|
Viết xong 3 bài Hùng
Vương, chúng tôi định nghỉ xả hơi một thời gian. Nhưng, bất cứ
độc giả nào đều có thể thấy vẫn còn rất nhiều vấn đề chưa được
giải quyết thỏa đáng, hoặc giải thích với ít nhiều sức thuyết
phục, trong cái thuyền thuyết hết sức đồ sộ này. Cộng vào đó một
nỗi tức bực vì phải làm công việc khá cực nhọc, có thể đưa đến
'tẩu hỏa nhập ma' như chơi, mà đáng lẽ nhiều vị tiền bối hay
đương thời phải giải quyết từ lâu. Tuy nhiên, công việc giải mã
đó đã đem lại không ít hứng thú cho người viết. Bởi thật sự viết
lại được ý nghĩa của truyền thuyết dựa trên hiểu biết về văn
minh Hoa và Việt, nhất là Hoa, cũng giống như việc thu lại được
lợi nhuận sau bao nhiêu năm tốn tiền của và thì giờ, say mê xem
truyện Tàu, truyện chưởng Kim Dung, phim kiếm hiệp Hong Kong, và
những sách vở từ Đông sang Tây, đã đọc được và học được từ trước
đến nay.
(viii) Đọc lại sử
sách hoặc địa lý Trung quốc (thí dụ [4]) chúng ta sẽ thấy vùng
đất ở khu vực Trùng Khánh Tứ Xuyên, tức nước Thục cổ xưa với
chủng Thái chủ lực, gồm toàn đất ... đỏ. Như vậy, khá rõ, chủng
Hoa ngày xưa dùng chữ 'Xích địch' để chỉ đám rợ có da màu thổ
chu của đất đỏ.
Xin thử ghi lại các
sự kiện liên quan đến 'Xích Quỷ' ở trên:
- Tác giả chính
hay nguyên thủy của truyền thuyết là người Việt chủng Thái-cổ;
- Xích Quỷ là quốc
hiệu đầu tiên của truyền thuyết rồng tiên;
- Xích Quỷ mang
nghĩa chính: giống Rợ có da màu đỏ. Một thứ từ do Hoa chủng đặt
ra;
- Khối dân tộc chủ
lực của Xích Quỷ chính là dân chủng Âu, tức Thái cổ;
- Người Kha Lá
Vàng ở biên giới Việt-Lào có da màu thổ chu;
- Một số ngôi mộ
của người Việt-cổ đã khai quật cho thấy dấu vết của đất đỏ;
- Nước Thục, chủng
Thái, ở vùng Tứ Xuyên ngày nay, có rất nhiều đất đỏ;
- Thục bị Tần tiêu
diệt vào khoảng năm 316 TCN;
- Dân Thục chủng
Thái di tản sang Sở, và một số xuôi về Nam gia nhập cộng đồng ở
Tây Âu (tức
Âu Việt), Điền Việt (Nam Chiếu) và sau cùng, bình nguyên sông
Hồng.
Như vậy chúng ta có
thể tổng hợp lại như sau: Xích Quỷ chính là một 'nước' trong trí
tưởng tượng rất phong phú của các tác giả truyền thuyết - người
Việt thuộc chủng Thái-cổ hay thân-Thái-cổ. Những người 'lãnh
đạo' nước Xích Quỷ đó bao gồm những người di tản Việt chủng
Thái, xuất phát từ một xứ có nhiều đất đỏ mang tên Thục. Nước
Thục đã bị nước Tần tiêu diệt vào khoảng năm 316 TCN.
'Nước Xích Quỷ' do
đó được đặt ra và nhét vào truyền thuyết con rồng cháu tiên, để
tự an ủi việc mất lãnh thổ vào tay Hoa chủng - có lẽ khởi đầu
bằng nước Thục (316 TCN). Sau đó đến lượt nước Sở rồi Tây Âu.
Cũng có thể để ghi lại lý lịch ban đầu cho thật rõ: dân Việt có
nguồn gốc dân từ những nước đã bị mất về tay Hoa chủng. Đặc biệt
Thục và Sở.
Câu chuyện di tản do
ở chuyện mất nước kết thúc khi một người nước Thục mang tên Phán
(Thục Phán) lãnh đạo được đoàn người di tản - đa số xuất phát từ
những nước đã mất về tay Hoa chủng - đến vùng bình nguyên sông
Hồng và thiết lập nên xứ Âu Lạc, bao gồm hai chủng nòng cốt Âu
và Lạc. Đó cũng là lúc Âu Cơ thành hôn với Lạc Long Quân.
KẾT
LUẬN
Qua loạt bài về giải
mã truyền thuyết con rồng cháu tiên, đến đây chúng ta đã thấy,
mặc dù câu chuyện bắt đầu với Thần Nông, Đế Minh, và Đế Nghi -
nhưng đến lúc Lộc Tục xuất hiện với danh xưng Kinh Dương Vương,
câu chuyện đã bị 'fast forward' theo kiểu bấm nút cho băng video
quay nhanh sang đến thời Xuân Thu Chiến Quốc bên Tàu với địa
điểm xảy ra câu chuyện là nước Sở.
Nước Sở là một nước
được thành lập theo kiểu chư hầu phên dậu cho nhà Châu. Thành
phần dân chúng chủ lực của Sở chính là chủng Thái-cổ, thường gọi
Âu vào thời đó. Từ đó câu chuyện giới thiệu bà Âu Cơ, tiêu biểu
cho chủng Âu, con gái theo họ mẹ y như mô hình mẫu hệ. Nhân vật
Kinh Dương Vương cũng là một cái đinh của câu chuyện, bởi Kinh
Dương Vương biểu tượng cho những người dân ở châu Kinh và châu
Dương. Cả hai đất Kinh và Dương cũng đều thuộc nước Sở ở vào
thời cực thịnh trong thế kỷ thứ 4 trước Công Nguyên. Đất Kinh
còn gọi Kinh Cức hay Kinh Việt, hoặc Kinh Man. Kinh chỉ núi
Kinh, và Cức là một loại cây có gai ở vùng đó. Đất Kinh là địa
bàn ban đầu của Sở chứa đa số dân Việt thuộc chủng Thái. Đất
Dương nằm về phía Đông Nam của đất Kinh, ra tận tới biển, bao
gồm những vùng đất quân Sở đã thôn tính được từ đám dân Việt
chủng Lạc ở hai nước Ngô và Việt xa xưa.
Bởi trong tên Kinh
Dương Vương có chữ 'Dương', chỉ chủng Lạc tức Việt-cổ, con của
Kinh Dương Vương là Lạc Long Quân mới mang được huyết thống của
chủng Việt-cổ 100%. Phối hợp với Âu Cơ, chủng Âu tức Thái-cổ
100%. Hôn nhân giữa Âu và Lạc sinh ra 100 người con mang hai
giòng máu Thái và Việt. Cuộc hôn nhân dị chủng đầu tiên nổi
tiếng nhất của Á Châu đã nhằm vào mục đích nhất thống hai chủng
tộc lớn và kiên cường nhất của khối Bách Việt để chống lại chủng
Hoa rất hung hăn và dữ tợn. Cuối cùng đành phải thua, và hai
chủng dắt tay nhau thối chạy về phương Nam. Họ dựng 'nước' nhưng
rồi ý kiến bất đồng nàng Âu và chàng Lạc đành phải chia tay, đôi
ngả đôi ta. Mỗi người dẫn nửa đám con về trở lại địa bàn nguyên
thủy của chủng họ.
Việc chia tay giữa
Lạc Long Quân với Âu Cơ xảy ra cùng lúc với việc nhà Hán thừa
hưởng di sản 'tinh thần nhất thống và đế quốc' của nhà Tần, đưa
quân xuống tiến chiếm hết miền Hoa Nam, đặc biệt khối chủng Việt
(Lạc) ở vùng đồng bằng ven biển hướng Đông. Trong đó có phần đất
Dương của nước Sở xa xưa, nước Mân Việt (Phúc Kiến ngày nay), và
Nam Việt của Triệu Đà. Thế lực đô hộ sau đó tách rời phần đất
chủng Âu (tức Thái-cổ) ra khỏi vùng đất chủng Lạc (tức Việt-cổ).
Rồi ở tại nước Âu Lạc (cũ), đổi tên thành Giao Châu, nhiều người
địa phương không thích chung sống với các quan trên người Tàu,
đã di tản một lần nữa về miền rừng núi (cùng với Âu Cơ). Nhiều
thế kỷ sau, qua quá trình hợp chủng với các sắc dân địa phương
như Negrito, Melanesian, Môn-Khmer, v.v. họ trở thành người
Mường.
Truyền thuyết còn
mang rất nhiều điểm gút mắt và bí ẩn chúng tôi hy vọng sẽ lần
lượt giải mã trong những bài tới. Nhưng ở đây chúng tôi xin mạo
muội đưa ra vài đề nghị về đổi chác lịch sử, hiện thức được từ
việc giải mã truyền thuyết.
Trước hết xin tóm
tắt lại một vài điểm cao về nước Sở, cái nôi của dân tộc Việt.
(i) Sở mặc dù mang
tiếng rợ thuở ban đầu, đã nhanh chóng thu nhập và rượt theo văn
minh Hoa Hạ rất nhanh. Sở suýt một chút có thể thay thế vai trò
nước Tần, nhất thống nước Tàu và thay đổi toàn bộ lịch sử. Chủng
Việt (Yueh) thay chủng Hoa làm xếp nước Tàu và Hoa chủng có thể
di cư xuống Đông Nam Á.
(ii) Xin để ý đến 3
câu ngạn ngữ sau, cho thấy người Sở rất 'nổi' (dân xịn) ở thời
Xuân Thu Chiến quốc bên Tàu:
- Tần phì Việt
sấu: người Tần ưa ăn thịt mỡ nên mập béo. Người Việt
(Thái+Việt) ở Sở thích ăn rau cá nên người thon thả hơn.
- Gỏi Sở nem Tần:
giống như trên, dân Tần ưa ăn thịt hơn dân Sở. Theo [1] Tản Đà
rất thích câu ngạn ngữ này.
- Đầu Ngô mình
Sở: câu này cho biết lý trí thiên về chủng Việt (nước Ngô),
và tình cảm (trái tim, thân mình) nằm ở chủng Thái (dân chủ lực
của nước Sở). Cũng có thể mang nghĩa một người lai giống (Việt +
Thái), không giống ai.
(iii) Sở có những
sinh hoạt văn hoá rất đậm nét. Văn minh của Sở đã đóng góp rất
nhiều vào văn minh Trung quốc, và cũng là một tiền thân của văn
minh Việt Nam và Thái Lan. Tông giáo 'đồng bóng' (shamanism) đã
có với chủng Yueh (chi Thái và Việt) ngay từ lúc họ còn sinh
sống tại đất Kinh và Dương thuộc nước Sở..
(iv) Nổi bật nhất
trong lĩnh vực văn minh và văn hoá chính là trống đồng (đã có
tại Sở), và thể thi ca Sở Từ, một lối thơ gieo vần của dân Sở.
Theo [4], so với Kinh Thi của Hoa chủng ở phía Bắc:
- Sở Từ dài trường
thiên, trong khi Kinh Thi chỉ gồm những bài ca ngắn;
- Sở Từ dùng nhiều
thần thoại, Kinh Thi nghiêng về nhân sự;
- Sở Từ lãng mạn,
Kinh Thi tả chân;
- Sở Từ tác phẩm
văn nhân, Kinh Thi thuộc giới bình dân.
Tác giả nổi tiếng
nhất về Sở Từ chính là Khuất Nguyên (343-277 TCN) - đã sáng tác
bản Cửu Ca trên bước đường lưu vong về phía Nam (xem bài số 2).
Khuất Nguyên cũng rất nổi tiếng với thiên Ly Tao, bày tỏ tâm sự
nỗi lòng của ông.
(v) Hai tỉnh Hồ Bắc
và Hồ Nam, ngày xưa từng là địa bàn nước Sở, ngày nay được xem
như trung tâm văn hoá số một của Trung quốc [1].
Đề nghị thô thiển
đổi chác lịch sử xin trình bày như sau:
(a) Xoá bỏ 4000
năm văn hiến
(b) Rút lại còn
đúng 3000 năm văn hiến: Từ năm 1000 TCN đến ngày nay (2005).
(c) Chịu mất 1000
năm văn hiến, một thứ văn hiến 'ảo', trống không.
(d) Để đổi: Nguồn
gốc dân Việt Nam khởi từ nước Sở, thành lập khoảng 1000TCN
(e) Từ đó, tự
nhiên dân Việt Nam sẽ là thừa kế và hậu duệ của chủ nhân tất cả
trống đồng và quan trọng nhất: Sở Từ, một thể thi ca bất hủ
ngang ngửa với Kinh Thi của Hoa chủng. Khuất Nguyên cũng có thể
là một kiếp trước nào đó của Nguyễn Du.
(f) Nhìn xa xa,
rất có thể Hán Cao Tổ Lưu Bang mang ít nhiều giòng máu Việt, bởi
ông này dùng đất Hán sông Hán, nằm trong địa bàn nước Sở để đặt
tên triều đại đầu tiên huy hoàng của Hoa chủng. Ấn tượng của
triều nhà Hán mạnh mẽ đến độ người Hoa từ dạo đó về sau ưa gọi
mình Hán tộc.
Ghi Chú
[1] Bình Nguyên Lộc
(1971) Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam. Nxb Xuân Thu (USA)
tái bản.
[2] Bửu Cầm (1971)
Tương quan giữa những hình chạm trên trống đồng Việt tộc và bài
'Đồng Quân' trong Sở Từ. Tập san SỬ ĐỊA, năm thứ VIII, số 25,
tháng 1-3, 1971.
[3] Đường Nhạn Sinh,
Bạo Thúc Diễm & Chu Chính Thư (2002) Mưu Trí thời Xuân Thu. (Ông
Văn Tùng & Vũ Ngọc Quỳnh dịch). Nxb Văn Nghệ, TP HCM
[4] Nguyễn Hiến Lê
(1997) Sử Trung quốc. Nxb Văn Hoá.
[5] Trần Trọng Kim (
1971) Việt Nam Sử Lược. Trung Tâm Học Liệu của Bộ Giáo Dục xuất
bản. Đại Nam tái xuất bản tại Hoa Kỳ.
[6] Ngô Sĩ Liên và
cộng sự (1497). Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. Thanh Việt và Phạm Ngọc
Luật hiệu đính theo bản dịch của Đào Duy Anh. Nxb Văn Hoá Thông
Tin (2004). Bản của Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam được trình bày
đầy đủ trên mạng internet: perso.wanadoo.fr/charite
[7] Khuyết Danh
(1377-1388) Đại Việt Sử Lược. Bản dịch của Nguyễn Gia Tường. Nhà
Xuất Bản Thành Phố HCM. Bộ Môn Châu Á Học Đại Học Tổng Hợp
TP.HCM.
[8] Cung Đình Thanh
(2003) Tìm về nguồn gốc văn minh Việt Nam dưới ánh sáng mới của
khoa học. Nhà xuất bản Tư Tưởng. Sydney - Australia
[9]
http://www.chinaknowledge.de/History/Altera/south.html#ba
[10] 'Việt Thường'
có thể là một tên sớm nhất người Hoa đặt cho một nhóm thuộc Bách
Bộc, hay Bách Việt sau này. Xin xem bài 'Văn Lang'.
[11]
http://www.chinaknowledge.de/History/Altera/south.html#ba
[12]
http://www.geocities.com/Tokyo/Bay/7051/DRAVIDIANS.html
[13] Bình Nguyên Lộc
cũng như tất cả các tiền bối đều tiện nghi hợp hai chủng Âu và
Lạc lại thành một nhóm trong những phân tích khó khăn. Những đặc
tính chủ lực của chủng Yueh thời sơ khai bao gồm: nhuộm răng, ăn
trầu, văn thân (xâm mình), điêu đề (xâm trán), lên đồng
(shamanism), ... đều có thể tạm thời quy hết về chủng Âu, tức
Thái-cổ. Chủng Lạc (Việt), như đám Bộc Việt ở miệt Sơn Đông,
cũng có những đặc tính giống như vậy. Tuy nhiên, có lẽ việc lên
đồng (shamanism) chỉ đặc trưng thuộc chủng Thái-cổ mà thôi.
[14] Việc tìm thấy
xương và sọ của chủng Polynesian (dân đa đảo) và Melanesian (dân
da đen hải đảo) không những tại các ngôi mộ ở Bắc Bộ mà còn lan
rộng tận miền Hoa Bắc. Tài liệu internet ghi trong [11] cho biết
những người cổ ở Ngưỡng Thiều đã biết trồng kê, lúa, nuôi ngựa,
dê và cừu. Họ sản xuất đồ gốm (đen và đỏ) truy về khoảng niên
đại 3000-1800 TCN. Tuy nhiên xương họ để lại, giống xương người
Polynesian hoặc Melanesian nhiều hơn là giống chủng Mongoloid
(gần chủng Hoa). Rất có thể người Hoa thời cổ đại cũng dùng 'U
Man' để chỉ người Melanesian này.
[15] Người nước Tần
thuở ban đầu cũng giống như Sở, làm nước phên dậu cho nhà Châu.
Cũng một giống rợ nhưng lai bọn Tây Nhung rất nhiều. Tây Nhung
có thể bao gồm đám Thổ gia, tức Turkistan.
Trở về Trang Chính |