|
Thời
tiết vùng này thật là kì cục, đỏng đảnh như một cô gái già khó
tính, mới hôm qua trời còn rất oi ả, vậy mà sau cơn mưa chiều,
sáng nay lúc ngủ dậy bà Linh đã cảm thấy cái lạnh gai gai nơi
đôi chân trần không vớ. Các bắp thịt trong người hình như cũng ê
ẩm sau một đêm khó ngủ, mùa đông lại sắp trở về như thời gian
vẫn xoay tròn từ bao nhiêu năm nay.
Buổi
sáng nào bà Linh cũng dậy sớm, chẳng để làm gì nhưng hình như
sắp bước vào tuổi gần sáu mươi, người ta mất đi cái thú ngủ
nướng của những ngày còn trẻ. Hôm nào, cảm thấy không được khỏe,
bà Linh đi nằm lại thì y như rằng, sau một giấc ngủ ngắn trái
giấc, lúc trở dậy đầu bà nặng trĩu, người nghe nặng nề hơn và
giấc ngủ đầy những chiêm bao, mộng mị.
Ngoài
kia ánh đèn đường vẫn tỏa ra một thứ ánh sáng trắng xanh lung
linh dưới tàn cây tối thẫm, lũ chim đã rục rịch lào xào dưới mái
hiên . Qua lớp cửa kính, bà Linh nhìn thấy những cành lá mảnh
mai chừng như đang run rẩy dưới cái lạnh của gió, không hiểu
chúng run lên vì lạnh, hay đấy chỉ là nỗi reo vui của loài thực
vật, khi tiếp nhận làn không khí mát mẻ của ban mai, trong một
vũ điệu riêng của loài cây cỏ.
Mãi
hơn sáu giờ ông Linh mới dậy đi làm, bà Linh nghe tiếng ho húng
hắng của chồng và tiếng nước chảy trong phòng rửa mặt. Từ nhà
đến xưởng máy chỉ chừng hai mươi phút, công việc không có gì khó
nhọc nhưng cứ mỗi năm khi mùa đông tới, bà Linh lại ái ngại nhìn
dáng vẻ nhẫn nại của chồng khi rời nhà đi làm, với chiếc xe cũ
kỹ như con người của chủ nhân nó. Mái tóc ông càng ngày càng
bạc, đã rụng nhiều trơ ra một mảng đầu thưa thớt tóc. Trong một
thoáng hồi tưởng, bà Linh không thể không nhớ hình ảnh của ông
thời trẻ tuổi. Khuôn mặt người trai trẻ năm xưa, đã chia xẻ với
bà những ái ân đằm thắm, nay đã hằn lên những nếp nhăn mệt mỏi
trên vầng trán rộng và đôi má hóp.
Từ
ngày đám con khôn lớn, trưởng thành và lập gia đình rồi tách
riêng thành những gia đình mới, đứa nhỏ nhất cũng rời nhà đi học
xa, căn nhà còn trơ lại có đôi vợ chồng già, bỗng dưng rộng
thênh thang và đôi khi im lặng như muốn khóc. Bà Linh nhớ đến
thằng con út, mới ngày nào còn ấp vào lòng mẹ nũng nịu đòi dẫn
đi công viên, lòng bà rộn lên một niềm cảm xúc dạt dào, khi nhớ
lại nét mặt ngây thơ phụng phịu của thằng bé mười mấy năm trước,
mỗi buổi sáng bà nhẹ nhàng đến bên con đánh thức dậy đi học.
Mới đó mà thời gian trôi đi nhanh quá. Thằng bé nay đã trở
thành chàng thanh niên tuấn tú, đã biết yêu và đã tách rời ra
khỏi sự săn sóc của mẹ, không hiểu nó còn nhớ chút nào những kỷ
niệm ngày ấu thơ, hay mỗi khi nghe mẹ nhắc lại xấu hổ vì những
gì ngộ nghĩnh, dễ thương đó.
Khi
mặt trời hé những tia nắng yếu ớt đầu ngày, ngọn đèn đường đã
tắt từ lâu và hàng cây ven đường bỗng như xanh hẳn lên, đấy là
lúc bà Linh thong thả ra sân với những bước chân đều đặn trên
mặt cỏ còn ướt đẫm sương đêm, bầy chim đã ríu rít trên cây phong
ở góc vườn. Nghe tiếng chim ríu rít đón chào bình minh, bà Linh
cứ tưởng như tiếng reo vui của bầy con mỗi lần mẹ về chợ. Ở góc
vườn bà có trồng một khóm trúc, để trong những buổi chiều thật
êm vắng, bà Linh vẫn hay ra đấy để lắng nghe tiếng cành lá rì
rào, như bà nghe được trong tiếng gió kia cả một vùng trời quê
hương buồn man mác. Thuở còn con gái, bà Linh thích ra bến sông
để nhìn theo những chiếc thuyền câu lặng lờ trên mặt sông êm ả,
hồn cũng rất lơ mơ khi nghe tiếng lá reo, xào xạc từ những tàu
lá dừa rủ bóng bên dòng sông đục ngầu phù sa. Đấy là những kỷ
niệm của quê hương, mà dẫu đi đâu, ở đâu, dẫu cuộc đời đã trải
qua bao thăng trầm, vinh nhục, bà vẫn không bao giờ tách rời
được nỗi nhớ ấy trong tâm hồn, dù đã xa rời tổ quốc.
Mới
đấy mà đã hơn ba mươi năm, như một giấc chiêm bao, tưởng dài mà
lại rất ngắn, thực mà như mộng, mang theo bao nhiêu hạnh phúc
dịu dàng của ngày trẻ tuổi, những đau khổ và vất vả cuộc đời giờ
như những chiếc lá khô đã bay đi theo giông gió của đời. Bà Linh
ngước nhìn cây phong đã đổi màu vào mùa Thu, những chiếc lá màu
vàng anh và đỏ thắm làm sáng lên khu vườn, cây cỏ đã thắm màu
ảm đạm của những ngày cuối thu, những ngày gió lớn, đã lay hết
những chiếc lá đào mỏng manh rụng đầy xuống mảnh sân.
Bầy
chim trên cây chừng như ríu rít hơn vì thấy bóng bà xuất hiện
mỗi buổi sớm mai, có mang theo những vốc cơm thừa và những vụn
bánh cũ. Cái thói quen cho bầy chim ăn vào buổi sáng, đã trở
thành quen thuộc và đáng yêu. Với bà Linh, tuy chỉ là việc rất
bình thường cho mỗi ngày trống trải, nhưng đã mang tới hạnh phúc
cho cả người cho lẫn kẻ nhận.
Khi
bà Linh bắt đầu vãi những vốc cơm trắng trên sân cỏ, lũ chim chỉ
đợi có thế, đồng loạt từ trên cây phong bay ào xuống, chúng nhảy
nhót từ chỗ này sang chỗ khác, cũng chen chúc, xô đẩy nhau để
giành mấy hột cơm. Thỉnh thoảng, một vài con ngừng lại , như thể
nghe ngóng chờ đợi thêm những hột cơm hay vụn bánh còn sót lại
trên chiếc rổ nhỏ của người đàn bà nhân ái. Rồi thấy không có gì
thêm, sau khi đã no nê, chúng lại bay vù lên cây phong , hay nóc
nhà để rỉa lông rỉa cánh. Lúc ấy nom chúng có vẻ như đám người
vừa ăn cơm xong, có cái thú ngồi gác chân lên thành ghế, thong
thả xỉa răng và uống từng ngụm trà thơm cho sạch miệng.
Ban
đầu bầy chim chỉ có dăm con sẻ nhỏ, sống trong cái hốc tối ở mái
hiên, nhưng về sau dù không ai rủ rê, bà Linh lại thấy thêm lũ
quạ và sáo, bồ câu từ khu rừng bên kia công viên cũng bay tới.
Nơi nào đất lành là chim đậu, bà Linh mỉm cười khi nhớ đến gia
đình mình những ngày mới định cư trên xứ lạ. Cũng bơ vơ, ngơ
ngác, buồn rầu khi không biết cách nào để hòa nhập vào xã hội
mới, nhưng chỉ ít lâu thôi, muốn vươn lên thì phải biết " nhân
quần xã hội", chẳng bao lâu cũng tự tìm đến với cộng đồng của
mình mà vui sống.
Ngắm
nghía lũ chim trên sân nhà mỗi buổi sáng đã thành thú vui của
ông bà Linh. Lúc đầu , ông cho là bà có tính vớ vẩn , sau cũng
thấy hay hay, thế là những ngày không đi làm, ông Linh vẫn cùng
vợ ra sân cho lũ chim ăn. Lúc ấy, ông đã nhận ra cái điểm tương
đồng giữa xã hội loài người và thế giới của loài chim, nghĩa là
vẫn có những việc tranh giành, gõ đầu nhau chí chết vì một quyền
lợi nho nhỏ nào đó. Ở trên mảnh sân cỏ này, những con chim bé
vẫn có cái nem nép, chịu đựng của người yếu đuối, thấp cổ bé
miệng, cái thế thủ của người " gặp thời thế, thế thời phải thế
".
Để
cũng chính nơi đây, bà Linh đã chỉ cho ông thấy tấm lòng nhân
hậu của một nàng chim sẻ, khi giúp một chú sáo còn non tìm
miếng ăn vào một sáng sau cơn mưa bão. Hôm ấy, trận mưa giông
của chiều hôm trước đã khiến lũ chim nhiều con bị mất tổ, hay
những con chim non giờ đây có thể bị lạc đàn và bỗng dưng biến
thành trẻ mồ côi không còn cha mẹ. Bà Linh bỗng chợt nhớ đến
thời ly loạn, cơn giông bão của đất nước đã kéo theo bao nhiêu
cảnh đời ly tán, cho nên tự nhiên trong lòng bà lại dấy lên một
nỗi xót xa, đôi khi bà hay khóc một mình là vậy. Ông Linh vẫn
buồn cười cho tính đa cảm của vợ, nhưng đồng thời ông lại rất
quý mến người bạn đời của mình, vì nỗi cảm xúc bất chợt trước
những khổ đau của cuộc đời, khiến con tim mềm dịu ấy thật dễ
thương biết bao!
Chú
sáo tuy to xác nhưng rất là non nớt và ngây thơ, chẳng biết cha
mẹ chú đâu, chú có vẻ như một đứa trẻ mồ côi còn sót lại trong
một gia đình đã bị quật ngã sau trận cuồng phong. Cơn gió nào đã
đẩy sáo ta đến khu vườn của nhà bà Linh, để rồi khi đói, sáo ta
cứ há mồm ra chờ đợi, như thói quen vẫn được mẹ mớm mồi. Nó kêu
lên những tiếng bi thương, bất lực nhìn những hạt cơm, vụn bánh
nằm trắng xóa trên sân cỏ, nhưng nó chỉ hớp được ít không khí.
Bà
Linh nhìn cảnh tượng ấy bỗng mủi lòng, bà ái ngại cho con sáo
nhỏ mà chưa biết làm gì để giúp nó. Thật bất ngờ, một con sẻ nhỏ
ở đâu bay tới, nó nhỏ hơn con sáo non ấy một chút, không ngại
ngần đóng vai một người me tý honï. Con sẻ nhỏ cắp những hột cơm
rơi, lách chách bay tới bay lui mớm cho con sáo non như một
người mẹ âu yếm đút những thìa cơm cho đứa con thơ của mình. Nó
nhẫn nại cho con sáo ăn, mỗi lần nuốt xong hột cơm, con sáo non
to xác kia lại há mồm kêu chiêm chiếp, chờ người mẹ nhỏ nhoi bất
đắc dĩ kia mớm mồi cho mình. Lòng từ tâm của con chim sẻ, và cái
ngây thơ của con sáo non khiến bà Linh mủi lòng, bà cứ nhìn mãi
cảnh tượng ấy để liên tưởng đến nhiều cảnh ngộ khác trong thế
giới loài người, hóa ra nỗi khổ không chỉ dành riêng cho con
người mà còn cho cả loài vật nữa.
Sáng
hôm ấy, ông bà Linh rất xúc động khi nhìn thấy sự tương thân,
tương ái giữa loài vật với nhau. Tự nhiên bà liên tưởng đến xã
hội loài người, và cứ tự hỏi tại sao có những con người vẫn
không biết thương yêu chia xẻ cho người khác, vẫn xô đẩy, kèn
cựa, bóp chết nhau chỉ vì một quyền lợi nho nhỏ nào đó. Suốt
ngày hôm ấy, bà Linh cứ quả quyết với ông Linh rằng, chị sẻ nhỏ
kia là một con chim mái, vì đàn bà thường dễ mủi lòng trước
những cảnh đáng thương. Còn ông Linh thì lập luận rằng con sẻ
nhỏ kia là một anh đàn ông, vì trong thế giới của loài chim,
người chồng cũng bận bịu trong việc đi tìm mồi về nuôi con như
vợ, và ông cho rằng, đàn ông bao giờ tính tình cũng rộng rãi.
Hai vợ chồng già đã có những tranh cãi vui vui trong câu chuyện
của bầy chim, về con sáo nhỏ mồ côi đã được người mẹ sẻ nhỏ nhoi
vỗ về, giúp đỡ. Thì ra trong thế giới của loài vật, dù không có
khối óc và tài năng vĩ đại như của loài người, nhưng đâu hẳn đã
thua kém nhau về lòng bác ái.
Bà
Linh không khỏi nhớ lại một chiều gió mưa ở quê nhà ngày bà còn
nhỏ, với cái tên cúng cơm là bé Thảo. Năm ấy, với số tiền mừng
tuổi ít ỏi, bé Thảo đã nhờ mẹ mua được một chục gà con, lũ gà
không mẹ chết dần mòn để cuối cùng chỉ còn lại hai mụ gà mái.
Chúng mạnh khỏe và đảm đang như hai người đàn bà nông thôn, thi
nhau tìm mồi và thi nhau đẻ, một con đã ấp cho bé Thảo một đàn
gà con xinh xắn, kháu khỉnh. Thảo quí đàn gà con lắm, nhìn chúng
như những vụ bông gòn tròn tròn màu vàng tơ nõn biết chạy, gà mẹ
thường dẫn con đi tìm mồi trên mảnh đất trống sau vườn.
Gặp
mùa gió chướng, thứ gió gây gây , buồn hiu hiu làm cho con người
cũng cảm thấy khang khác, huống chi mấy chị gà bỗng cảm thấy ươn
người, chỉ muốn ngủ gật suốt ngày. Gà mẹ bị ốm đã mấy hôm, nhưng
sáng nào cũng chịu khó dẫn đàn con đi rong. Lũ gà con lao nhao
bên cạnh mẹ, không biết gì đến cái vẻ thẫn thờ của mẹ, mỗi lần
gió thổi, mảng lông trên đầu lại sởn lên như người nổi gai ốc.
Chiều
hôm ấy, trời nổi gió nhiều hơn. Những cơn gió hiu hiu buồn khiến
mẹ gà gần như kiệt sức, nó gọi con về chuồng, người gây gấy
lạnh. Mẹ con gà quây quần trong đống củi dưới gầm bếp, trên tấm
nệm rơm khô. Gà mẹ vẫn đứng yên, khi mở mắt, lúc nhắm mắt, nó
lục cục gọi con, xòe đôi cánh đợi mấy đứa nhỏ còn mê chơi đang
mổ mổ những con kiến nhỏ bò loanh quanh trên nền đất. Khi đàn
con chui hẳn vào đôi cánh gà mẹ, gà mẹ hình như không còn sức
chịu đựng nữa, đã quị xuống ấp đàn con trong đôi cánh gà, đôi
mắt ấy đã khép lại thiên thu.
Hình
ảnh gà mẹ ấp đàn gà con vào đôi cánh trước khi chết đãõ đi vào
lòng cô bé Thảo từ ngày còn thơ ấu, nhất là lời mẹ hiền vẫn còn
văng vẳng: "-Loài vật còn như thế, huống chi loài người".
Sau
này Thảo khôn lớn, trưởng thành lập gia đình và trở thành bà
Linh, lúc nào bà cũng nhớ đến mẹ. Rồi như chiếc bánh xe vẫn lăn
lại những vòng tròn đều đặn cho một kiếp người, bà Linh lại làm
con gà mẹ để lúc nào cũng yêu thương con mình vô bờ bến, mặc dù
chúng nó nay đã đủ lông, đủ cánh. Tận trong sâu thẳm của lòng
mình, lúc nào bà Linh cũng chỉ nghĩ tới con bằng cái thiết tha
của tình mẹ, lúc nào trong tim bà chỉ nồng nàn một tình cảm đằm
thắm, yêu thương và lo lắng cho từng đứa con, dù đã có mấy đứa
nghĩ về cha mẹ bằng tấm tình như thế.
Đàn
chim sau khi đã no nê, bay tản mát đậu trên cành cây phong, trở
về khu rừng bên kia công viên, lũ sẻ nhỏ lại chui vào mấy cái tổ
dưới mái hiên nhà ríu rít trò chuyện. Hình như đã quen lắm không
khí ríu rít, vui tươi của những tiếng chim, để hôm nào trời mưa,
đàn chim không đến khoảng sân này, bà Linh vẫn cứ lắng nghe
những con chim sẻ trò chuyện dưới mái hiên, để hình dung ra
những cảnh đời no ấm và hạnh phúc. Mỗi buổi sáng nắng ấm, trời
xanh biêng biếc, đàn chim lại bay về chờ đợi trong khoảng sân
nhỏ, dường như người cho lẫn kẻ nhận đều cảm thấy hạnh phúc. Bà
Linh đã không bỏ phí mớ cơm thừa bánh vụn, còn lũ chim dường
như đã no nê, thừa thãi niềm vui để hót lên những âm điệu vui
tươi. Cả khu vườn như bừng sáng với những tiếng chim vui, bụi
trúc lại rung rung những lời thì thầm trong gió, con mèo nhỏ
ngồi bên cửa sổ giỡn nắng một cách hồn nhiên, bà Linh lại thấy
lòng ngất ngây trong cái sống động của muôn loài.
Bà
quay vào trong nhà, nắng đã lên cao, rồi chợt nhớ rằng lát nữa
đây sau bữa điểm tâm, bà phải gọi điện thoại sang hỏi thăm bà
Linda, người hàng xóm già tội nghiệp ở bên kia đường. Dù sao bà
cũng còn ông Linh bên cạnh, lại cũng chưa lụm khụm, đi đứng run
lẩy bẩy như bà Linda, góa bụa và đơn chiếc trong căn nhà thênh
thang, vắng lặng. Hôm trước, bà Linda đã hớn hở khoe với bà Linh
về chuyến viếng thăm của cậu con trai và cô con dâu ở xứ tuyết
sẽ về thăm mẹ vào mùa Đông năm nay, nhưng dù nhà rộng họ vẫn ở
khách sạn và chỉ đến thăm bà như những người khách quý của gia
đình.
Không
hiểu sao bà Linda lại mừng rỡ và coi đấy là một tin vui, riêng
bà Linh tự dưng lại thấy nghẹn ở ngực. Bà nghĩ đến một lúc nào
đó khi đám con của mình sẽ về thăm bố mẹ, như những người khách
đến chơi nhà, để rồi lại ra đi biền biệt với những cuộc đời
riêng, tự nhiên bà ràn rụa nước mắt. Có thể đấy là sự suy nghĩ
khác biệt giữa Đông và Tây, cho nên việc các con đến thăm mẹ làm
bà Linda cảm động, thì với một người mẹ Á Đông như bà Linh, sự
thăm viếng lạnh lùng đó, khiến bà tủi thân nhiều hơn. Bà ước ao
rằng đám con mình lớn lên, dẫu có thành đạt và tư tưởng đã bị
thay đổi bởi sự khác biệt giữa hai nền văn hóa Đông Tây, các con
bà vẫn giữ mãi tâm tình của những đứa con biết thiết tha với cha
mẹ.
Trời
mới sang Đông nên cũng chưa lạnh lắm, nhưng thứ gió của buổi
sang mùa như đem cái lạnh hun hút vào lòng những người già nua,
tuổi tác. Khu vườn đã có nhiều lá rụng, cánh rừng bên kia công
viên trơ trụi lá, những cành cây giơ lên trời như những nhánh
xương khô. Khi mùa Đông đã tới, mỗi năm chỉ có một mùa kéo dài
mấy tháng, cây cỏ sắp tạm ngủ để sống lại vào mùa xuân tới.
Nhưng điều ấy sẽ không xảy ra cho loài người, khi mỗi bước chân
là mỗi bước đi vào miền miên viễn. Có còn lại chăng là, chút
nắng ấm trong lòng đôi vợ chồng già từ những mùa xuân trước.
NGUYÊN
NHUNG
Trở về Trang Chính
|