|
Bài
này thử quan sát lại truyền thuyết ‘Con rồng cháu tiên’ dưới một
góc độ tương đối mới, dựa vào những sự kiện, hiểu biết nửa cũ
nửa mới. Đặc biệt, những sự kiện xưa cũ vẫn thường dễ quên, bỏ
sót hoặc lướt qua trong quá khứ.
Một lí do khác đã gây nên sơ suất đáng tiếc
này, nay đã trở thành một thông lệ lớn, bắt nguồn từ chỗ nhiều
vị bắt đầu tra cứu từ ở cổ sử Tàu. Nhưng vô tình, không để ý sử
Tàu, từ cổ chí kim, luôn luôn bị sức ép chính trị của một quốc
gia lớn có quá nhiều chủng tộc khác biệt. Và được viết trên quan
điểm 'trung ương' của một nước Tàu nhất thống của chủng Hán. Tất
nhiên sẽ không chú ý đến mọi sắc tộc đã bị đàn áp hay thua trận,
mất nước. Hoặc đã được đồng hoá. Và sẽ ít khi đề cập đến các vụ
di tản khổng lồ của dân các nước đã bị...nuốt, ngay từ thời
Thượng cổ cho đến loạn lạc thời sau nhà Đường (Ngũ Đại, v.v.).
Thời Xuân Thu Chiến Quốc (770-221 TCN), tiếp
theo là nhà Tần rồi Hán Sở tranh hùng, v.v. là một thời khủng
khiếp nhất, kéo dài khoảng gần 800 năm. Chiến tranh liên miên. Ở
nhiều trận chiến, khi bị đại bại quân sĩ bị chém đầu như rạ.
Ngoài ra còn nạn đói kém vì thiên tai mất mùa, và do ảnh hưởng
chiến tranh. Các chủng tộc hồi đó khác biệt về ngôn ngữ hãy còn
ít, nhất là có nhiều chi chủng rất gần nhau trong đám Bách Yiệt.
Lại đặc biệt không có đòi hỏi hộ chiếu hay thị thực khi đi qua
vùng này hay vùng khác. Như vậy chuyện di tản hằng khối người
phải xem như một chuyện hiển nhiên quan trọng nhất trong việc
khảo cứu về nguồn gốc dân tộc. Thế nhưng đây cũng là chuyện hay
bị bỏ sót.
Bình Nguyên Lộc [4] quan sát rất tỉ mỉ về cổ
sử Tàu và bảo vệ luận thuyết của ông, cho rằng Mã Lai I đến Bắc
Việt cách đây 5000 năm, rồi được bổ xung bằng Mã Lai II, cách
đây 2500 năm. Tác giả Mã Lai duyệt hết sách vở, Đông Tây đủ thứ,
nhưng đã không dành đến 1 dòng để cho biết thời điểm Mã Lai II,
chính là cực điểm thời Xuân Thu ở bên Tàu, cách đây khoảng 2500
năm.
Chử văn Tần [11] thu thập các bài viết trong
nhiều năm của ông, và cho xuất bản thành quyển sách dày về 'Văn
minh Đông Sơn'. Trong đó ông có đưa một nhận xét rằng kiểu dáng
của nhiều đồ khai quật cho thấy có sự xuất hiện của một nhóm
người mới vào khoảng thế kỷ thứ 6-7 trước Công Nguyên. Nhưng
hoàn toàn không đề cập đến những biến động chiến tranh loạn lạc
ở bên Tàu vào thời đó (thế kỷ 8-2 trước Công Nguyên).
Cung Đình Thanh [12] tìm về nguồn gốc văn
minh Việt Nam, bằng những tài liệu khoa học mới, cho biết rất có
thể văn minh Hoa Hạ được xuất phát từ khu Hoà Bình hoặc khu
Sundaland, thuộc vùng Mã Lai - Inđô, nay đã chìm dưới biển.
Nhiều tài liệu dẫn cho biết những cuộc di dân rầm rộ cách đây
trên 5000 năm, được đối chiếu với mực nước biển lên xuống. Ngược
lại ở phần nhận xét về di dân, tác giả chỉ qui cho loạn lạc ở
đời nhà Tần là nguyên nhân của các cuộc di dân Nam tiến. Khá
trễ, và lại bỏ quên thời khủng bố của Đông Chu liệt quốc.
[1] Trần Trọng Kim ( 1971) Việt Nam Sử Lược.
Trung Tâm Học Liệu của Bộ Giáo Dục xuất bản. Đại Nam tái xuất
bản tại Hoa Kỳ.
[2] Ngô Sĩ Liên và cộng sự (1479). Đại Việt
Sử Ký Toàn Thư. Thanh Việt và Phạm Ngọc Luật hiệu đính theo bản
dịch của Đào Duy Anh. Nxb Văn Hoá Thông Tin (2004). Bản của Viện
Khoa Học Xã Hội Việt Nam được trình bày đầy đủ trên mạng
internet: perso.wanadoo.fr/charite
[3] Khuyết Danh (1377-1388) Đại Việt Sử Lược.
Người dịch: Nguyễn Gia Tường. Người hiệu đính: Nguyễn Khắc
Thuần. Nxb Thành Phố HCM (1993). Có bản được lên mạng tại
perso.wanadoo.fr/charite
[4] Bình Nguyên Lộc (1971) Nguồn gốc Mã Lai
của dân tộc Việt Nam. Nxb Xuân Thu (USA) tái bản.
[5] Stephen Oppenheimer (2001) Eden in the
East – The Drowned Continent of Southeast Asia. 2nd
Impression. Phoenix
[6] Nguyễn Hiến Lê (2002) Sử Trung Quốc. Nxb
Văn Hoá
[7] Phan Lạc Tuyên (2000) Nghiên Cứu & Điền
Dã. Nhà Xuất Bản Trẻ.
[8] Bên Tàu, thời nhà Châu anh em bà con,
nhất là trong hoàng tộc, vẫn thường lấy nhau. Y hệt như bên Ai
Cập vào thuở cổ thời. Muốn kiểm chứng, xin đọc lại Đông Châu
Liệt Quốc, một truyện hư cấu phần lớn, nhưng dựa sát vào các
sách cổ sử Trung Hoa như: Xuân Thu, Kinh Thi, Sử Ký, Tả Truyện,…
[9] Jeanne Cuisinier (1946) Les Mương –
Géographie humaine et sociologie.
Institut d’Ethnologie. Paris
[10] Keith Weller Taylor (1983) The Birth of
Vietnam. University of California Press.
[11] Chử Văn Tần (2003) Văn Hoá Đông Sơn -
Văn Minh Việt Cổ. Nxb Khoa Học Xã Hội.
[12] Arthur Cotterell (1995) China – A
History. Pimlico (Random House)
[13] Thí dụ về lối dùng phân loại đời sau để
gán cho đời trước: Dùng cụm từ ‘Cố vấn an ninh quốc gia’ để gán
cho Quản Trọng, quân sư của vua nước Tề. Gọi bà Trưng Nhị bằng
chức ‘Tổng Tham Mưu Trưởng’ của quân đội bà Trưng Trắc,…
[14] Xin xem: Nguyên Nguyên (2005) ‘Phải
chăng người Việt cổ đã biết tiếng Anh? I = Ai = Tôi’. Báo mạng:
Talawas.org
[15] /Ji/ {姬
}
quan thoại = 'Cơ'
trong tiếng Việt. ‘Cơ’ có thể được phát âm như
'Kỹ', thí dụ người Ca Kỹ
歌
姬
.
Nhưng tiếng Hoa (quan thoại) chỉ có một lối viết,
một lối đọc:
姬
/Ji/
.
Chuyện người
hùng Hạng Yũ (Vũ) có thể tìm thấy trên nhiều mạng khi tìm 'Xiang
Yu'.
[16] Hoài Nam Wương Liu An (cháu của Liu
Bang) thuật rõ trận chiến theo lối du kích của dân Tây Âu trong
quyển 'Hoài Nam Tử', 'xuất bản' trong khoảng thế kỷ 2 trước Công
Nguyên (xem [4] & [10]. Trong cuộc chiến đó, quân Tần giết được
vua Tây Âu là Trạch (Dịch) Hu Tống. Dân Tây Âu (tức Âu 'Việt')
rút vào rừng kháng chiến và giết lại được tướng Tần là Uất Đồ
Thư. Một nhầm lẫn khác: nước Tây Âu Lạc. Thật ra không có nước
nào mang tên nước Tây Âu Lạc cả. Chỉ có nước Tây Âu và nước Âu
Lạc. Nước Âu Lạc nằm về phía Tây của Nam Hải. (xem [4] & [10]).
Đặc biệt Bình Nguyên Lộc đã dành cả một chương để bàn về vấn đề
này cùng những dụng ý khá mập mờ của những học giả Pháp, khi họ
xuống cấp Trạch Hu Tống, vua nước Tây Âu, thành tù trưởng. Thảo
luận về Tây Âu của tác giả ‘thuyết Mã Lai’, có thể xem rất giống
với kết luận của các nhà nghiên cứu Âu Mỹ ngày nay (thí dụ: xem
[10] & [19])
[17] 'Việt' là một trong những từ bị biến âm
bởi quốc ngữ. Đại đa số những sắc tộc chung quanh đều phát âm
'Việt' bắt đầu bằng âm /Y/. Mường gọi /Yịt/. Nam bộ phát âm
/Byiệt/. Nhật gọi /Beto/ rất gần với kiểu Nam bộ /Byiệt/. Dân
Quảng Đông gọi /Yuet/ hay /Yueh/. Hồ Nam (Sở) đọc /Yuệ/. Quan
Thoại phát âm như /yuế/. Người Hẹ (tức Hakka) gọi /Yuet/. Chỉ có
người Triều Châu (Mân Việt xưa) đọc /Wật/.
[18] Henri Roux (1954) Quelques Minorités
Ethniques du Nord-Indochine. France-Asie. Janvier-Février 92-93.
Tome X. Đặc biệt, theo tài liệu này, người Thái đen và Thái
trắng tại Bắc phần chính là hậu duệ người nước Thục (tức Tứ
Xuyên ngày nay).
[19] Xem website của British Council về gốc
gác của binh lính Thục Phán: dân Tây Âu,
Viet%5FNam/Directories/Vi_ACYAIw-7879_ADs-t_Nam_Cultural_profile/-3194.html
[20] Website sau đây cho đầy đủ danh sách các
triều vua chúa bên Tàu: hostkingdom.net/china.html#Ch’u. Một vài
pinyin cho việc tra cứu: Sở = Chu (hay Ch’u); Châu = Zhou; Tề =
Qi (hay Chi); Tần = Qin; Tấn = Jin; Thần Nông = Shen Nong; Hồ
Nam = Hunan; Hồ Bắc = Hubei; Thiểm Tây = Shaanxi; Cam Túc =
Gansu; Việt = Yue (hay Yueh); Đông Đình Hồ = Dongtinghu; Tứ
Xuyên = Sichuan; Thục = Shu; Vân Nam = Yunnan; Dương Tử = Yang
Tze; Hoàng Hà = Huang he; Người Miêu = Hmong; Hẹ = Hakka;…
[21] Để ý người Thái rất lận đận về chuyện
lập quốc. Nhưng cũng còn may mắn hơn nhiều sắc tộc còn bị kẹt
lại Trung Hoa và VN, như người Hmong và Choang. Đặc biệt người
Choang dân số khoảng 19 triệu xấp xỉ bằng dân số nước Úc. Người
Thái Lan tuy không bị hội chứng 5000 năm văn hiến nhưng cũng có
vẻ thích nhận vu vơ những nền văn minh cũ ở miền đất đó là do ở
tiền nhân của họ. Đặc biệt văn minh trồng lúa nước (Non Nok Tha,
gần Korat – 4000 TCN), di vật bằng đồng (Ban Chiang gần Udon –
3600 TCN),… Đặc biệt trong tiếng Thái, có từ ‘KOW’ mang hai
nghĩa, dùng để chỉ ‘gạo’ và ‘bữa ăn’. Có phát âm và lối dùng y
như tiếng Việt: CƠM. ‘Cơm’ nghĩa chính là ‘gạo đã nấu chín’ và
nghĩa khác cũng là ‘bữa ăn’: ‘Anh ăn cơm chưa?’. ‘Ăn cơm’ ở đây
có nghĩa ‘bữa ăn’. Y như tiếng Thái.
[22] Đường Nhạn Sinh, Bạo Thúc Diễm & Chu
Chính Thư (2002) Mưu Trí thời Xuân Thu. (Ông Văn Tùng & Vũ Ngọc
Quỳnh dịch). Nxb Văn Nghệ, TP HCM
[23] Thật ra họ Hùng của vua chúa nước Sở là
từ phiên dịch của người Hoa từ một tiếng nước Sở: Mị, mang nghĩa
‘con gấu’ (xin xem bài số 2). Hùng Yịch chính là một đại thần
nhà Châu được vua Thành Vương ban cho đất Kinh Việt để cai trị
và ngăn chận bọn rợ Việt ở đó cho khỏi quậy vào ‘Trung thổ’. Đó
là năm 1122 TCN. Đến đời Hùng Thông, con cháu mười mấy đời của
Hùng Yịch thấy nước mình đã hùng cường nên tự ý vỗ ngực xưng
vương: Sở Vũ Vương (740-689 TCN). Con cháu tiếp nối của Hùng
Thông tiếp tục xưng vương, và vẫn giữ họ Hùng. Nhiều người vẫn
thường lấy cớ tự dạng Hùng Vương của nước Nam viết khác với Hùng
Vương nước Sở. Nhưng điều này chẳng có gì quan trọng, bởi những
từ này đều được viết bằng tiếng… Tàu. Do người Tàu tự ý cải
biên. Y hệt như tên Âu Cơ chỉ mẹ của Hùng Wang và tên người ái
cơ của Hạng Vũ. Viết khác nhau, nhưng phát âm như một.
[24] Keith Weller Taylor trong website của
riêng ông có thể tìm thấy trên mạng internet, qua bài phỏng vấn
của đài BBC đã đề cập đến Hai Bà Trưng có quê quán nằm trong
lãnh địa người Mường: Mê linh. Giả thuyết Hai Bà Trưng mang gốc
Mường rất có khả năng, nếu chúng ta đối chiếu với một hai dữ
kiện lịch sử rất quan trọng. Thứ nhất, gia đình hai Bà có vẻ
theo Mẫu hệ, kiểu người Mường. Thứ hai, khi Hai Bà dấy quân khởi
nghĩa chống lại Tô Định, hai Bà được sự hưởng ứng của toàn dân ở
vùng Nhật Nam, Cửu Chân và Hợp Phố. Đặc biệt để ý đến Hợp Phố
thuộc Quảng Châu, chứ không phải Giao Châu. Quảng Châu tức Tây
Âu cũ: chủng Thái, nguồn gốc người Mường. Những anh hùng dân tộc
khác cũng có thể mang chủng Mường (tức Thái) gồm có: Lê Lị (tức
Lê Lợi), Lê Hoàn, và Đinh Bộ Lĩnh. Bởi Lê Lị người khởi xướng
triều đại nhà Lê mang gốc Mường, nên Nhượng Tống trong bản dịch
đầu tiên của Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, theo trích dẫn [4], đã cho
rằng Ngô Sĩ Liên vì muốn bợ đỡ các vua nhà Lê nên đã đem các
truyền tích rặc Mường nhét vào quyển sử ký đồ sộ của nước Nam.
[25] Gần đây các sách Việt Nam ưa sửa đổi
năm Thục Phán sang chiếm nước Nam là năm 208 TCN. Theo thiển ý,
những quan tâm đến chi tiết hay các lối phát âm, phiên dịch chữ
Hán đã dễ đưa việc khảo cứu đi lạc hướng.
Trở về Trang Chính |