|
Lời tác giả: Mùa thu sắp trở
về, những mùa thu rất ngắn của đất trời vẫn mỗi năm một lần trở
lại, nhưng những mùa thu của đời người thì mãi mãi ra đi. Khu
vườn nhuốm chút heo may để giàn mướp rung rinh những bông hoa
cuối mùa, bụi mía xào xạc thoảng qua hồn chút gió hắt hiu , và
đôi chim sáo vẫn mải miết tìm mồi trên sân cỏ úa...
" Đôi
chim sáo" là hình ảnh một đôi vợ chồng già, khi những con sáo
non đã đủ lông đủ cánh để bay đi xa lìa cha mẹ, chỉ còn lại đôi
sáo già buồn bã, ủ ê trong cái tổ ẩm ướt với những ngày Đông
dài lê thê . . . "
* * *
Khi
người hàng xóm sửa chữa lại chỗ mái hiên bị giột, là từ lúc ấy
đôi vợ chồng chim bị mất tổ. Không biết đấy có phải là nỗi éo
le của cuộc đời, hạnh phúc của kẻ này lại là nỗi bất hạnh của
người kia, vẫn hay kề cận bên nhau, khi đời sống luôn luôn là
những thay đổi. Như một thành phố được tân trang cho mới mẻ, lại
cũng mất đi nét cổ kính của một vẻ đẹp yên tĩnh, rất nên thơ.
Mỗi
buổi sáng, khi mặt trời vừa thức dậy, vợ chồng đôi chim sáo đã
lo tần tảo kiếm ăn. Tôi không biết đó là loại chim gì, nhưng
tiếng hót khá hay, với màu lông xám có một mảng phơn phớt bạc ở
trên đầu. Mình to gấp hai lần chim sẻ, tôi cho chúng là một loại
sáo, vì chúng hay hót, có khi hót cả ngày vì một điều gì vui
trong thế giới của loài chim.
Đấy
là một đôi vợ chồng chăm chỉ, còn trẻ tuổi, chưa con cái. Hôm
nào mưa, anh chồng bay lên sợi dây điện, ngó quanh, hót lên mấy
tiếng, có ý than thở cảnh đất trời u ám, khiến một kẻ chăm làm
tham công tiếc việc phải bất đắc dĩ nghỉ ngơi. Còn lại chị vợ
trong hốc tối ở mái hiên, chị cũng hay hót, như đàn bà thường
lắm điều hơn đàn ông, thỉnh thoảng chị bay sà xuống cây thông
đất trước cửa nhà tôi để rỉa lông, rỉa cánh.
Khoảng đầu xuân, khi vợ chồng chim đến làm tổ trên cái hốc tối
con con nơi mái hiên nhà hàng xóm, tôi thấy họ bận rộn lắm. Qua
khung cửa kính, tôi quan sát đôi chim như một đôi vợ chồng mới
cưới, có thể cô vợ đang mang thai, và họ cần một tổ ấm cho gia
đình. Vợ chồng sáo ríu rít vào ra cái hốc nhỏ, được hình thành
khi mảnh ván bị mục vì nước mưa, lâu ngày đã vô tình khoét một
chỗ trống , vừa vặn cho gia đình một đôi chim sáo.
Hai
người trẻ tuổi yêu nhau, bước vào đời rộn ràng như thế nào thì
đôi chim sáo cũng y như vậy. Từ mờ sáng, ánh đèn đường còn lung
linh dưới tàn cây tối thẫm, tôi đã nghe đôi chim ríu rít, trò
truyện. Họ dậy sớm lắm, sớm hơn cả lũ trẻ phải dậy đi học, nhất
là những ngày vào Xuân, năm ấy đâu là mùa Xuân đầu tiên của vợ
chồng sáo. Không biết họ ở đâu đến đây, nhưng ngay những ngày
đầu, tiếng hót của họ đã làm những người trong khu chung cư
thức dậy, và biết là mùa xuân đã tới. Những giọt mưa xuân đêm
qua còn lóng lánh trên những lá cỏ non, khi bình minh đến, chiếu
những tia nắng dịu dàng lên cỏ hoa, để những giọt nước li ti ấy
biến thành những viên kim cương diễm lệ.
Đúng
là những người yêu đời nhất thế gian, đôi vợ chồng chim bắt tay
vào việc xây dựng tổ ấm rất hăng hái, bay ra bay vào suốt ngày,
mỗi lần trở về lại cắp theo một nhánh cây khô, một cọng cỏ héo,
và cả những chiếc lá xanh. Họ có cái rộn ràng, tất bật khi phải
cố hoàn thành cho nhanh, một cái nôi cho lũ con thơ sắp chào đời
nay mai. Được một dạo, khi anh chồng đi kiếm ăn, chị vợ có vẻ
mệt mỏi đậu xuống cành thông đất trước hiên nhà, chị hững hờ mổ
mổ chiếc lá non, như người phụ nữ đang mang thai thèm ăn dở.
Sáng
nào, tôi cũng ngồi hằng giờ ngắm nghía hạnh phúc của vợ chồng
chim sáo, ngay cả khi chị sáo khẽ khàng đậu trên nhánh thông,
tôi cũng không dám mở cửa, sợ kinh động cái thảnh thơi của chị.
Chị sáo có cái thảnh thơi của một tâm hồn trong sáng, hình như
không có gì để suy nghĩ ngoài những hạnh phúc chị đang có. Chị
nhảy từ cành này sang cành kia, thỉnh thoảng lơ đãng ngó mông
lên rặng cây bên đường, có thể chị đang nghĩ đến anh chồng đang
luẩn quẩn đâu đó. Khi anh sáo về, chị cũng cuống quýt bay lên,
đôi vợ chồng chim lại lục đục trên cái hốc tối. Aám áp lắm, nồng
nàn lắm, tôi ưa nhìn cái hạnh phúc của muôn loài, và cảm nhận
được cái vui từ chút hạnh phúc nhỏ nhoi, đơn giản ấy.
Đấy
là những ngày đầu tiên của vợ chồng chim sáo, hạnh phúc khi có
thì ở đâu cũng hạnh phúc, chưa chắc gì trong những căn phòng đẹp
đẽ, tiện nghi của loài người, hạnh phúc đã thèm hiện diện.
Đôi
vợ chồng chim sống thật êm đềm, đơn giản đến không còn gì đơn
giản hơn. Sáng. Dậy sớm. Hỏi han nhau ba điều bốn chuyện, qua
những tiếng hót làm vui tai mọi loài. Rồi khi nắng lên, bay đi
kiếm ăn. Tuy nhiên, họ lại là những kẻ rất chu đáo trong vấn đề
chăm sóc gia đình, rất bận rộn cho miếng ăn hằng ngày, nhưng vẫn
không bỏ bê nhà cửa. Tôi thấy vợ chồng sáo về nhà luôn luôn, tha
thêm những nhánh cỏ khô, chiếc lá héo.Tôi tưởng tượng trên đống
cỏ khô được khoanh tròn lại bằng những chiếc mỏ khéo léo của vợ
chồng sáo, dăm chiếc trứng xinh xinh, tròn trĩnh đã được chị vợ
sắp xếp gọn gàng, vừa đủ cho chị mỗi ngày ủ ấp lũ con thơ, đang
hình thành trong lớp vỏ trứng.
Cái
ấp yêu của vợ sáo, là cái ấp yêu của những người mẹ yêu con ngay
từ lúc còn là bào thai, vừa mới tượng hình trong lòng mẹ. Tình
mẫu tử đã được ràng buộc giữa mẹ và con, chị sáo cũng như bao
người mẹ khác, đã nâng niu những đứa con yêu của chị trong những
quả trứng mỏng manh kia. Chị sáo chắc hẳn cũng đã từng nghe
ngóng, chờ đợi. Một hôm nào nghe lũ con cựa mình trong vỏ
trứng, rất khẽ khàng chị dùng chiếc mỏ cứng, giúp con đẩy chiếc
cửa đầu tiên vào đời. Mấy chú sáo non run rẩy, trần trụi lớp
lông tơ, nếu không có tổ ấm của cha, sự săn sóc của mẹ, làm sao
để sống?
Từ
đấy, tôi có cái ngạc nhiên khi nhìn cuộc đời ở một khía cạnh
khác, khi biết rằng trong thế giới loài người, có những người
con thành đạt, lớn lên trong nỗi nhọc nhằn của cha mẹ, đã hắt
hủi cái tổ ấm của mình, và nhìn nó bằng những đôi mắt ghẻ lạnh.
Khi
lũ con ra đời thì vợ chồng sáo có vẻ bận rộn hơn. Ở góc cạnh
này, tôi rất khâm phục anh sáo, nếu là người , anh rất xứng đáng
là một người cha gương mẫu. Anh ta vốn là một người chăm chỉ,
bây giờ lại càng chăm chỉ hơn, khi trên chiếc tổ chim ấy , đã
vang lên tiếng liếp chiếp đòi ăn của bầy con dại. Chị sáo dạo
này thỉnh thoảng mới bay ra cây thông, có lẽ vì bận con mọn.
Trông chị có vẻ tất bật, không còn cái vẻ thảnh thơi của độ còn
son rỗi, vì lo ngại lũ con thơ có thể lăn ra khỏi tổ lúc chị
vắng nhà, rồi cứ thế lăn lông lốc xuống thềm xi măng dưới kia,
thì dẫu có Trời giúp, chị vẫn không đủ sức để đem con về tổ.
Quan sát kỹ để thấy, chị luôn luôn lấp ló nơi cửa , đầu ló ra
ngoài, hai con mắt trong veo như hai hạt đậu. Người mẹ ấy chăm
sóc con cẩn thận lắm, lũ sáo non dường như đã được đẩy tít vào
phía trong, cho dù một cơn gió lang thang, cũng không thể thổi
hắt vào cái tổ nhỏ bé ấy.
* * *
Qua
hết mùa hè, mải miết kiếm ăn nuôi lũ con thơ, anh sáo trông có
vẻ phờ phạc hơn. Tôi rất khâm phục sự hy sinh của anh. Khoảng
cách từ nhà anh ra rặng cây xanh không xa, vì anh bay khá nhanh,
nhưng phải nói sự vật lộn để mưu sinh giữa chợ đời đâu phải là
dễ dàng, khi trên ấy có đủ loại khác nhau như sóc, quạ, hoàng
oanh, chim sẻ. . . . Anh sáo chắc có lúc cũng nhận ra cái thực
tế phũ phàng và cay đắng trong việc tìm miếng cơm, manh áo, sự
tranh giành giữa muôn loài với nhau, đâu có gì là dễ chịu, cho
dù anh có đạt được chân lý "ăn để sống".
Cuối
hè ấy, khi lũ chim non đã đủ lông đủ cánh, tôi thấy mấy cái đầu
xinh xinh ngó ngó, nghênh nghênh ngoài cửa tổ, chiêm chiếp kêu.
Chị sáo cũng phục hồi sau thời gian ở cữ, tròn trịa hơn, mũm mĩm
và xinh đẹp hơn, như người đàn bà sau kỳ sinh nở, những đường
nét trên cơ thể nẩy nở ra như một đóa hoa thời kỳ mãn khai. Lũ
con lớn hơn thì người cha càng vất vả, có vẻ như kiệt sức, bộ
lông sáo không mượt mà như xưa, cái nóng của mùa hè khiến anh
thêm hốc hác. Trong nhà, người ta mở máy lạnh suốt ngày đêm,
lúc cần ra đường, người ta vội vã chui ngay vào xe, rồi hối hả
đi vào những căn phòng có máy lạnh khác. Chắc anh sáo cũng mệt
mỏi lắm. Anh phải đi kiếm ăn, suốt ngày bay tới bay lui từ hàng
hiên ra rặng cây xồi ven đường, lúc ấy râm ran những tiếng ve
gọi hè, chỉ còn mẹ con nhà sáo chui rúc trong cái tổ nóng bức
chật chội. Ba đứa con chưa biết bay, nhưng ăn tợn, thỉnh thoảng
tôi thấy chị sáo cùng chồng bay xuống sân cỏ, nhặt nhạnh những
hạt cơm, vụn bánh, hột cỏ rồi lại bay ù về tổ. Bây giờ chị cũng
phải cùng chồng đi tìm mồi về nuôi lũ con háu đói kia, chiêm
chiếp suốt ngày đến sốt ruột.
Sang
đầu thu, mẹ sáo dạy con tập bay. Mới đầu là những khoảng ngắn từ
tổ xuống hàng hiên, những cánh chim non sợ hãi, rụt rè bay xuống
hiên, rồi lại bay về tổ. Những bước chân chập chững vào đời,
trong nỗi buồn vui của cha mẹ. Như còn đấy, như mất đấy, một
ngày nào tổ ấm sẽ yên lặng, không còn tiếng chim vui như tiếng
trẻ khóc, trẻ học. Khi những đứa con lớn lên, sắp ra khỏi tầm
tay cha mẹ, là lúc ấy đời dường như ngắn lại, rồi ở đâu kia đã
hình dung ra màu tàn phai của những chiếc lá héo, thấy mình
trong gương bỗng xa lạ với mình ngày trẻ tuổi.
Ngày
hôm ấy là một sáng đẹp trời, tôi đã nhìn thấy, nghe thấy lũ sáo
con ríu rít bay ra khỏi tổ. Không hiểu vợ chồng sáo buồn hay
vui, khi thấy con mình đã đủ sức bay đi, rồi mấy đứa đã quay về
cái nôi êm ái đó?
Lũ
sáo con thật hồn nhiên khi mở to đôi mắt nhìn bầu trời khoảng
khoát, rồi như kẻ đã nhìn thấy tự do, chúng bật lên những tiếng
hót thánh thót, du dương như một bản nhạc vui. Cái gì cũng mới
lạ, khoảng trời xanh bao la cho những cánh chim rộn ràng xoải
cánh đến những vùng trời thênh thang, trên vòm cây xanh, những
âm thanh mời gọi của bạn bè khiến lòng nao nức lạ. Phải nhập
cuộc thôi, một khung trời mới mẻ có hoa thơm và mồi ngon, để
túy lúy với men say cuộc đời. Trong những con người trẻ, tâm hồn
trẻ, đâu đã biết ngậm ngùi trước cảnh chia ly với mái ấm gia
đình.
Tôi
đã nhìn thấy những con sáo con bay ra khỏi tổ vào đầu thu hôm
ấy. Nó có trở về không nhỉ? Làm sao tôi có một câu trả lời,
nhưng tôi cứ chờ đợi, như đợi những đứa con của mình đi đâu đó,
sẽ trở về, sẽ mãi mãi không bao giờ quên tổ ấm.
* * *
Sang
thu, có một chút heo may chợt đến vào buổi chiều, gia đình sáo
có vẻ yên lặng hơn, vì những đứa con chưa trở về. Anh chị sáo
buổi sáng vẫn dậy sớm từ mờ đất. Hôm ấy có thể mặt trời không
lên, đám mây xám giăng ngang bầu trời, cho cơn mưa thu chợt đến
và kéo dài suốt những ngày tháng tám.
Mưa
kéo dài suốt một mùa thu, vài cơn bão rớt từ đâu ghé lại khiến
lòng người cũng chùng xuống bao nhung nhớ. Cây cỏ ướt sũng dưới
mưa, vợ chồng chim thưa thớt
tiếng
chim vui, những giọt mưa luồn vào tấm gỗ mục trên mái hiên, làm
tổ ấm của đôi chim chừng ẩm ướt hẳn đi.
Vào
mùa thu, vài tia nắng dịu dàng ươm trên hàng cây đã có nhiều lá
úa, để một cơn gió tới, đã cuốn theo những chiếc lá vàng từ trên
cây rớt xuống như mưa, rồiø cứ thế lăn tròn xuống cuối dốc. Mùa
thu bao giờ cũng ngắn ngủi và rưng rưng buồn, giàn mướp hương
còn lại những chiếc lá cuối cùng vẫn xào xạc nghe như dư âm của
một cung đàn đềm êm trong quá khứ. . .
Hết
mùa thu lại tới một mùa đông, không gian như càng ảm đạm và lạnh
lẽo. Gã mặt trời lười biếng không thức dậy, ánh đèn vẫn tỏa sáng
trong vòm cây tối. Vợ chồng sáo không hót lên câu chào hỏi mỗi
ban mai, những giọt mưa mùa đông vẫn rớt trên mặt đường, loang
loáng ánh đèn từ những chiếc xe qua lại vội vã.
Vợ
chồng sáo như đôi vợ chồng già, lủi thủi trong chiếc tổ ẩm ướt,
nùi cỏ khô như tả tơi thêm khi anh sáo già không có cái hăng hái
ngày trẻ tuổi, đi tha những cọng cỏ khô về làm tổ cho lũ con.
Thỉnh thoảng, vào một ngày khô ráo. vài tia nắng yếu ớt lách ra
khỏi màn mây màu xám đục, tỏa xuống nhân gian một chút ấm áp.
Anh chị sáo bay ra khỏi tổ, đậu trên sợi giây điện, hai cái bóng
chim như hai nốt nhạc sậm màu cho một bản nhạc buồn.
Sao
tôi ngậm ngùi thế. Buổi sáng, chỉ còn một mình trong căn phòng
vắng, tôi nghe đôi chim sáo buông ra những tiếng kêu rời rạc,
khắc khoải như tiếng ca cẩm cái chân đau, chiếc lưng mỏi cho một
tuổi già lụm khụm.
Hết
mùa Đông, lũ sáo con vẫn không trở về, nhưng một biến cố đã xảy
ra cho đôi vợ chồng sáo. Người ta chuẩn bị sửa nhà đón mùa xuân
mới, người hàng xóm đã gọi thợ đến sửa lại mái hiên bị giột,
thay vào đó một tấm ván mới, bít lại cái tổ chim. Khi đám thợ
mang cưa, búa, gỗ đến, tôi thấy đôi chim hoảng hốt bay ra, mắt
nhớn nhác nhìn loài người như một loài quỷ dữ, nhất là khi âm
thanh của tiếng cưa kèn kẹt nghiến vào tấm ván, như nhát dao
cuối cùng trên cổ người tử tội, thì mới hình dung được cái hãi
hùng của người sắp chết.
Chiều
hôm ấy, khi mái hiên nhà hàng xóm đã được sửa chữa xong, còn
nồng mùi sơn mới. Mới mẻ, cứng cát, không còn một cái hốc nào
làm chỗ trú cho loài chim. Tôi thấy đôi chim sáo bay về, ngơ
ngẩn đậu trên sợi giây điện như hai nốt nhạc buồn, ngơ ngẩn nhìn
về tổ ấm dưới mái hiên, rồi chúng vụt bay đi. Không biết ở mắt
chúng có ứa ra giọt lệ nào không? Riêng tôi, sao buồn quá, và
tôi đã khóc.
NGUYÊN
NHUNG
Trở về Trang Chính
|