|
Lời
người viết: Thân phận con người giống như là Hạt Cát, đến rồi
đi, hiện hữu rồi tan biến, trong mênh mông của biển đời vô cùng
vô tận. Mỗi một gặp gỡ, mỗi một chia xa, chỉ là sự lăn đi của
những Hạt Cát. Nguyên Nhung xin gửi đến quý độc giả câu chuyện
Hạt Cát, không ngoài mục đích làm nhẹ đi những đau khổ đang đè
nặng trên thân phận con người.
* *
*
Ngôi
chùa nằm trong một hẻm sâu, bao xung quanh là một khu đất vuông
vức trồng nhiều cây ăn trái và hoa để cúng Phật. Trước tiên,
người ta nhìn thấy một hàng rào trồng toàn hoa mẫu đơn đủ loại,
quanh năm ra hoa rất đẹp, khác biệt hẳn với những căn nhà ngói
cổ của cư dân sống gần nơi đó. Vào mùa Xuân, con đường này bỗng
dưng óng ả lên vì những cây mai trồng trước sân nhà đã nở rộ,
người ta thích đi đến đây vào ngày Tết, trước vãn cảnh chùa sau
để tìm cho mình một sự yên tĩnh. Chỉ cách một đoạn đường ngắn
với con lộ chính đầy những xe cộ và bụi đường, ngôi chùa và xã
hội ngoài kia gần như là hai thế giới khác biệt hẳn nhau.
Tôi
vẫn thường đến chùa ngày mùng một Tết, dù chưa hề là một Phật
tử, chưa bao giờ đọc một câu kinh Phật, và tôi đi chỉ vì thói
quen của những người nhàn rỗi, đầu năm đi tìm một nơi nào đó để
du xuân. Sau khi tới chúc Tết gia đình một người bạn ở gần đấy,
thấy tôi trầm trồ những cây mai vàng trước ngõ, chị liền rủ tôi
đến vãn cảnh chùa, vì sân chùa có nhiều loại mai quý, vào mùa
Xuân hoa nở rộ lên như một tấm lụa vàng trải dưới nắng mai.
Sau
khi theo chị bạn vào lễ Phật trong chánh điện, chúng tôi rủ
nhau ra xem những hoa kiểng trồng rải rác trong mảnh sân sau, có
một vài phụ nữ mặc áo màu lam đang loay hoay rửa rau bên bờ
giếng. Đó là những người quanh năm tới chùa làm công quả, họ
đang sửa soạn cho bữa cơm cúng Ngọ ngày mùng một Tết. Khi tới
con đường gần bên bờ giếng, tôi chợt đứng lại để nhìn theo một
người phụ nữ mặc chiếc áo màu lam, mái tóc được cuốn lại bằng
một chiếc kẹp tóc, để lộ ra chiếc cổ xinh xẻo, vì cô đang cúi
xuống để ra sức kéo chiếc thùng đầy nước từ giếng lên, đổ vào
một chiếc chậu lớn để rửa rau. Hình như cô chưa quen với công
việc nặng nhọc này, dáng dấp của cô đã chứng tỏ điều đó. Chị
bạn thì thầm vào tai tôi:
"
Mình sẽ giới thiệu với chị một nhân vật đặc biệt của ngôi chùa
này, cái người đang kéo nước bên bờ giếng đó. Chị Trinh trước
từng là giáo sư dạy Việt văn trường Phổ thông cấp Ba thành phố .
. . "
Tôi
yên lặng đứng ngắm nhìn tấm lưng thon thả trong chiếc áo màu lam
rộng, cô ta vẫn không dấu được nét thanh tú của một thời xuân
sắc. Vẫn chăm chỉ làm công việc của mình, mãi tới khi bạn tôi
lên tiếng gọi, cô mới ngừng tay và quay lại chào hỏi. Đôi môi
xinh xắn ấy vừa thốt lên câu " Mô Phật!" là tôi đã ngỡ ngàng như
được đẩy ngược trở về một khoảng thời gian nào đó, vì người phụ
nữ mặc áo màu lam, chính là cô bạn học cùng lớp với tôi ngày
xưa.
Chúng
tôi nhận ra nhau rất nhanh, dù thời gian qua đi có đến hơn mười
lăm năm, thuở chúng tôi mới mười sáu mười bảy tuổi. Nụ cười ấy
, ánh mắt ấy, khuôn mặt ấy vẫn sáng ngời như hình ảnh bạn tôi
những năm còn đi học. Tôi làm sao quên được hình ảnh Trinh những
ngày còn đi học, bởi vì ngoài khuôn mặt sáng sủa và nụ cười
tươi, Trinh còn là một cô học trò con nhà giàu, học giỏi. Buổi
Tất niên năm ấy, bạn tôi là trưởng ban Văn nghệ, tính tình vui
vẻ, có năng khiếu âm nhạc nên cũng nhờ Trinh mà cả lớp được một
buổi liên hoan đặc biệt hơn những năm khác. Gia đình Trinh rất
khá giả, được hấp thụ nền văn minh phương Tây cho nên tính cô
bạn tôi vì thế mà rất hồn nhiên, cởi mở, trong khi các bạn đồng
tuổi thời ấy đã có nhiều mối lo, kẻ mong đỗ đạt để tìm được một
việc làm tương đối nuôi thân, lớp nam sinh đa số chuẩn bị lên
đường nhập ngũ.
Chính
vì thế mà lúc gặp lại Trinh trong lớp áo màu lam nhạt bên bờ
giếng, nhẫn nại kéo từng thùng nước đầy để rửa rau, tôi vẫn cứ
thắc mắc hoài về cô bạn cũ. Trinh vui vẻ giao công việc lại cho
một người khác, rồi dẫn tôi và chị bạn đi thăm vườn rau của chùa
ở phía sau, bây giờ đang mùa cải xanh và rau tần ô, có những con
bướm lượn lờ trên luống hoa thơm. Hai đứa tôi nhìn nhau cười,
nhắc lại những khuôn mặt bạn bè năm xưa, hoàn cảnh sống của mỗi
người trong hiện tại, có thể Trinh đang cố nhớ lại những kỷ niệm
mùa Xuân thuở còn đi học, còn tôi thì vẫn băn khoăn về sự thay
đổi của bạn, từ hình ảnh một cô thiếu nữ đợt sóng mới năm xưa,
tới hình ảnh người tu nữ bây giờ.
Chị
bạn tôi bận việc phải về trước, buổi đầu xuân năm ấy chỉ còn
tôi với Trinh ngồi bên nhau nơi chiếc tràng kỷ đặt bên hiên
chùa ở sân trước. Mắt vẫn nhìn ra khoảng sân ngập đầy nắng sớm
trên những cành mai vàng óng ả, Trinh kể cho tôi nghe những
truyện xảy ra cho bạn tôi từ khi cô từ giã mái trường, bước chân
vào cuộc đời đầy thăng trầm, đau khổ.
*
* *
" Tôi
rời Cần Thơ vào những năm cuối của thời kỳ Trung học, vì gia
đình có cơ sở làm ăn ở Sài Gòn. Tuy vậy, tôi vẫn không quên được
không khí vui nhộn, thân thương của mái trường tỉnh lỵ, vì sau
nhiều năm học, tôi có rất nhiều bạn bè, và có biết bao nhiêu kỷ
niệm vui buồn nơi mái trường ấy. Tôi vẫn còn giữ cuốn Lưu Bút
Ngày Xanh của các bạn cùng lớp. với nhiều tấm hình chụp chung ở
sân trường.Tôi nhớ từng con đường hằng ngày mình đi học, hàng
phượng đỏ nơi công viên mỗi chiều hè, bến sông, con đò nhỏ đưa
đón người từ bờ bên này sang bờ bên kia.
Sau
khi học hết bậc Trung học, vì thích làm nhà giáo, tôi theo học
Sư phạm bốn năm ở trường Đại Học Sài Gòn, khi ra trường tôi trở
thành một giáo sư đệ nhị cấp. Thời gian ấy chỉ vỏn vẹn được ba
năm, sau đó người ta gọi là giáo viên cấp Ba. Tôi may mắn được
dạy trong một trường Trung học ở thành phố, cho nên đời sống
cũng khá dễ chịu. Tôi lập gia đình năm 25 tuổi, với một người
lính ở một đơn vị xa thành phố. Anh ấy là người bạn cùng thời
sinh viên với tôi, sau đó bị động viên đi sĩ quan Thủ Đức, và
đến ngày tan hàng thì anh ấy cũng phải đi tù như bao nhiêu người
lính khác.
Chúng
tôi quen nhau ngay từ lúc cả hai còn thích đi hát với nhau trong
nhóm sinh viên của Trường Đại học, mối tình nghệ sĩ cứ nảy nở
thêm khi hai đứa cùng có những sở thích giống nhau. Bạn nhớ
không? Hồi còn Trung học, tôi đã từng tổ chức những buổi dạ vũ
nhảy nhót với bạn bè, tụi mình vẫn ca những bản nhạc Pháp thịnh
hành hồi ấy, và Dalida là ca sĩ Pháp mà tụi mình rất ái mộ .Thời
ấy tụi mình trẻ trung và yêu đời biết bao, chẳng bao giờ biết
buồn cả.Thế mà, không ai đoán trước được những gì sẽ xảy tới ở
tương lai phải không bạn?
Bạn
hỏi về ba má tôi ư? Hồi ấy, hãng buôn của ba tôi là một trong
những hãng khá nổi tiếng ở Sài Gòn, thế nhưng sau này chính ba
má tôi lại khổ vì những của cải do ông bà tạo nên. Mất hết rồi,
đâu có ai giàu mà còn đứng được trong thời buổi đó, ba má tôi về
quê hồi hương theo người con trai lớn, được ít lâu má tôi bịnh
hoài nên đi trước, ba tôi cũng buồn rồi theo sau, anh chị tôi
tạm thời buôn bán nhỏ sống qua ngày, cho tới khi chồng tôi đi tù
về, họ rủ nhau tính chuyện vượt biển. Chuyến tàu ấy chỉ cho
những người đàn ông đi trước, mà lúc đó cũng đâu có tiền để đi
hết một gia đình, cho nên, đó là lý do tại sao anh tôi và chồng
tôi cùng chết một lượt ngoài biển khơi.
Sau
này thì tôi cho là cái nghiệp của mỗi người phải chịu, nhưng hồi
ấy chưa bao giờ tôi lại cảm thấy mình bị mất mát khổ đau như
vậy. Mất một người anh ruột thịt, mất luôn cả người bạn đầu gối
tay ấp, tôi thấy mình bơ vơ giữa giòng đời đầy nghiệt ngã, và
không làm sao quên được những ngày hạnh phúc cũng như khổ đau
trong tình anh em, chồng vợ. May là tụi này chưa có con, vì vừa
lấy nhau xong được ít lâu thì anh ấy đi tù, và khi anh ấy về tụi
này không dám nghĩ tới chuyện có một đứa con vào lúc ấy. Bởi vì
anh ấy chỉ nghĩ đến chuyện ra đi, tìm một tương lai tốt đẹp rồi
mới nghĩ tới chuyện có những đứa con. Tôi không biết bây giờ bạn
có mấy đứa con rồi, nhưng tôi làm nhà giáo, hằng ngày tiếp xúc
với học trò và phụ huynh học sinh, tôi hiểu nỗi khổ của nhiều
bậc cha mẹ, hình như họ cứ càng ngày càng tuyệt vọng đi vì không
lo nổi cho con đầy đủ cơm ăn áo mặc.
Khi
được báo tin chuyến tàu cuả anh tôi và chồng tôi đi bị mất tích
trên biển Đông, vì trông chờ mãi mà không có tin về. Người ta
cho biết cơn bão tháng mười hai năm ấy đến bất ngờ quá, hầu như
tất cả những chuyến ra khơi vào mùa bão ấy đều không có chiếc
nào tới được bến bờ bên kia, chiếc nào may thì quay ngược trở
về, nhưng cũng lâm vào cảnh tù tội. Giá anh ấy đừng chết, có
phải tù tội thì tôi cũng còn hy vọng găp lại anh ấy, nhưng phần
số con người có lẽ trời chỉ cho có bấy nhiêu, thành ra lần ra đi
ấy ai ngờ lại là lần biền biệt cõi thiên thu.
Có lẽ
bạn cũng hiểu nỗi đau khổ của tôi, vì ít nhiều gì chúng ta cũng
có những nỗi khổ gần gần giống nhau. Tôi không còn tâm trí đâu
để tiếp tục dạy học, vì ngồi đâu tôi cũng nhìn thấy anh ấy, nhất
là những kỷ niệm quá mới mẻ của một đôi vợ chồng trẻ, những
buổi tối nằm bên nhau, anh ấy vẫn thủ thỉ bàn với tôi nhiều
chuyện ở tương lai. Anh ấy cho rằng phải chấp nhận lấy điều may
rủi như số mệnh của Trời đã đặt để cho mỗi con người, và sự ra
đi của anh ấy chưa biết như thế nào, nhưng ít ra cũng đốt lên
được một ngọn đèn hơn là ngồi nguyền rủa bóng tối.
Bốn
năm tôi xa anh trong thời gian tù tội, nhưng vẫn có hy vọng anh
ấy trở về, còn lần vượt biển ấy tôi cứ linh cảm như là lần cuối
cùng chúng tôi sẽ không bao giờ nhìn thấy nhau nữa. Hình như
giác quan thứ sáu của tôi khá bén nhạy, bởi vậy khi anh ấy sắp
đi, nhiều lần tôi muốn cản anh ấy đừng đi nữa, nhưng bạn có tin
rằng, cái gì đến nó sẽ đến, không ai cưỡng chống được cái giờ
của định mệnh. Sau đó, tôi và người chị dâu thường tới ngôi chùa
này, đó là một ngôi nhà thì đúng hơn, của một người chị họ không
lập gia đình, chị có căn tu, đã sống nhiều năm ở đây với một
nhóm cùng chí hướng, rồi dần dần căn nhà biến thành một ngôi
chùa nhỏ, chuyên làm việc phước thiện, bắt mạch và hốt thuốc cho
dân nghèo.
Thời
gian đầu sau ngày anh ấy chết, tôi tìm tới đây để cầu nguyện cho
hương linh anh tôi và anh ấy được siêu thoát, vì trong lòng tôi
lúc ấy, lúc nào cũng chỉ nhìn thấy linh hồn họ ướt át, lạnh lẽo
dưới đáy biển sâu. Tôi chỉ nhìn linh hồn anh ấy qua lăng kính
một người trần tục, vì thế tôi thương xót và đớn đau khi mỗi lần
nghĩ về anh ấy , là tôi trông thấy hiển hiện một khuôn mặt, một
đôi mắt, những giây phút hoảng hốt và chống chỏi tuyệt vọng với
cái chết. Thành ra khi tôi tưởng rằng mình cầu cho anh ấy được
siêu thoát, thì chính tư tưởng tôi lại nhận chìm linh hồn anh ấy
xuống đáy biển sâu, vì tôi nghĩ như thế nào nó sẽ ra như vậy.
Phải mất nhiều tháng ngày tâm hồn tôi vẫn cứ đi vào con ngõ âm
u của tuyệt vọng. Tôi nghe tiếng chuông chùa mà lòng lại nặng
nề những âm thanh gào thét của sóng biển, những tiếng kinh chỉ
có nghĩa là những lời than van của bao linh hồn bất hạnh đang
đòi lại mạng sống của họ, vì bị chết một cách tức tưởi giữa lúc
còn đang mang trong lòng bao niềm hy vọng. . .
Làm
sao nói hết bạn nhỉ nỗi đau xót ấy, nếu không có ngày tôi nhìn
ra được chân lý về thân phận của những hạt cát trên bãi biển. Có
ngàn ngàn hạt cát nằm trên bờ biển, có hạt theo cơn sóng đẩy vào
bờ để làm bạn với những hạt cát khác, rồi hôm nào hạt cát ấy lại
được đẩy ra biển khơi , hay theo gió cuốn tới một nơi nào đó.
Tôi nghĩ lại thời gian tôi và anh ấy sống bên nhau, thì có khác
gì sự lăn lóc của hai hạt cát trong muôn vàn hạt cát, do cơ
duyên hay định mệnh mà đưa đẩy đến với nhau. Bây giờ anh ấy ra
đi, thì chỉ là một sự thay đổi chỗ ở của một hạt cát. Có khi
chính tôi bi thảm quá nhiều cho cuộc đời của anh ấy, mà không
hiểu hết ý nghĩa của sự giải thoát.
Từ
đấy, mỗi khi buồn tôi hay nghĩ tới hạt cát. Hạt cát óng ánh
ngoài biển khơi, hạt cát nằm trong khuôn viên trường đại học với
những tiếng chim hót, hạt cát đi theo gót chân người thiếu nữ
rong chơi trên hè phố chiều thứ bảy, hay hạt cát trên sa mạc
nắng cháy, thì có phải là mỗi hạt cát đã có chỗ để tới? Sao tôi
không chịu nhìn hạt cát với cái nhìn lạc quan như thế, để thấy
dù ở nơi nào, bên này hay bên kia, thế giới loài người hay cõi
của tiên phật, thì có phải chăng mỗi con người vẫn chỉ là hạt
cát, nó cứ đến cứ đi, cứ hòa nhập vào cuộc đời chung quanh nó.
Dần dần thì tôi nhìn thấy linh hồn anh ấy bay vút lên, theo cái
nhìn đổi khác trong tâm hồn tôi, như người ta thường nói khi
mình nhìn ai với cái nhìn đẹp, thì mình sẽ thấy được cái đẹp của
họ, mà hễ với cái nhìn nghi ngại, thì chính là mình đã áp đặt
cho người ta điều xấu.
Đúng
không bạn nhỉ? Cái này lại dẫn đưa tôi đến một phiến diện khác
của tư tưởng, và tôi cho là con người vốn sướng hay khổ là do
chính tư tưởng của mình dẫn lối đưa đường. Bây giờ mỗi khi nghĩ
về anh ấy, tôi chỉ nhìn thấy linh hồn anh ấy thênh thang trên
một con đường mà tôi chưa làm sao đạt tới, vậy tại sao tôi không
làm điều gì để dù hai đứa hai ngả, tôi vẫn có thể đồng hành với
anh ấy một nẻo đường hở bạn? Điều suy nghĩ này khiến lòng tôi
lâng lâng nhẹ nhõm, đôi khi tôi thấy mình là một giòng sông,
lượn lờ quanh những ruộng đồng thơm phức mùi lúa chín. Đôi khi
tôi thấy tâm hồn mình là một vùng thảo nguyên bát ngát, đi mãi
vẫn chưa tới chân trời. Lắm khi tôi thấy mình bay lên đỉnh núi,
hòa nhập vào với cái tĩnh lặng của thiên nhiên. Hay là tiếng
sóng biển rì rào vỗ vào ghềnh đá, như là không lại nhập vào
không để đi về một chốn không có gì hết. Kỳ lạ lắm, tôi không tả
nổi được điều này vì tôi vẫn còn mang thân xác của một người
phàm , vẫn phải ăn khi đói, uống khi khát, và vẫn ốm đau bệnh
tật. . .
Đó là
một trong những trạng thái biến chuyển của tâm hồn tôi cần kể
bạn nghe, còn thì giờ đây tôi có nhiều việc để làm lắm. Trước
tiên, bạn sẽ ngạc nhiên nếu hôm nào tới đây, bạn sẽ nhìn thấy
tôi chăm chú ngồi bắt mạch cho một người bịnh để bốc thuốc cho
họ. Khi tôi cầm tay họ, và nhìn thấy sự tin tưởng của họ đến với
tôi, tôi cảm thấy ngay được sự chia xẻ niềm vui và nỗi khổ cho
nhau, vì thế mà tôi thấy khi mình cứu người lại chính là mình
đang cứu mình, từ nỗi khổ của người mình nhìn ra nỗi khổ của
mình, và có lẽ vì vậy mà tôi tìm được tôi trong những giao tiếp
đó với tha nhân.
Bây
giờ lắm khi tôi ngồi yên nghe tiếng gió thổi lướt qua rặng
chuối sau hè, tôi lại mỉm cười cảm ơn anh ấy. Có mâu thuẫn lắm
không hở bạn? Nhưng chính sự ra đi vĩnh viễn của anh ấy đã khoác
cho tâm hồn tôi một chiếc áo mới, tốt đẹp hơn, lành lặn hơn, dù
bạn nhìn tôi bây giờ, chắc chỉ thấy chiếc áo màu lam ảm đạm,
phải không bạn?"
* * *
Mùng
một Tết năm đó , tôi ở lại chùa với cô bạn cũ trọn vẹn một ngày
đầu năm. Bữa cơm trưa thanh đạm của chùa chỉ có rau đậu, măng
khô và nấm tươi, nhưng tôi có cảm tưởng chưa bao giờ ăn bữa cơm
nào ngon hơn thế.
Buổi
trưa, Trinh theo các bạn đồng tu vào tụng kinh cầu an và cầu
siêu giờ cúng Ngọ, tôi cứ ngồi đằng sau mà nghĩ hoài tới những
hạt cát bạn tôi vừa kể cho nghe. Tôi nhìn dáng ngồi ẩn nhẫn của
bạn tôi trong màu áo lam, rồi bất chợt nhìn ra khoảng sân đầy
bóng mát, tôi thấy những cánh mai đã rụng đầy trên mặt đất như
một tấm thảm màu vàng tuyệt đẹp.
Hoa
mai nở trên cành, hay những cánh hoa tả tơi trên nền đất, ở mỗi
chỗ vẫn mang cái đẹp riêng của nó, hay là lúc ấy tâm hồn tôi đã
có chút đổi khác, khi nghe xong câu chuyện của bạn tôi vào một
sáng đầu Xuân.
NGUYÊN NHUNG
Trở về Trang Chính
|