Ngày còn con gái, Huế đối với tôi
chỉ là những hình ảnh mù mờ không rõ nét, qua những câu hò mái
đẩy được đọc trong ca dao, hay chiếc nón bài thơ xinh xinh, mỏng
manh rất Huế , anh cuả một người bạn đang theo học trường Đại
Học Huế, mang về tặng cho lũ em gái miền Nam mỗi muà hè.
Chiếc nón bài thơ trắng ngà, giơ lên nắng
có hình ảnh một nhịp Trường Tiền, mái tóc thề và những câu thơ
nho nhỏ. Chiếc nón đã tô điểm nét thanh thanh cho những tà áo
dài con gái học trò thêm mơ mộng. Theo lời anh cuả bạn tôi, tôi
hình dung xứ Huế yêu kiều với con sông Hương nước trong văn
vắt, có thôn Vĩ Dạ, có núi Ngự Bình , có chuà Từ Đàm, có chợ
Đông Ba và những món ăn Huế nghe rất lạ, nhưng chưa bao giờ được
quen với một người xứ Huế. Mãi đến khi xóm tôi ở, chiếc cầu gỗ
bắc ngang con rạch được thay bằng một chiếc cầu đúc xi măng,
một số người ở những nơi khác đến mua đất cất nhà, tình cờ có
gia đình ông bà hai Huế, tôi mới có dịp biết về Huế và thưởng
thức những món ngon cuả Huế.
Người miền Nam đơn giản gọi nhau bằng thứ,
cho nên khi ông bà Hai Huế từ miền Trung thuyên chuyển vào miền
Nam, người trong xóm cứ gọi là ông Hai Huế , để phân biệt với
những người trong xóm cũng thứ hai như ông, thêm cái địa danh
nơi ông sinh trưởng. Cả xóm tò mò nghe ông bà hai Huế và lũ con
nói chuyện, ríu rít, lạ lẫm như tiếng nước ngoài. Bà hai và cô
con gái lớn dạo mới tới đi đâu cũng mặc áo dài, nhưng chỉ ít lâu
sau thì sự ăn mặc cũng từ từ đơn giản như những người miền Nam.
Dần dà, một thời gian sau mọi người trong
xóm cũng quen biết nhau, nhất là khi bà hai và mấy cô con gái
trổ tài nấu bún bò mời những người hàng xóm sang ăn, cả xóm đều
biết thêm cái ngon cuả nồi bún bò giò heo có mắm ruốc xả nó đặc
biệt hơn những món cuả miền khác. Nhà tôi cách nhà ông Hai Huế
mấy căn, lại dân Bắc di cư, đối với người miền Nam thì họ cho là
cả hai hình như cũng là một, đều có giây mơ rễ má với nhau, do
đó mà gia đình tôi bỗng dưng đi lại với gia đình ông Hai Huế
thân tình hơn những nhà trong xóm.
Dạo ấy tôi mười bảy, Nga, cô con gái đầu
lòng cuả ông bà Hai cũng trạc tuổi tôi, học chung một trường,
tuy khác lớp nhưng ngày nào cũng có dịp đi chung trên một con
đường đến trường, do đó hai đứa kết thân dễ dàng. Tôi có thêm cô
bạn hàng xóm, có dịp để biết thêm về Huế, về những chấm phá rất
đặc biệt cuả xứ Huế, người Huế và những món ngon xứ Huế, vẫn ghi
lại những âm hưởng đậm đà trong lòng tôi . . .
* * *
Nga và tôi hợp nhau một cách lạ lùng, dường
như ông Trời đã sắp đặt để hai đứa quen nhau, bổ xung những cái
có cái không cho cả hai bên. Nếu thời cuộc không đưa đẩy ông bà
hai Huế bỏ xứ vào Nam lập nghiệp, tôi đã không có một cô bạn
thân người Huế, và những ý niệm sâu sắc về Huế như vậy.
Bà Hai Huế nấu ăn rất ngon, hình như tất
cả những thức ăn qua bàn tay cuả bà nấu nướng, đều trở thành
tuyệt vời, nó vừa miệng cả những người khó tính nhất. Bí quyết
để nấu ngon phải là nước mắm ngon, những khứa cá, con tôm vừa
cay, vưà thấm cái mặn ngọt cuả gia vị, khiến ăn xong vẫn cứ thòm
thèm mãi. Nhờ quen thân với Nga, tôi được thưởng thức bún bò giò
heo cay xé miệng, bánh lá, bánh nậm nhân tôm thịt, bánh bèo rắc
tôm khô chấy đỏ như ớt, và món cơm hến thật công phu. Cơm được
để trong những cái tô nhỏ, hến trên mặt cơm, một bát mắm ruốc
Huế đầy ớt chao mỡ, ăn với nước dùng chua chua ngọt ngọt và rau
bắp chuối trộn với rau thơm. Huế là vậy, là cơm nóng canh nóng,
là ớt cay, là vừa ăn vưà suýt soa mà nghe miếng ngon đã thấm vào
tì vị.
Nhưng món ngon cuả Huế dù mặn mà, đậm đà,
sâu sắc tới đâu, có lẽ chưa phức tạp bằng tâm hồn cô bạn Huế
cuả tôi. Hai đứa như hai thái cực, Nga kín đáo , trầm mặc, ít
nói bao nhiêu thì tôi lại liến thoắng, vui tươi bấy nhiêu, bao
nhiêu nỗi buồn, niềm vui, đau khổ , hạnh phúc tôi tháo ra như
nước vỡ bờ. Sau này khi hai đứa chơi với nhau thật thân, tôi mới
hiểu tâm hồn cô bạn tôi quả là một thế giới kỳ lạ. Một cơn sóng
ngầm dưới mặt nước phẳng lặng, một sự dồn nén nội tâm đóng kín
lại những ước vọng tự do mà không hiểu tại sao , Nga phải đày
đọa mình như vậy.
Hai đứa thân nhau đến nỗi ngày nào không
gặp nhau là ngày ấy ăn cơm không biết ngon, đó là nhận xét cuả
bà hai và mẹ tôi khi thấy hai đứa con gái lúc nào cũng rù rì
ngồi nói chuyện với nhau hàng giờ không biết chán. Thật ra thì
Nga không nói bao nhiêu, nhưng để tìm một người biết lắng nghe
như Nga hình như khó hơn một người biết nói. Tôi quý Nga ở chỗ
đó. Căn nhà cuả ông bà hai Huế lại chọn được địa điểm khá tốt,
vì nó ở cuối ngõ, khuất vào một dẻo đất bên bờ sông, cho nên
rất hợp cho lối sống kín đáo cuả họ. Trước sân, đã có sẵn một
bụi trúc, sau bà hai trồng thêm một giàn mướp hương, khoảng sân
ấy lại càng mát mẻ, thêm vài cây dừa nghiêng bóng soi mình trên
dòng nước, căn nhà ấy dường như phảng phất chút thơ mộng cuả
Huế.
Thời con gái có bao nhiêu chuyện để kể, để
nói, buổi chiều hai đứa hay trải chiếu ngồi bên hàng hiên mát
rượi, nhìn ra bờ sông để tâm sự. Ít khi nào Nga có chuyện gì để
kể tôi nghe, những ngày ở Huế có người ông khó tính hay bắt các
cô cháu sống theo khuôn phép. Nga cũng thú nhận rằng xa Huế cô
rất buồn, nhưng không khí thoải mái cuả miền Nam cũng rất là dễ
chịu. Trong khi tôi thoải mái kể cho Nga nghe đủ thứ chuyện,
những bài thơ tôi làm ở tuổi học trò, những truyện ngắn có bao
trăn trở về thời cuộc, sự mất mát, những thua thiệt dở dang,
những mối tình trong tiểu thuyết, rồi cả những xung đột tâm lý
giữa gia đình và bản thân, bất mãn cuả tuổi trẻ, tôi có hằng kho
chuyện để mà tâm sự với cô bạn Huế. Tuy còn ít tuổi, tôi cũng
biết dùng ngòi bút để giải toả những trở trăn, phiền muộn mà tôi
tưởng là dữ dội, nhưng thật ra chẳng có gì là ghê gớm cả.
Viết truyện và làm thơ nhưng không hề gửi
đăng báo, mà chưa chắc những tờ báo đã đăng truyện cuả tôi, cho
nên tôi cần có người hiểu và chia xẻ với mình, thì đã có cô bạn
tôi là độc giả đầu tiên cho những tác phẩm non nớt ấy. Nga rất
chịu khó lắng nghe, thỉnh thoảng cho tôi ý kiến hay đồng tình
với tôi về một quan niệm nào đó, bởi vậy mà tôi quý bạn lắm. Có
những hôm trời về chiều, mưa rích rắc, hai đứa kéo nhau ra quán
cà phê đầu ngõ uống cà phê đá, nghe nhạc, tán gẫu như hai bà cụ
non, rồi mơ mộng nhìn những giọt mưa màu cà phê từ mái tranh
rớt xuống. Đúng là những hành động quái gở cuả tuổi trẻ đầy bất
mãn trước con mắt cuả những người lớn nghiêm khắc, nhưng có lẽ
trong bối cảnh đất nước chiến tranh, tuổi trẻ nhìn thấy quá sớm
sự mất mát và tàn khốc, tâm hồn chúng tôi già đi lúc nào không
biết.
Qua câu chuyện, tôi mới biết gia đình ông
bà hai Huế cũng không mấy hạnh phúc, ông hai Huế với cái vẻ đạo
mạo, nghiêm khắc bên ngoài, lại không phải là con người thật
dưới con mắt non nớt cuả lũ trẻ con. Theo Nga kể, ngày còn trẻ
bố mẹ Nga đều là những người đi kháng chiến chống Pháp, ông Hai
là một thầy giáo, còn bà mẹ chỉ là một phụ nữ bình dân xuất thân
từ thôn quê. Đám cưới được tổ chức công nhận trong một buổi chào
cờ, một người thanh niên và một phụ nữ gặp nhau trong bước đường
đi kháng chiến, sống cùng một lý tưởng nhưng tình yêu thì khó mà
xác định được rằng có hay không. Tuy nhiên, trong thời gian này,
hai người cũng có với nhau một đứa con, chính là Nga, cô bạn cuả
tôi.
Lúc đó, ông hai dường như cảm nhận được sự
cống hiến tuổi trẻ cho lý tưởng nghe thì tốt đẹp, nhưng cuối
cùng thì hoàn toàn ngược lại. Biết sớm được điều đo, hai vợ
chồng bồng con bỏ chiến khu trở lại thành phố, ông hai trở lại
đời sống công chức, an phận sáng vác ô đi, tối vác về. Nga có
thêm mấy đứa em, hai đứa em gái tên Hoa và Mỹ, sau thêm một
thằng em trai út, ông hai đặt tên cho nó là thằng Đức. Những cái
tên cuả con cái trong nhà, đều là tên cuả các cường quốc, quả
ông bố cũng có cái đầu chính trị lắm.
Ngoài những gì Nga kể, còn một chuyện mà
mãi sau tôi mới biết, khi Nga bắt tôi thề thốt đủ thứ rồi mới kể
cho nghe. Chuyện ấy bà hai Huế không hay biết một mảy may, mà
giá có biết thì tự bà đã có một cách giải quyết là chịu đựng một
mình , như bản chất cuả người phụ nữ Huế, thích dấu kín những
cái khổ trong lòng. Cái uẩn khúc này là một nguyên nhân tâm lý,
khiến cô bạn tôi đã ít lời lại càng khó hiểu hơn. Khi tuổi trẻ
là tuổi cuả những thèm khát và yêu đương, tình yêu là những bướm
hoa muôn màu sắc thì Nga lạnh lùng ít khi nói tới, hay từ đấy,
Nga cho tình yêu chỉ là cái bẫy cuả đàn ông, mặt trái cuả tấm
huân chương trên ngực áo người chiến sĩ.
Đó là chuyện Nga tình cờ biết được bố
mình, người cha thật nghiêm túc với các con, lại đi yêu một
người đàn bà khác không phải mẹ mình. Nga rất thương mẹ, đối với
cô lúc ấy, hình ảnh người mẹ sẽ không có ai thay thế nổi, nếu
chả may bà có chết đi, thì khó có người đàn bà nào hiền lành,
nhẫn nhục, chăm sóc chồng con bằng bà hai Huế. Người tình cuả
ông Hai là một phụ nữ miền Nam, trẻ tuổi, có học, dáng dấp tròn
trịa và ăn nói có duyên, bà ta làm y tá trong bệnh viện, hai
người quen nhau khi ông Hai bị ốm nặng phải vào nhà thương, được
bà ta săn sóc. Rồi sau đó khi hết bệnh, hai người trở thành đôi
bạn thân. Không hiểu họ thành tình nhân cuả nhau tự bao giờ, hay
chỉ là đôi bạn thân rất thân mà đám trẻ không thể nào hiểu được,
nhưng tình cờ một lần đi đến nhà bạn học, Nga thấy bố mình và bà
ta đi vào một căn nhà nhỏ trong hẻm, ông hai Huế không ngờ cô
con gái mình cũng đang kín đáo đi đằng sau.
Cái cảm giác cuả Nga mô tả về buổi gặp gỡ
giữa hai cha con rất lạ kỳ. Mới đầu thì bừng bừng như lửa, sau
lạnh băng như nước đá. Ông hai Huế bất chợt quay lại và nhìn
thấy đôi mắt cô con gái, như một gáo nước lạnh dội xuống sống
lưng ngươì cha, cái nhìn mang một sự đau khổ và oán trách câm
nín, khi chạm mặ với ông bố, Nga vội vã quay ngoắt ra khỏi con
ngõ nhỏ, với đôi mắt đẫm lệ.
Nếu ông hai Huế là cha tôi thì đã may mắn
cho ông hơn, vì có lẽ nó đã nổ tung ra trong ngày hôm ấy, để ông
dù sao cũng trút được khối nặng nghìn cân trong lồng ngực. Nhưng
cô con gái cuả ông không cho ông cơ hội ấy, hay ít ra để được
nói thật một điều gì mà người ta hay gọi là lời trần tình cuả
trái tim. Nga không hề hé răng hỏi cha mình nửa câu, cũng không
nói cho mẹ biết điều đó để bảo vệ hạnh phúc, mà đối lại chỉ là
sự im lặng, câm nín . Mỗi khi trong nhà ông hai định nói một
điều gì với lũ con, Nga quay đi chỗ khác để tránh nhìn thẳng vào
mặt cha, rồi lặng yên với thái độ lạnh lẽo như một tảng băng.
Điều đó đối với ông hai là một trừng phạt câm lặng gớm ghê, bà
hai Huế vẫn không hề hay biết , vẫn chăm chỉ nấu những món ngon
cho chồng con, vẫn cơm bưng nước rót cho chồng, vẫn sống với cái
hạnh phúc đơn sơ mà bà nghĩ thế là đủ. Thật sự nếu bà Hai có
biết, tôi nghĩ bà vẫn không làm sao níu lại quả tim của ông đã
dành cho người đàn bà kia, con tim của người đàn ông thật rối
rắm thay, đối với một người đàn bà quê mùa như bà hai Huế.
Đó là một câu chuyện riêng khiến Nga, cô
bạn Huế cuả tôi , đã trở nên phức tạp và khe khắt với cả con tim
mình, khiến cô nhìn đời lạnh nhạt, nghi ngờ, u hoài và bỏ mất đi
nhiều niềm vui tuổi trẻ.
* * *
Một đêm trăng sáng, tôi và Nga trải chiếc
chiếu ra ngoài hiên ngắm trăng. Đêm đó , nước thuỷ triều lên,
mặt trăng sáng vằng vặc thấp thoáng sau hàng dừa nơi mé sông,
dòng nước lấp lánh ánh trăng vàng. Thấy Nga có vẻ suy tư, tự
nhiên tôi muốn cô bạn thân có cái nhìn thoáng đãng và bao dung
với cuộc đời, chứ không thể nhìn sự việc với lối suy nghĩ một
chiều đó mãi.
Nga hay đi nhà thờ, cô có thể ngồi hằng giờ
trong ngôi thánh đường im vắng để cầu nguyện, tôi thì cho là
điều đó quả vô ích, nếu Nga chỉ cầu nguyện mà không thấu triệt
được sự tha thứ. Tôi hỏi Nga:" Bạn có nhớ câu Kinh Thánh, người
ta sống không chỉ bởi bánh...", tôi im lặng nhìn Nga chờ đợi,
Nga cũng nhướng mắt lên nhìn tôi, rồi tiếp:" Đúng rồi, sống
không phải chỉ bởi bánh, mà vì...". Tôi cướp lời bạn, bằng cách
méo mó câu Kinh thánh :" Phải rồi, không phải sống để chỉ ăn
bánh, nhưng còn vì nhiều thứ khác , mà mình chưa nghĩ ra được".
Nga bật cười, tôi tiếp:" Có bao giờ bạn nghĩ, ông bố bạn cũng
đang cần những gì mà mẹ bạn không có chăng?". Nga lặng thinh,
hình như cô bạn Huế cuả tôi đang suy nghĩ lung lắm về câu nói
cuả tôi, ít là lúc ấy, hay có khi tâm hồn cô đã trưởng thành, để
hiểu rằng " con tim có những lý lẽ cuả nó".
Tôi và Nga có nhiều kỷ niệm rất đáng nhớ,
chẳng giống ai, hay là chính cái tính coi đời không có gì quan
trọng cuả tôi đã ảnh hưởng ít nhiều đến tâm hồn cô bạn gái trầm
lặng. Năm đó, tết Mậu Thân, buổi chiều hai đứa còn rủ nhau đi
nhà thờ dự lễ Giao Thừa, sau đó trên đường về, tạt vào một ngôi
chuà xem người ta hái lộc và lễ Phật, mỗi đứa xin một cây nhang
to và hái một nhánh lá xanh. Đêm sắp sang một năm mới, hai đứa
đi trong mùi hương phảng phất và cái bàng bạc cuả đất trời giữa
một đêm xuân, gió lồng lộng từ phiá sông thổi vào mát lạnh, cây
nhang lập loè trên lối về nhà, xem người ta đón Xuân, không phân
biệt được tiếng pháo hay tiếng súng trong đêm trừ tịch. Chỉ hôm
sau vào buổi chiều ngày mùng một Tết, nghe lác đác có tiếng
súng, nhưng ai cũng chỉ nghĩ là tiếng pháo mừng Xuân. Sáng mùng
hai, cuộc tổng tấn công Mậu Thân lan tràn khắp nơi, người trong
xóm hốt hoảng bảo nhau đổ nhau ra nhà thờ hay trường học lánh
nạn. Trong những ngày kinh hoàng đó, tôi và Nga đã có nhiều giờ
nằm bên nhau, nghe tiếng bom rền rền phiá ngoại ô thành phố.
Thời gian ấy, tin từ Huế đưa vào khiến ông
bà Hai ngẩn ngơ như mất hồn. Huế thất thủ, Huế chết thảm, chết
sầu, Huế tan tành gãy đổ theo vài nhịp Tràng Tiền, Huế hỗn loạn
trong cơn binh lửa. Ông Hai Huế thở dài, dường như không còn mơ
mộng với mối tình cuả người đàn bà miền Nam hương sắc, có những
êm dịu kỳ thú mà một thời tuổi trẻ ông không hề nắm được. Bà
Hai Huế nghe tin anh em, làng nước ngoài kia nhà tan cửa nát, kẻ
chết vùi chết dập không biết nắm xương tànvất vưởng nơi đâu. Bà
mất ăn mất ngủ, bà khóc cả ngày, bà lồng lộn gọi Huế trong những
đêm không ngủ. Lúc ấy tình trạng căng thẳng giữa hai bố con
cũng tự nhiên dịu hẳn đi, Nga không còn lãnh đạm với cha như
dạo trước, cô có vẻ dịu dàng hơn. Dường như trong không khí đó,
người ta cố nắm giữ lại những gì mình có, và cũng chính vì thế
mà có lòng yêu thương và vị tha hơn đối với tha nhân.
Riêng ông Hai Huế, tôi không biết ông nghĩ
gì, dạo này sau giờ đi làm về, ông chỉ loanh quanh với gia đình,
khổ sở với nỗi đau cuả Huế. Hình ảnh những ngày ly loạn đã in
một dấu ấn đậm trong lòng ông, hay là ông đang băn khoăn nghĩ
tới mối tình muộn màng cuả đời mình, đến quả không đúng lúc. Một
mối tình đến với một người đàn ông đã có gia đình, có bốn đứa
con và một bà vợ tuy quê muà nhưng hiền lành chân thật, nhưng
vẫn không san xẻ được với ông nhiều khiá cạnh tâm hồn mà ông cần
phải có. Ông như bị giằng co giữa lý trí và con tim, như một cái
xác không hồn giữa hai chữ tình nghiã và tình yêu mà cái nào
cũng cần, cái nào cũng nặng. Nhìn vẻ khổ sở cuả ông khi một
mình ngồi thui thủi trong bóng tối hút thuốc, ngó ra bờ sông lao
xao con nước lớn, tôi cảm thấy cô bạn tôi quả có cái nhìn hơi
khe khắt với người cha, và nỗi cô đơn u uẩn cuả ông khiến tôi
nhiều lần nghĩ là ông đã khóc trong bóng tối. Tôi thấy tội
nghiệp ông hai Huế, và ao ước được thay Nga để nói với ông sự
chia xẻ và cảm thông cho những mâu thuẫn nội tâm giữa gia đình
và tình yêu. Nghĩ thế nhưng tôi vẫn không nói được, vì không dễ
để nói một vấn đề tình yêu của người lớn, khi tôi còn quá trẻ.
Sau vụ Tết một thời gian, năm sau khi tình
hình yên ổn, không hiểu sao ông hai Huế quyết định đưa gia đình
trở về Huế. Một giải pháp dứt khoát để bà Hai được trở về sống
nơi chôn nhau cắt rốn cuả bà, và có lẽ cũng để chấm dứt mối tình
ngang trái cho nhẹ lòng. Lúc đưa tiễn gia đình bạn về Huế, Nga
rươm rướm nước mắt nhìn tôi và chỉ hẹn nhau sẽ có ngày gặp lại.
Bà hai Huế bịn rịn chia tay với những người hàng xóm, ai cũng
buồn, riêng ông hai Huế , tôi nghe có tiếng ông thở dài.
* * *
Từ đấy, tôi không bao giờ có dịp gặp lại
Nga, cô bạn Huế tâm hồn thật là khó hiểu và sâu sắc như cái u
trầm cuả đất Thần Kinh. Thỉnh thoảng tôi có viết thư cho Nga,
nhưng cũng ít khi nhận được thư hồi âm. Đời có biết bao mới lạ
để tôi cũng không còn thắm thiết lắm với cô bạn cũ, nhất là khi
đã có gia đình, nhưng đôi khi trong cuộc đời có những lúc buồn,
tôi vẫn ao ước được gặp bạn, vì tôi nhớ bạn có cái lắng nghe
rất dễ thương , mà hình như chỉ có bạn mới có mà thôi.
Qua một người bác họ cuả Nga, tôi được tin
gia đình ông bà hai Huế đã gặp nhiều khó khăn khi trở về Huế,
và tiếng thở dài của ông hai Huế khiến tôi riêng tôi nghĩ rằng
ông còn thêm sự đổ vỡ cuả tâm hồn. Ông hai vẫn sống cuộc đời
công chức, Nga đang đi dạy học, mấy đứa em gái đang theo ngành
Sư phạm hai năm ở Huế. Sau biến cố 75, bà Hai đưa gia đình trở
về làng cũ để sinh sống, Nga trở thành cô giáo làng quê. Ông
hai Huế cũng chịu chung số phận cuả bao người bại trận, bị đưa
đi tập trung cải tạo, ông vẫn không thoát được nơi mà ông đã
từng chạy trốn, không hiểu lần này ông có chịu nổi không?
Mười năm sau khi xa bạn, tôi mới có dịp tới
Huế, chuyến xe ra Bắc dừng lại ven bờ sông Hương để nghỉ ngơi
vào lúc gần nửa đêm, sau khi vượt đèo Hải Vân trong một buổi
tối trời đầy trăng. Mây như quấn quanh núi và núi chìm trong
mây, xứ Huế đẹp và kỳ bí như trời với núi, tôi bỗng nhớ cô bạn
cũ vô cùng. Trăng đêm ấy sáng lắm, sáng như ban ngày, bên kia bờ
sông mập mờ những khu vườn và những căn nhà âm u dưới ánh
trăng, trăng đẫm vàng trong lòng sông trong vắt, nhìn thấy rõ
cả những cọng rong và đàn cá nhỏ đang bơi theo đám rong rêu ấy,
Huế đẹp dị kỳ và phảng phất chút liêu trai. Nhìn ánh trăng giãi
xuống mặt sông Hương đêm ấy, tôi nhớ cô bạn cũ vô chừng, giờ này
không biết Nga đang ở đâu nơi xứ Huế?
Suốt bao nhiêu năm dài trôi qua, đời sao
khỏi có những lúc cô đơn và phiền muộn, tôi thèm một người bạn
biết lắng nghe để nói hết, để kể hết những buồn vui cuộc sống.
Càng lớn hơn, càng bước sâu vào cuộc đời, tôi cũng đã nhìn thấy
thêm rõ ràng cái mặt trái cuả bức bình phong nơi mỗi con người,
mỗi tâm hồn nó thăm thẳm khó mà hiểu nổi. Còn biết bao nhiêu
điều không đợi phủ chụp lên thân phận con người , sống chết chỉ
là chuyện bình thường, nhưng số phận nghiệt ngã thì đến như một
cơn gió không đợi, lòng người lại chẳng thấy bao dung.
Ước gì tôi được gặp lại Nga, để hỏi bạn câu
hỏi mà hình như sau bao nhiêu năm vẫn không có câu trả lời:
"Người ta sống không chỉ bằng bánh, mà còn bằng gì nữa Nga
nhỉ?". Không biết bạn tôi đã có lúc nào tha thứ cho sự yếu lòng
cuả người cha đáng thương ấy chưa? . Đêm ấy, nhìn ánh trăng lồng
trong bóng nước, tôi lại nghĩ vớ vẩn thêm được một điều, đôi
khi con người có những riêng tư mà không ai hiểu được, như con
tim vẫn có những điều kỳ cục.
NGUYÊN NHUNG
( Tặng người bạn xứ Huế)