|
Một
ngày thứ bảy, Linda dậy muộn. Nàng đưa cặp mắt xanh biếc như
nước hồ thu lặng lờ nhìn qua khung cửa kính, tấm màn mỏng màu
hồng điểm những chiếc hoa lấm tấm thật xinh. Ngoài kia nắng đã
ươm vàng trên cỏ cây, sắc trời xanh biêng biếc với những giải
mây trắng ngời ngời báo hiệu một ngày tuyệt đẹp.
Đã
bắt đầu sang Xuân, đợt gió đông cuối cùng vừa qua như người con
gái cất vội tấm áo ngự hàn nặng nề, ảm đạm, đất trời đã mặc vội
một chiếc áo mới phới phới của mùa xuân. Tự nhiên Linda cũng cảm
thấy có vạn điều đổi khác cho chính bản thân nàng, từ trong sâu
thẳm của trái tim sau cuộc giải phẫu cực kỳ khó khăn và nguy
hiểm, đánh dấu một thành công vượt bực của ngành y khoa Hoa Kỳ.
Năm
vừa qua, Linda bị một chứng đau đầu kỳ lạ, nàng không thể nào
suy nghĩ hoặc làm một việc gì trọn vẹn. Căn bệnh quái ác ấy đã
lấy đi hầu hết sinh lực và hạnh phúc của người phụ nữ mới bước
vào tuổi ba mươi, vừa lập gia đình với một khoa học gia trẻ
tuổi, đang làm việc ở trung tâm không gian NASA với mức thu
nhập cao. Hai vợ chồng son, con cái chưa có, Linda là mẫu phụ nữ
rất tự tin, tâm hồn nàng giống như cây thông vươn lên mạnh mẽ
trên đỉnh đồi cao, đùa với nắng và gió.
Linda
vướng bệnh một cách đột ngột sau những cơn đau đầu dai dẳng, dù
tự tin cách mấy Linda cũng nhận ra rằng không đủ sức chịu đựng.
Nàng phải vào nhập viện, người ta phát hiện ra những cái bướu
độc đang hình thành làm tắc nghẽn hệ thống thần kinh não bộ. Mặc
dù các bác sĩ cố gắng tìm mọi cách chữa trị, nhưng bệnh tình vẫn
không thuyên giảm, rồi trong những cơn đau đứt quãng đó, Linda
có linh cảm sự sống như cơn gió đang ngưng nghỉ chờ cơn bão lớn.
Nàng đã nhìn thấy nỗi thất vọng và đau xót lớn lao trong đôi mắt
nâu buồn bã của chồng.
Bob
yêu vợ, chàng hiểu rằng mình sắp mất đi viên ngọc quí của đời
chàng, cho nên tất cả thời gian còn lại chàng dành hết trong
việc kề cận, săn sóc nàng, vì chàng biết sớm muộn gì nàng cũng
ra đi. Chỉ còn một giải pháp cuối cùng, nếu Linda được các nhà
khoa học tài danh thay cho nàng một bộ óc khỏe mạnh, của một
người nào đó chẳng may thiệt mạng vì một tai nạn mà vẫn giữ
nguyên được bộ óc ngay lúc lìa đời. Và nếu như cơ thể của nàng
chấp nhận "người khách lạ" trong tình thân hữu, cơ may sống sót
của Linda mới hy vọng như một phép lạ.
Đúng
lúc đó, người ta báo cho chàng một tin vui. Một phụ nữ Việt Nam
khoảng gần bốn mươi tuổi vừa qua đời trong một tai nạn, người
thân của bà đồng ý hiến tặng bộ óc của nạn nhân cho khoa học.
Đây là một biến cố vĩ đại xảy ra cho nhân loại, khi người ta đã
thay tim, thay gan, thay phổi thành công cho một số bệnh nhân,
nhưng thay óc thì quả là chưa ai nghĩ tới. Người ta cũng hiểu
rằng, dù thay hay hay không thay, thì Linda cũng đang trên đường
đi đến cõi chết. Bob nhanh chóng quyết định việc thay óc cho vợ,
nếu cuộc giải phẫu có một không hai này thành công, Linda may
mắn thoát chết, tâm tính nàng có bị thay đổi ít nhiều thì Bob
vẫn bằng lòng.
Cả
thế giới hồi hộp theo dõi ca mổ thay óc cho Linda trên màn ảnh
truyền hình, trên Internet và các mạng lưới thông tin, báo chí.
Đâu đâu cũng nghe người ta bàn luận sôi nổi về sự tiến bộ của
khoa học. Ngành y khoa như có chiếc đũa thần, đã mạo hiểm giành
giựt mạng sống con người trong bàn tay Thượng đế.
Sau
bao ngày mê man trên giường bệnh, đột nhiên một ngày kia Linda
mở bừng con mắt để ngỡ ngàng nhận ra một thế giới mới mẻ đã hồi
sinh trong cơ thể nàng. Các nhà khoa học hớn hở, hân hoan vì sự
thành công của họ bao nhiêu thì Bob, chồng nàng hân hoan bấy
nhiêu. Sự sống đã trở lại tràn ngập trong đôi mắt xanh biếc kia,
chàng hình dung thấy cả một mùa hè vùng Địa Trung Hải, nắng ấm,
biển xanh, những cánh chim hải âu và rặng thùy dương rì rào
trong gió.
Linda
còn phải ở lại một thời gian trong bệnh viện cho tới khi hoàn
toàn bình phục, như để bộ óc kia có thời gian nối kết với
những mạch máu li ti trong từng tế bào của não bộ. Như những
chiếc rễ lan tỏa trong lòng đất, giờ đây nó đã thực sự sống, để
tiếp tục cuộc hành trình tư tưởng trong thân xác một người xa
lạ.
Riêng
Linda giờ đây rất lặng lẽ, không bày tỏ được cái cảm giác mâu
thuẫn trong tâm tư nàng. Tuy nhiên nàng vẫn nhận ra Bob, chồng
nàng, để rồi vẫn lúng túng, thẹn thùng một cách kỳ cục khi Bob
hôn nàng giữa đám người tò mò vây xung quanh. Linda có cảm tưởng
mình chưa hề hôn chồng trước mắt mọi người bao giờ, mặc dù trước
kia nàng vẫn làm như thế. Lắm khi sự xấu hổ của nàng, cũng
khiến Bob ngỡ ngàng như bị ai xô té bất ngờ. Tuy nhiên, Bob
không hề hờn giỗi, chàng hiểu sự bối rối của vợ, Linda như một
người chết vừa được hồi sinh, cần phải có thời gian để hội nhập
những thói quen cũ.
Khởi
đầu lại một cuộc sống quả có khó khăn cho Linda. Nàng đã phải
suy nghĩ khó khăn mới diễn tả được cảm tưởng với chồng, bằng thứ
tiếng mẹ đẻ mà nàng đã phải sắp xếp sao cho ổn thỏa như thói
quen khi dùng tiếng nước ngoài, để giao thiệp với người không
cùng chủng tộc. Nàng ngập ngừng bày tỏ với chồng về vẻ đẹp của
khu vườn nhà khi mùa xuân tới, những chiếc lộc non mượt mà như
ngọc thạch trên rặng cây khẳng khiu, gió xuân chừng như đang
vuốt ve trên những chiếc lá non. Đồng thời trong lúc ấy, Linda
cũng có một nỗi nhớ kỳ dị về một nơi chốn rất xa xăm. Hình như ở
đấy có một dòng sông mênh mông, những đóa hoa tím bập bềnh trôi,
những thân dừa nghiêng ngả lả lơi như đùa với sóng nước, những
con đường đất ngoằn nghoèo mát rượi bóng tre xanh. Tất cả những
hình ảnh ấy như chập chùng, lượn lờ trong tâm trí nàng, trong
sâu thẳm mịt mùng tận cùng của dĩ vãng, khiến Linda đôi khi muốn
khóc khi biết mình khó có thể quay về, nắm bắt lấy những gì thân
yêu nhất của trái tim.
Linda
cảm thấy có hai con người khác nhau trong đời sống của nàng.
Hiện tại là hạnh phúc đã trở về, là hình ảnh Bob, là căn nhà
xinh xắn đầy đủ tiện nghi, là những cuộc thăm viếng của thân
nhân, bè bạn. Sáng chủ nhật nào Bob cũng đưa Linda đến nhà thờ,
nàng xuất hiện như một vầng hào quang của phép lạ. Mọi người xúm
xít quanh nàng, ôm hôn nàng. Vị linh mục say sưa giảng về hồng
ân của Thượng đế dành cho tôi tớ hèn mọn của Ngài, Linda chìm
ngập trong sự thánh thiện và thân ái. Bao nhiêu câu hỏi được đặt
ra với nàng, từ các khoa học gia, tâm lý gia, các nhà truyền
giáo, những kẻ tò mò, mỗi người một kiểu làm nàng mệt bã người.
Linda đã trở nên rụt rè, lúng túng khác hẳn vẻ tự tin và kiêu
hãnh của người đàn bà đẹp, có học thức trước kia.
Điều
gì đã xảy ra thế? Linda không làm sao hiểu nổi nỗi nhớ nung nấu
trong hồn nàng, khi nhớ về một tiếng sáo vẳng trên không gian
mỗi buổi chiều hè. Âm thanh buồn buồn sâu lắng của tiếng chuông
chùa mỗi buổi thu không, gợi nàng nhớ đến một mùi hương phảng
phất, thật êm đềm giữa cái quạnh hiu của miền thôn dã lúc hoàng
hôn. Lắm khi nỗi nhớ ấy thiết tha khiến Linda phải bậm môi cố
ngăn một tiếng nấc đang muốn thoát ra khỏi lồng ngực. Sao thế
nhỉ? Nàng chạy vội vào nhà, rửa mặt, soi gương. Ồ không, tôi vẫn
là một người Mỹ đấy chứ? Nước da trắng, đôi mắt xanh, mái tóc
vàng óng ả từng lọn phủ lấy khuôn mặt xinh đẹp của nàng, lớp
lông tơ mịn màng trên đôi cánh tay thon, và trong tấm gương, sau
lưng nàng là hình ảnh Bob, đang âu yếm mỉm cười. Bob hôn vợ, lần
này thì Linda không né tránh nụ hôn của chồng, nàng đón nhận với
tất cả nỗi ngất ngây. Khi chỉ còn hai người với nhau, Linda vẫn
thấy tình yêu ngập tràn trong tình chồng vợ.
Có
rất nhiều thay đổi trong con người của Linda, để đôi khi nàng có
cảm tưởng phải cố quên đi những thói quen, tập tục của mình khi
kết hôn với một người ngoại quốc. Những tối ngồi xem truyền
hình chiếu một vài phim về Việt Nam, Linda lại cảm thấy nơi
chốn ấy hình như rất quen thuộc đối với nàng. Những cánh cò trên
đồng xanh bát ngát, những người dân đầu đội nón lá, quần xắn lên
quá gối đang lom khom trên thửa ruộng sâu, thằng bé ngồi trên
mình trâu áo vá vai vẫn là những gì thân thương làm nàng xúc
động. Linda cứ vừa xem phim vừa thổn thức khi nhìn cảnh chiến
tranh xảy ra trên miền quê của một đất nước xa xôi. Làng xóm tan
hoang, đổ nát, người đàn bà đầu chít khăn tang đang gục xuống
khóc thảm thiết trên mộ chồng. Rồi cảnh phố về đêm, người phu xe
uể oải đạp từng vòng xe trên con đường ánh đèn vàng nhòa nhạt
dưới mưa.
Lắm
lúc Linda có cảm tưởng nàng cần phải đi tìm lại quá khứ của
mình, ở đâu đó bên kia bờ đại dương, bằng cả nỗi nhớ nhung ray
rứt trong những đêm nửa khuya thức giấc. Mơ hồ như nàng có một
người mẹ, một người cha, một người tình, đám em dại mà nàng còn
vướng mắc trong một khoảnh đời của dĩ vãng. Linda cũng sững sờ
nhận ra một sự thật hiển nhiên, cho rằng mình lầm lẫn một cách
tệ hại khi rõ ràng nhìn thấy những bức ảnh của cha mẹ nàng, của
vợ chồng nàng treo trên bức vách cạnh lò sưởi ngoài phòng khách,
Bob đang nghiêng đầu bên nàng như một chở che tuyệt đối. . .
* * *
Thế
là Linda đã qua cơn bạo bệnh, phép lạ chứ đâu phải đùa. Rõ ràng
thì khoa học đã chứng minh được sự tiến bộ của nhân loại, nhưng
nếu Thượng Đế không ban cho điều may mắn thì giờ này tôi đã mồ
côi vợ.
Bây
giờ thì nàng đã trở về nhà với bộ óc mới của một người phụ nữ
Việt Nam trong đầu, nhưng tôi đã tâm niệm rằng dù có gì thay đổi
đi chăng nữa thì tôi vẫn yêu nàng. Hình như nàng còn dễ chịu hơn
cả con người của nàng trước kia, lặng lẽ hơn, trầm mặc hơn, dịu
dàng hơn, và có một điều nghịch lý hơn, trước kia nàng không có.
Đó là việc nàng chiều chuộng, săn sóc dành cho tôi nó lạ lùng
lắm kia, tôi không biết tại sao nhưng cảm thấy dễ chịu hơn trước
nhiều. Việc gì phải thay đổi hay khó chịu vì một sự đổi khác tốt
đẹp hơn trước, lắm khi tôi có cảm tưởng Thượng Đế dường như bắt
đầu đãi ngộ cho tôi một người phụ nữ dễ thương đến thế là cùng.
Tôi
không muốn Linda đi làm nữa, coi bộ nàng cũng thích như vậy. Giờ
đây, nàng như một con người đầy chất thơ, mong manh, dễ vỡ nếu
phải đụng chạm với đời. Mụ trưởng phòng của nàng khó tính, hay
cau có, lũ nhân viên coi vậy lại hay tò mò, Linda dễ bị xúc phạm
vì những hạng người ấy. Với lại, cái "job" của tôi ngon lành, dư
sức bảo đảm cho nàng sung sướng, có thêm một hai tí nhau nữa
cũng chẳng sao.
Hình
như Linda bây giờ chẳng đòi hỏi gì, nhất là vấn đề vật chất,
tranh đua với thiên hạ thì nàng hoàn toàn dửng đưng. Khó kiếm
lắm đó. Dạo trước hai đứa thường hay nhức đầu vì những khoản
chi tiêu lỉnh kỉnh chẳng ra thế nào cả. Nào tiền nhà, tiền sách
vở, âm nhạc, hoa hoét, quà cáp, lễ lạc, ngân khoản dành cho kỳ
nghỉ hằng năm, hội này, hội nọ, quần áo giày dép thứ nào ra thứ
đó, vẫn cứ là vấn đề hàng đầu phải băn khoăn trong đời sống của
hai đứa.
Trong
lúc tôi đi làm Linda lục đục cả ngày trong bếp, tự nhiên nàng
lại thích nấu nướng, cái vụ này trước kia nàng đã từng đả phá,
khi tranh luận với bạn bè nàng cho rằng không có gì chán nản cho
bằng người đàn bà suốt ngày quanh quẩn chuyện bếp núc. Người Mỹ
ăn uống dễ dãi và đơn giản, ra chợ cứ khuân về hàng đống đồ hộp,
thịt nguội, bánh mì, trái cây, không phải đun nấu mà lại rẻ, đầy
đủ chất bổ dưỡng.
Sáng
chủ nhật qua, đi nhà thờ về Linda đề nghị tôi đưa nàng đi ăn.
Được quá đi chứ, lâu rồi tôi vẫn nhớ cái món kem dâu tuyệt cú
mèo ở nhà hàng Ryan, nhưng Linda cứ lắc đầu quầy quậy nhất định
đòi ăn thực phẩm Á Đông. Nhà hàng Tàu thì nàng chê lắm mỡ, chúng
tôi ghé vào một quán ăn Việt nam, ở đấy có một món soup thập cẩm
mà người ta gọi là phở, gồm có thịt, bánh bột gạo sắt sợi cùng
đủ mọi thứ gia vị. Khi người bồi bàn bưng hai tô phở ra, tôi
thấy nét mặt Linda khoan khoái hẳn lên, mắt nàng sáng long lanh
khi ngửi thấy mùi vị thơm tho của hành ngò bốc lên từ tô phở.
Chúng tôi bắt chước những người xung quanh cầm đũa, tôi lọng
cọng gắp mãi không xong, riêng Linda lại có vẻ khá quen thuộc
với kiểu ăn uống này. Những cọng giá trắng mập mạp, tươi mát,
chút tương đen, chút tương đỏ, vài cọng rau thơm, vài lát ớt, tô
phở đã có đủ mùi vị hấp dẫn của nó. Linda vừa ăn vừa hít hà vì
ớt cay, vì phở nóng, mồ hôi tuôn ra nhễ nhại, hình như nàng sung
sướng lắm nên đôi má đỏ hồng lên, mắt long lanh nhìn tôi cười
chúm chím. Chưa bao giờ nàng đẹp đến thế, mà ngay cả tôi cũng
quá dễ chịu với món "soup" ngon lành, đầy đủ gia vị như vậy. Vừa
no lại vừa rẻ, khác hẳn cái món "soup" gà nấu với mì sợi nhão
nhoét.
Từ
đấy, tuần nào tôi cũng đưa nàng đi ăn phở. Lúc thì cơm chiên chả
giò, khi lại bánh cuốn giò lụa, bún thịt nướng, cái nào cũng dễ
tiêu hóa đến nỗi vừa ăn xong đã lại thèm. Cái hôm mẹ tôi từ
Cali sang thăm các con, nhân dịp nghe con dâu mới khỏi bệnh,
Linda đã làm tôi sung sướng quá. Ba tôi qua đời cả chục năm nay,
mẹ tôi vẫn ở một mình khi người con gái đi lấy chồng, còn tôi
học xong cũng cắp gói đi biền biệt cho đến khi lấy vợ. Mỗi năm
tôi về thăm mẹ một, hai lần, không bao giờ ở lâu và có khi lại
còn mướn "hotel" để vợ chồng thoải mái với nhau. Ai có đời sống
nấy, hình như mẹ tôi cũng quen như vậy và tôi cũng cho đấy là
chuyện tự nhiên.
Linda
theo tôi ra phi trường đón bà cụ, mẹ tôi mừng rỡ vì sự khỏe mạnh
cuả nàng dâu. Tối hôm ấy, Linda sửa soạn một bữa ăn thật là tươm
tất, thực đơn gồm một đĩa "salad " trộn dầu giấm thịt bò, cơm
chiên với tôm và trời ạ, cả món chả giò Việt Nam nữa. Cái món
chả giò ngon tuyệt ấy đòi hỏi lắm thứ lỉnh kỉnh, lại phải chiên
ròn lên ăn với nước mắm chua ngọt kèm rau sống. Không biết vợ
tôi chuẩn bị từ bao giờ, nhưng lúc thấy nàng đem chiếc bếp ga ra
ngoài sân để chiên, tôi mới biết vợ tôi đã sửa soạn từ lâu. Mẹ
tôi ngạc nhiên lắm, tôi thấy đôi mắt hoe của bà nhướng mãi lên
như muốn hỏi : „What's happen? „, mà miệng
thì cứ “ Oh! My God “ rối rít cả lên. Chưa bao giờ Linda quan
tâm, săn sóc bà cụ như lúc này. Mấy lần trước cả nhà cứ đưa nhau
ra nhà hàng, tha hồ mà “ All you can eat “ thoải mái.
Bà cụ
ở chơi với các con hai tuần, hai tuần lễ tôi sống trong hạnh
phúc vì không khí ấm cúng của gia đình. Mọi lần Linda đâu có
thích bà cụ ở lâu, hình như cụ cũng biết điều đó nên chỉ ở chơi
vài hôm rồi kiếm cớ mau mau đi về, không dám làm phiền con cái.
Lần này, Linda đã bày tỏ sự ái ngại của nàng, khi thấy mẹ tôi
ngày một già, cứ lủi thủi một mình như thế, có ngày chết không
ai hay. Nàng đề nghị bà cụ rời Cali sang ở với vợ chồng tôi, để
nàng có dịp săn sóc chu đáo hơn.
" Oh
! My God ", bây giờ thì đúng là " phép lạ " đang xảy ra trong
nhà tôi. Mẹ tôi cảm động đến run rẩy, cái miệng móm mém ngoạc ra
cười ngô nghê mà hai giọt nước mắt đã ứa ra trên khóe mắt hấp
háy, nhăn nheo. Đúng là Thượng Đế đang làm phép lạ, mẹ tôi rất
tin Chúa cho nên cứ cho là phép lạ đã xảy ra trong cuộc đời bà.
Có lẽ nào như thế, riêng tôi thì lờ mờ nhận ra rằng, khối óc
người đàn bà Việt Nam dịu hiền kia đã hòa nhập vào Linda, đang
đưa nàng đi vào cái nhân nghĩa của đạo làm người, vốn tiềm tàng
trong lòng dân tộc họ.
Từ
nay, Linda chăm sóc tôi đúng nghĩa một người vợ hiền Á Đông. Tôi
rất cảm động khi nàng cắm cúi ngồi may lại những đường chỉ bị
tuột, đơm lại chiếc nút áo cho tôi và sáng sáng, nàng dậy sớm
chuẩn bị thức ăn để tôi mang theo đi làm. Luôn luôn, Linda có
một dáng dấp dễ thương của người đàn bà Á Đông tiềm ẩn trong tâm
hồn nàng, dù bên ngoài nàng vẫn là một phụ nữ Tây Phương xinh
đẹp, đầy sức sống. Tất cả những điều ấy làm cho tôi sung sướng
suốt cả ngày, rồi chỉ muốn hét lên cho mọi người biết rằng, tôi
đang là một người chồng hạnh phúc.
NGUYÊN NHUNG
Trở về Trang Chính
|