Khi gió muà Đông Bắc phả hơi giá lạnh lùng
vào mảnh vườn hiu hắt, đầu tháng Mười Hai của mỗi năm, là tôi
lại chạnh nhớ đến những mùa Giáng Sinh ngày thơ ấu. Lạ một điều
là trong đáy lòng tôi bỗng ấm lại, có phải chăng khi nhớ lại
những kỷ niệm đẹp của thời thơ dại năm nào, khiến tôi quên mất
là mình không còn trẻ nữa. Cảm giác mỗi mùa Giáng Sinh tuyệt
vời đến nỗi, tôi tưởng như mỗi năm một lần, mình lại là đứa trẻ
thơ mới lên tám tuổi, hình ảnh con búp bê tật nguyền lại chập
chờn trở lại trong trí nhớ, y như năm nào tôi còn bế nó trên
tay.
Chuyện quả thật không có gì đối với những con
búp bê hằng hà sa số trong các tiệm buôn ở thành phố, món đồ
chơi của hầu hết những đưá bé gái trạc tuổi tôi độ ấy, vậy mà
chị em tôi thèm thuồng mơ ước mãi. Cho đến một chiều kia, mẹ tôi
sau khi nấu xong mẻ cao hổ cốt, vưà khô mặt đã được cắt ra từng
lạng vuông vức, gói trong giấy bóng kính là vội vã đi giao hàng
cho các nhà quen ở xa. Chị em tôi thơ thẩn trước sân chờ mẹ,
lòng nôn nao chờ đợi vì hôm đó là một chiều áp lễ Giáng Sinh.
Tiếng chuông chiều ngân vang giục giã bóng chiều đổ xuống những
mái tranh nghèo leo lét ánh đèn dầu, lúc ấy mẹ tôi mới tất tả
trở về, tay xách cái giỏ mây đựng dăm thứ thức ăn mua vội ở chợ
chiều phương xa.
Hai đứa trẻ con xán lại cái giỏ mây cuả mẹ
đợi chờ. Bao giờ cũng thế, mỗi lần đi chợ xa về, mẹ tôi thường
mua cho các con một ít kẹo lạc, giỏ trứng cá thu nướng để kho
tương rất ngon, và đặc biệt là chị tôi dặn dò mẹ mua cho một ít
kẹo bạc hà gói bóng kính để trang hoàng cây giáng sinh, thay
cho những trái châu xanh đỏ. Cây giáng sinh cuả chúng tôi chỉ là
một nhánh dương xỉ nhặt được ở khu nhà thờ, khi người ta đến đó
trang hoàng cho hang đá, những cành nhỏ được chặt bớt đi, và
đám trẻ con lại nhặt nhạnh đem về để làm cây Giáng Sinh.
Hôm ấy có lẽ là buổi chiều hạnh phúc nhất cuả
chị em tôi, khi mẹ tôi lôi từ đáy giỏ mây ra một gói nhỏ được
bọc cẩn thận bằng giấy báo, chúng tôi cùng hớn hở nhận món quà
bất ngờ trong buổi chiều áp lễ Giáng Sinh. Đó là một con búp
bê đã cũ, được thải ra từ đống đồ chơi ngồn ngộn cuả bé Lan, con
gái cưng cuả cậu mợ tôi đang sống ở thành phố.
Trong niềm hân hoan vui sướng, khi đặt con
búp bê đứng trên mặt bàn, tôi mới phát hiện ra đó là một con búp
bê tật nguyền, một cái chân lỏng lẻo đung đưa không thể nào đứng
được như con búp bê của con Nhuần , bạn tôi. Nó là đứa duy nhất
có được một con búp bê trong đám bạn nghèo cùng lứa tuổi, vì thế
nhà nó lúc nào cũng có mấy đứa trẻ con xúm xít mong đợi được bế
con búp bê trên tay. Vì được làm chủ một món đồ chơi đắt giá như
vậy, nên con Nhuần cũng chỉ cho đám bạn nhỏ chơi ké tùy theo sự
vui, buồn của nó, tùy theo giá trị của những chiếc bánh hay cục
kẹo, củ khoai mà bọn con nít như tôi đem đến tặng cho nó để lấy
lòng.
Thấy mặt tôi tiu nghỉu buồn so vì con búp
bê què chân, chị tôi an ủi:
“Cái chân nó què nhưng mặt nó xinh lắm em ạ,
để chị rửa mặt cho nó nhé!”
Rồi chị mau mau đi lấy cái khăn ướt lau mặt
cho con búp bê, trông làn da nó có vẻ sáng lên được một chút.
Nghe chị nói tôi cũng thấy vui vui, nhoẻn miệng cười. Chị lại
bảo:
“ Thôi vậy là em không phải lên nhà con Nhuần
nữa , dù sao nó cũng là của mình, nếu nó không què chân thì bé
Lan đâu có thải ra cho chúng mình đâu”
Thế là hai chị em quên cả ăn cơm, nghĩ đến
cách chữa cái chân què cho con búp bê, bằng cách dùng một sợi
dây thun cột cái chân què vào cái khớp của thân búp bê, bây giờ
thì nó cũng tạm đứng được, nhưng dáng đứng lại cứng như que củi,
vẫn xiêu vẹo trông rất tội nghiệp. Chị tôi nghiêng đầu nhìn con
búp bê, rồi lại nói với tôi:
“Thế là đẹp chán rồi em ạ. Ngày mai mình sẽ
đi xin vải vụn về may quần áo mới cho nó để mừng lễ.”
Ngày giáp lễ Giáng Sinh năm đó, chị em tôi
suốt ngày bận rộn với con búp bê tật nguyền. Trước tiên tôi lân
la sang nhà cô Xuân thợ may, xin được những mảnh vải vụn rất đẹp
để may quần áo cho con búp bê, cái váy đầm cũ xì của nó lem luốc
như váy của cô bé lọ lem. Khi được mặc bộ quần áo mới trông nó
xinh hẳn ra, dù không đứng được ngay ngắn và chỉ nằm suốt ngày,
nhưng nó có vẻ đẹp rất dễ thương, đôi mắt khép hờ với hàng mi
cong, he hé mở như chưa ngủ say, và nhất là cái miệng thì hình
như luôn mỉm cười kể cả trong giấc ngủ.
Ban đêm, hai chị em lại đem con búp bê tật
nguyền lên giường để ngủ chung, tưởng tượng nó là một em bé vẫn
thường được mẹ săn sóc suốt ngày ở những nhà có trẻ con. Khi thì
giả bộ cho em ăn, lúc sờ đít để thay tã, con búp bê nằm giữa như
một đứa em được che chở bởi hai bà chị rất chăm chỉ khi mẹ vắng
nhà. Buổi tối khi mẹ tôi còn quanh quẩn dọn dẹp nhà cửa, tôi ôm
con búp bê tật nguyền trên đôi tay măng non của mình, mơ mộng
nghĩ đến một khung cảnh ấm cúng, thần tiên nào đó, chị tôi lấy
sách ra đọc truyện cho em nghe:
“Ở một miền xa xôi nơi đồng quê nước Pháp, có
một xứ đạo rất nghèo với một ông cha già và một con chó cũng
già. Xứ đạo nghèo lắm nên cha xứ quanh năm cũng chỉ được ăn bánh
mì đen quết bơ, với thứ “soup” nấu bằng bắp cải và hột đậu khô.
Con chó cũng chỉ được ăn như thế, và nó suốt ngày luẩn quẩn đi
theo gót chân ông cha xứ già như hình với bóng.
Muà Đông năm ấy trời rất lạnh, ngôi giáo
đường với cái gác chuông xập xệ chìm khuất trong màn sương đục
như sữa, im vắng không đèn nến vì các nhà giáo dân nằm rải rác
trong thung lũng xa xa, đời sống của họ cũng không khấm khá bao
nhiêu nên tuy là buổi chiều áp lễ Giáng Sinh, nhà nhà cửa nẻo
đóng kín với ánh đèn âm u. Những căn nhà gỗ mốc thếch chắc chỉ
còn người già và trẻ con, lớp người trẻ trong làng lâu nay đã
túa đi tìm việc trên những đô thị xa, nơi ấy có những ngôi nhà
thờ đông người đèn nến sáng trưng như sao sa, họ vui chơi cả đêm
với rượu ngon thịt béo, nhân dịp kỷ niệm ngày Chúa sinh ra đời.
Ông cha xứ già sống hiu quạnh với một con chó
già như một người bạn thân thiết nhất trong đời ông. Nhìn đất
trời ảm đạm trong một chiều áp lễ Giáng Sinh, ông buột miệng
than thở:
“Lạy Chúa! Người ta bỏ rơi Ngài và bỏ rơi con
trong cái ngôi nhà thờ miền quê khốn khổ này, chỉ vì nơi đây
không có đèn đuốc hoa đăng sáng trưng như những nơi khác. Người
ta đi tìm Chúa trong cung điện nguy nga, vì nghĩ rằng chỉ có nơi
đó mới là nơi Ngài ngự trị.”
Ông cha già thẫn thờ lẩm bẩm nói một mình,
nhìn bóng tối âm u dần ập xuống ngôi nhà thờ quạnh vắng, lòng
cha rưng rưng nhớ lại suốt quãng đời linh mục của mình. Đành
rằng khi quyết định dâng hết cuộc đời cho lý tưởng để phục vụ
Thiên Chúa, đem khả năng và yêu thương đến với tha nhân , nhưng
đứng trước sự hững hờ cuả thế nhân, và sự đào thải cuả kiếp
người, Cha vẫn cảm thấy nao nao buồn vì nỗi đơn côi của ông
cha già bị bỏ rơi nơi xứ đạo nghèo. Nhưng đâu phải vì vậy mà đêm
nay cha cũng bỏ buổi lễ đêm hằng năm để không đón mừng con Chúa
đến với nhân loại, cho dù chỉ còn mình cha và con chó già nằm
khoanh chân dưới gầm bàn trốn lạnh.
Ngoài trời gió rét căm căm, từ thung lũng gió
luồn qua cây để hú lên những tiếng thở dài trong đêm tối với một
bầu trời không trăng sao, nhìn ra xa xa là ánh lửa leo lét từ
những chuồng nuôi gia súc, loài vật cũng không chịu nổi cái giá
rét cuả đêm đông nếu không được sưởi ấm. Cuối cùng, vị linh mục
già quyết định dù chỉ có một mình, cha vẫn phải dâng lễ để đón
mừng Lễ Giáng Sinh như mọi năm.
Không còn ai kéo những hồi chuông báo giờ lễ
đã đến, vì ông từ ngôi nhà thờ này cũng đã theo Chúa từ độ mới
sang đông hồi tháng mười trong năm, cho nên tất cả việc lớn nhỏ
trong ngôi nhà thờ làng cha đều kiêm nhiệm hết. Mặc thêm chiếc
áo dạ cũ, cha run rẩy leo lên chiếc thang gỗ thấp của tháp
chuông, con chó già cũng lẽo đẽo theo sau. Bằng tất cả sức lực
còn lại trong tấm thân héo hắt cuả tuổi già, không hiểu có một
sức mạnh thiêng liêng nào đến với ông, tiếng chuông cô đơn bắt
đầu ngân lên giữa màn đêm thanh vắng.
Tiếng chuông đổ hồi rộn rã, dồn dập vang lên
khắp thung lũng trong màn sương dầy đặc, như đánh thức trái tim
những người giáo dân trong xứ nghèo khiến họ choàng tỉnh và lắng
nghe. Rồi họ chợt nghĩ đến những muà Lễ Thánh hằng năm, tiếng
hát tiếng chuông hòa vào nhau để vang xa đến các thôn làng,
những ngôi nhà thiếp ngủ trong đêm đông lạnh giá. Họ cũng chợt
nhớ ra rằng có một ông cha già bị lãng quên trong cái nhà xứ ẩm
ướt thiếu thốn trăm bề, không hiểu sao đêm nay phép lạ nào mà
hồi chuông giáo đường lại nhịp nhàng ngân lên từng hồi rộn rã,
tiếng chuông càng lúc càng dồn dập một âm điệu vui tươi như muốn
đem một niềm hy vọng, xoá tan bóng tối âm u cho những cảnh
nghèo vạc mặt.
Ôi! Dù có thế nào chăng nữa cũng không thể bỏ
rơi Chúa hài nhi bé nhỏ trong ngôi nhà thờ cũ kỹ dột nát, không
thể bỏ rơi ông linh mục già ốm đau với con chó già cũng tang
thương như chủ nó. Thế rồi khi cửa nhà thờ mở hé, những ngọn nến
trắng bập bùng trên cung Thánh, ông cha xứ già thấy lác đác có
những bóng người chằng đụp khăn áo quỳ dưới những hàng ghế, và
khi cha vừa cất giọng khàn khàn bài ca Vinh Danh thì ngôi nhà
thờ miền quê đã vang lên tiếng hát rộn ràng, nhiều âm điệu pha
trộn vào nhau để trở thành một bản hoà tấu không cần tiếng đàn
phong cầm phụ hoạ.
Ông cha già dâng lễ trên bàn thờ nghẹn ngào
với đôi mắt đẫm lệ, ngỡ như Chúa đã làm phép lạ để tăng sức cho
cha giựt nổi những hồi chuông cô đơn trong đêm tối. Ôi những hồi
chuông cô đơn đã biến thành những hồi chuông reo vui , đã đem
lại bầu sinh khí và niểm hy vọng trong những mái nhà gỗ xiêu
vẹo, nằm rải rác trong khu thung lũng buồn hiu, nơi con ngưòi
phải chống trả với bao nhiêu khắc nghiệt của thiên nhiên và thời
tiết để đời sống được tồn tại. Những giọt nước mắt cứ thi nhau
rơi trên đôi má nhăn nheo của ông linh mục già tội nghiệp.”
Câu chuyện về tiếng chuông cô đơn cuả ông cha
xứ già mà chị tôi đọc trong mùa Giáng Sinh năm ấy, vẫn không bao
giờ phai nhoà trong ký ức của tôi. Đêm đó ngọn nến trắng hắt
ánh sáng lung linh bập bùng lên nhánh dương xỉ, có treo những
chiếc kẹo bạc hà đủ màu thay thế cho những trái châu xanh đỏ,
chị tôi chăm chỉ đọc sách, còn tôi thì im lặng lắng nghe, trên
tay nâng niu con búp bê tật nguyền với tất cả tấm lòng trìu mến
cuả một đứa trẻ thơ. Những giọt lệ long lanh rớt xuống đôi má
bầu bĩnh cuả tôi, rồi rơi xuống khuôn mặt xinh đẹp của con búp
bê đang say sưa ngủ, nhưng đôi môi kia vẫn hé nở một nụ cười.
Chắc nó không bao giờ biết buồn mặc dù bị một cái chân què quặt
không đứng vững trên mặt bàn. Rất thơ ngây tôi hỏi chị:
“Như vậy đâu phải chỉ có nhà mình mới nghèo
phải không chị?”
Chị tôi gật đầu, mới hơn mười tuổi nhưng vì
nhà nghèo nên trông chị có vẻ khôn ngoan trước tuổi, và cũng vì
nghèo nên chúng tôi biết an phận với hoàn cảnh trong niềm vui
của một gia đình đơn sơ nhưng êm ả vì có mẹ tôi đảm đang lo toan
tất cả. Tôi nghĩ đến con búp bê tật nguyền đang thiếp ngủ, nó
ngoan lắm và ngủ suốt ngày trên tay tôi, chỉ vì nó không đứng
được bình thường như những con búp bê khác. Tôi ao ước:
“Giá như Chúa thương mà làm phép lạ cho con
búp bê của mình đừng què nữa chị nhỉ?”
Chị tôi chỉ ngồi im lặng , trầm ngâm nhìn ánh
nến lung linh toả sáng khuôn mặt xinh đẹp cuả con búp bê tật
nguyền. Nghĩ sao, chị bảo tôi:
“Chắc là mai sau Chúa sẽ làm phép lạ cho chị
em mình nhiều con búp bê thật xinh đẹp. Phải vâng lời mẹ, chịu
khó học, mai mốt chị lớn lên đi làm có tiền, sẽ mua cho em con
búp bê thật đẹp nhé!”
* * *
Đúng như lòng mơ ước cuả chị em tôi trong đêm
Giáng Sinh hồi tôi lên tám tuổi, mẹ tôi đã thoát ra được cảnh
đời gian nan, vất vả ấy vì có những may mắn bất ngờ đưa đẩy đến.
Ngày chiến tranh bò vào thôn xóm quê mùa đó, anh tôi đón cả nhà
về một thành phố phồn thịnh ở miền Tây, chị em tôi lớn lên trong
tuổi thanh xuân với không khí của bao nhiêu mùa Giáng Sinh an
bình nơi phố thị bình yên. Khi dời nhà đi nơi khác, chúng tôi đã
lớn rồi, con búp bê tật nguyền được cho lại một đứa em họ nhà
nghèo còn ở lại nơi đó. Vẫn “cũ người mới ta”, con bé lên năm
tuổi với đôi mắt trong veo đã sung sướng ôm chặt con búp bê tật
nguyền trong tay, thay cho vòng tay bé nhỏ cuả tôi ngày nào.
Mỗi năm đến muà Giáng Sinh, chị em tôi dẫn
nhau đi mua quà Giáng Sinh ở các tiệm bách hoá, có bao nhiêu con
búp bê đủ loại rất xinh đẹp đứng, ngồi trong tủ kính sáng choang
ánh đèn, lại gợi nhớ trong lòng chị em tôi hình ảnh con búp bê
tật nguyển thuở còn thơ. Năm đó, người lính từ đơn vị được về
phép đúng vào chiều Giáng Sinh, đã vội vã chạy ra tiệm buôn mua
làm quà cho người yêu con búp bê rất xinh, trong hình ảnh cô bé
mười bảy tuổi với nét nhí nhảnh dễ yêu cuả tuổi trẻ đấy sức
sống.
Rất ngộ nghĩnh là gần bốn mươi năm sau, con
búp bê xinh đẹp ấy cũng bị què chân, đứng nghiêng nghiêng trong
cái tủ sách với cái chân khập khiễng. Hình như tiếng chuông ngân
mỗi muà Giáng Sinh không bao giờ thay đổi với thời gian . . .
Nguyên Nhung, muà Giáng Sinh 2007.