến Lê
(1997) Sử Trung Quốc. Nxb Văn Hoá
[18] Đây cũng là một
điểm sử sách Việt dễ bị lộn xộn nhầm lẫn. Theo với những luận cứ
của loạt bài này, bộ lạc Việt Thường chỉ có thể là đám rợ chủng
Yueh ở lưu vực sông Hoàng Hà gần miền Sơn Đông (rợ Đông Yi). Rợ
Đông Yi tại Sơn Đông cũng có nhuộm răng, xâm mình y hệt như dân
Lạc Việt. Chỉ có đám rợ này mới có thể đi đến Kiểu Kinh, kinh đô
Tây Châu nằm trong tỉnh Thiểm Tây ngày nay. Không có cách gì bộ
tộc Việt Thường nằm ở Hoa Nam hay khu vực Bắc Việt được bởi ở lí
do đường xá xa xôi và phải xuyên qua hàng ngàn bộ lạc rợ khác ở
miền Hoa Nam. Và chuyến đi giao hảo xa xôi như vậy hoàn toàn
không cần thiết. Theo thiển ý, chính ở chỗ có một bộ tộc Việt
nào đó muốn tặng vua nhà Châu con chim Trĩ, nên từ đó người Hoa
gọi thứ chủng Lạc đã tính tặng họ con chim Trĩ đó là chủng Lạc
viết theo bộ Trĩ (còn gọi Trãi): Lạc bộ Trãi ở miền Sơn Đông,
Giang Tô và Chiết Giang ngày nay:
貉 phân biệt
[10] với Lạc bộ Chuy chỉ dân Môn và Miến Điện
雒 , Lạc bộ
Mã
駱
chỉ dân Mân Việt ở
Phúc Kiến, và Lạc bộ Khương
羌各 tiền
thân của dân Khmer. Hy vọng sẽ trở lại vấn đề này vào một dịp
khác.
[19] Rất nhiều quyển sách sử Việt Nam (xem [2], [3], [7]) đều
trích một đoạn, chắc chắn do những quan từ Bắc Phương soạn giúp:
Ở thời cổ đại xa xưa, vua Tàu có biết đến một xứ Giao Chỉ hay
Việt Thường nào đó, và họ chia sẵn xứ đó ra thành 15 Bộ. Bí quá
họ viết tiếp thêm tên 15 bộ bằng tiếng Hán ròng, dựa trên tên
các quận huyện ở đời sau, tức những tên họ đặt ra cả trăm năm
sau khi thiết lập được thể chế đô hộ lên xứ sở của người nước
Nam. Các vị sử gia Việt vội vã ‘Việt Nam hoá’ cho rằng chính
Hùng Vương đã phân chia ‘nước’ ra 15 bộ rồi đặt tên toàn bằng
chữ Hán ròng, cho 15 bộ đó.
[20] Nguyên Nguyên
(2004) Từ chữ Nôm đến quốc ngữ. Toàn bộ 8 bài. Có trên các web:
Khoahoc.net, Aihưucongchanh.com, Honque.net.
Trở về Trang Chính |