ăm
tôi lên sáu tuổi thì thầy tôi mất, cái tuổi lên sáu quá bé bỏng
chưa biết thế nào là buồn là vui. Chỉ biết là năm ấy, theo
chuyến tàu cuối năm năm một chín năm tư, mẹ tôi đầu đội khăn
trắng, lếch thếch dẫn ba đứa con dại, đứa lớn mới hơn mười tuổi,
dắt díu nhau theo đoàn người di cư lên chiếc tàu há mồm của Mỹ,
tiến vào miền Nam tự do.
Năm ấy mẹ tôi mới ba mươi tám tuổi, vừa mất chồng lại mất luôn
cả một cơ nghiệp khá vững vàng mà thầy mẹ tôi đã gầy dựng gần
hai mươi năm, thế mà có một ngày đã mất hết, xem ra mọi thứ trên
đời này chẳng có gì bền vững cả. Bây giờ thì chỉ có mình mẹ tôi
gánh vác, mà giữa nơi đất lạ quê người, lúc lớn lên, tôi mới
thấy rằng mẹ tôi quả là một người đàn bà có nhiều nghị lực.
Tôi cũng không nhớ được khuôn mặt của thầy tôi, hình ảnh của ông
chỉ là những phần rời rạc, chắp vá theo những câu chuyện do mẹ
tôi kể lại, từ các anh chị lớn trong nhà, tùy theo ký ức của
từng người. Tôi có một cái nhìn rất mơ hồ về người cha của mình,
vậy mà không hiểu sao lòng vẫn ngậm ngùi mỗi khi nhắc lại.
Lúc ấy tuy còn nhỏ, nhưng tôi vẫn nhớ mường tượng ngôi nhà gạch
hai gian ở phố Cửa Tiền, có một cửa hàng bán thuốc lào và tạp
hoá khá đông khách của thầy mẹ tôi. Về mùa đông khi cây bàng
trước cửa nhà đã trơ trụi lá, tôi vẫn được mẹ ủ ấm trong mấy lớp
chăn bông. Buổi sáng khi cả nhà cùng thức dậy, tôi vẫn nghe
tiếng ho húng hắng của thầy tôi và mùi cháo đậu xanh từ dưới bếp
phả lên nhà trên, bữa cháo điểm tâm thường chỉ ăn với đường hoặc
cà bát ngâm tương. Bên cạnh nhà là một quán phở, theo cái lạnh
của gió đông, mùi phở cùng với hương hành ngò toả lên thơm phức
làm cồn cào những cái bụng đói. Vì là con út nên thầy tôi cưng
tôi lắm, hôm nào phần ăn sáng cũng là một bát phở nhỏ và ly sữa
nóng.
Thích nhất là những sáng chủ nhật được theo mẹ đi nhà thờ, từ
phố Cửa Tiền phải đi vòng qua phố Cửa Hậu. Thuở nhỏ, mắt tôi bé
lắm nên nhìn cái gì cũng to cả, bởi vậy mà ngôi nhà thờ lúc ấy
đối với tôi quả là vĩ đại, một chiếc cột đến mấy vòng tay ôm.
Mấy chục năm sau trở lại quê nhà, tôi thấy nó nhỏ bé và cũ kỹ,
chỉ còn dăm cụ già rỗi rãi ngồi rì rầm đọc kinh, với những con
chim sẻ nhảy nhót trên chiếc sân xi măng loang lổ. Mỗi buổi sáng
chủ nhật của những ngày ấu thơ, tôi được mẹ dẫn xuống khoảng sân
rộng trước cửa nhà thờ, ở đấy có một hàng bánh chưng rán. Mùa
Đông, giữa một trời đầy giá rét, co ro trong chiếc áo ấm, được
một tấm bánh chưng nóng hổi, mùi nhân đậu xanh lẫn trong chút
thịt mỡ, chắc chẳng có gì hơn.
Vào mùa hè, khi rặng bàng trước cửa đã xoè ra những chiếc lá to
hơn bàn tay người lớn xanh ngăn ngắt, chị em tôi hay chạy chơi
trên hè đường để tránh cái ngột ngạt trong căn nhà hầm hập nóng.
Dưới bóng cây bàng trước cửa nhà, chúng tôi đã sung sướng thưởng
thức bát chè thạch thơm mát lan dần đến tận cuống họng, sau này
khi lớn lên ở miền Nam, tôi có cảm tưởng chưa bao giờ được ăn
bát chè nào ngon bằng bát chè của quê hương.
Mẹ tôi kể lại rằng, quê thầy tôi ở làng Linh, nơi có những ruộng
rau muống nổi tiếng, ít lá, cọng to và mềm, luộc xong nước rau
có một màu hồng phơn phớt, dân làng là những người làm ăn, tính
toán giỏi. Mẹ tôi ở một làng khác gần tỉnh hơn, con một ông đồ
nho, đất văn học. Thầy tôi làm nghề xây cất nên khi đến làng mẹ
tôi để làm lại ngôi đình làng thì gặp mẹ tôi, rồi ở lại sinh cơ
lập nghiệp, gia đình càng khá giả hơn khi bỏ làng ra tỉnh để
buôn bán. Sau này vì thầy tôi chết sớm, đám con cái ảnh hưởng
bên ngoại, thích văn chương, cho nên không thấy ai giàu cả,
nhưng đời sống tinh thần vẫn rất dồi dào nhờ cái phong phú của
tâm hồn.
Muà hè cho chí muà đông, trên mâm cơm nhà tôi dù có cá có thịt,
nhưng vẫn không thể thiếu bát tương quả cà. Đĩa đậu phụ chiên
vàng nóng hổi chấm đẫm tương, con cá rô rán tới thơm phức mà
không có tí tương sẽ trở nên vô vị, ngay cả đĩa rau muống luộc
xanh ngắt, nếu không có bát tương và mấy khoanh ớt đỏ xem chừng
đã nhạt nhẽo lắm. Chưa kể món tương chưng với thịt mỡ, cà chua,
thìa là, ăn kèm với rau diếp thái sợi, một tô nước rau muống
luộc, giầm thêm mấy quả sấu chua, cùng tí tỏi và muối, ăn với cà
bát ngâm tương của mẹ tôi vào những ngày hè, kỳ diệu thay, nó
như làm dịu đi cái nóng bức của mùa hè miền Bắc.
Ngay sau những ngày chia cắt đất nước năm ấy, thầy tôi ốm nặng
rồi qua đời. Anh tôi bỏ nhà theo người bác vào Nam từ chuyến tàu
trước, mãi cho đến cuối cùng khi mẹ tôi quyết định ra đi thì
tình thế có vẻ khó khăn lắm rồi. Qua bao nhiêu trạm kiểm soát,
mẹ con dắt díu nhau ra đi, lúc ấy hẳn mẹ tôi đã phải có một phấn
đấu nội tâm dữ dội lắm, chồng chết, con dại, cơ ngơi, nhà cửa,
để rồi chỉ còn hai bàn tay trắng, đi đâu, với một viễn ảnh đen
tối.
Có lẽ chuyến tàu cuối năm 54 là chuyến tàu buồn thảm nhất trong
đời mẹ tôi, những giọt nước mắt ngắn dài khi bỏ lại quê hương,
bỏ lại ngôi mộ người chồng chưa xanh cỏ, bên nách ba đứa con nhỏ
với những đôi tay non nớt chưa bám nổi cuộc đời. Chúng tôi chẳng
biết gì, với đôi mắt trẻ thơ thì đây là chuyến đi xa đầy thú vị,
đứa nào cũng thích thú với những viên kẹo được phân phát từ tay
những người thuỷ thủ Hoa Kỳ. Buổi chiều, khi con tàu lênh đênh
trên đại dương bao la, biển đã ngả sang màu tím, từng đợt sóng
to bằng những cái nhà đuổi nhau trên mặt biển, đám người trên
tàu bỗng như sợ hãi vì thân phận bé nhỏ của con người trước cảnh
hùng vĩ của biển khơi.
Vào đến miền Nam, đoàn người di cư được đưa về một khu ngoại ô
cách Sài Gòn khoảng hai chục cây số. Chỉ có ngần ấy đường mà
dường như đã có một sự khác biệt, Sài Gòn với những ánh đèn
giăng giăng, xe cộ tấp nập, người đi lại dập dìu như mắc cửi thì
ở đây, chỉ là những mái nhà tranh vách đất, những con đường gập
ghềnh lỗ chân trâu, những ngọn đèn lù mù lay lắt trong cảnh
nghèo của đám người di cư, và tiếng chuông nhà thờ ngân nga
trong cái tĩnh mịch buổi chiều quê.
Vui nhất có lẽ là những buổi chợ sớm, người ta phải dùng cả đèn
dầu khi trời chưa sáng tỏ, nơi ấy là nơi người dân hai miền Nam
Bắc gặp nhau, tuy cùng một ngôn ngữ mà cách phát âm lại khác
biệt, nên vẫn có cảnh người mua, kẻ bán cười ngặt nghẽo với
nhau, khi người này không hiểu người kia muốn gì. Chợ quê tuy
nghèo nhưng cũng đủ thứ thịt thà, cá mắm, cùng những rau cỏ rau
trái miền Nam, sau một đôi năm, không hiểu sao không khí hoà
bình ấy bỗng mất đi, thỉnh thoảng người ta hốt hoảng bỏ chạy tán
loạn vì một loạt súng vang lên giữa buổi chợ đông, một thây
người ngã gục, chiến tranh như đã bò dần vào đời sống êm đềm của
đồng bào miền Nam.
Mẹ tôi, người đàn bà nhỏ bé và can đảm ấy, đâu có chịu đầu hàng
số mệnh, dù giờ đây gần như trắng tay. Anh tôi đi làm xa, chẳng
mấy khi về nhà, có lẽ anh ấy không muốn chôn chặt cuộc đời trai
trẻ trong cái tăm tối của làng quê. Khi cuộc sống ở đô thị cho
ta nhiều cơ hội để tiến lên thì ở chốn quê muà này, người ta như
sống giật lùi hằng thế kỷ. Mảnh vườn, ao cá, luỹ tre xanh muôn
đời vẫn như một hàng rào để người ta dựa dẫm nhau mà sống, nhưng
đồng thời nó cũng lôi kéo con người vào những thứ phiền toái,
lẩm cẩm, khe khắt khi con người không cùng một trình độ, sống
với nhau quả rất là khó chịu.
Cuộc sống nhàn hạ của những ngày thành phố đã qua, mẹ tôi bắt
tay vào cuộc sống mới với rất nhiều cực nhọc. Những luống sắn,
luống khoai xung quanh nhà đã vồng xanh, những luống cải non
trong vườn đủ để nấu những bát canh suông, mẹ tôi bắt tay qua
làm cà, làm tương để bán cho những người quanh vùng. Mẹ tôi làm
tương rất ngon, không mặn không nhạt, tôi vẫn nhớ mãi mùi âm ẩm
của mốc tương và đậu nành rang xay nhuyễn, hoà với nước muối để
ủ tương chờ đến ngày ăn được. Những vại tương, vại cà vàng nâu
thẫm lại, nhai ròn tan với bát cháo đậu muà hè, nghe cái mát mẻ
đã luồn sâu vào tì vị.
Chúng tôi lớn lên sởn sơ như cây cỏ, nhờ bát tương quả cà cuả mẹ
tôi, miếng đậu phụ và con cá chiên ròn, bát muối vừng cùng những
rau cỏ mọc quanh nhà. Thỉnh thoảng vào những chiều nắng xiên
khoai, tôi lẽo đẽo theo mẹ gánh đôi thùng tương đi bỏ mối cho
mấy cửa hàng quanh chợ. Trên con đường đất gồ ghề, lồi lõm dấu
chân trâu, mẹ tôi đi trước, đôi vai bé nhỏ như oằn xuống dưới
sức nặng của đôi thùng tương, kĩu kịt, kĩu kịt đi trên con đường
vắng. Tôi đi chân đất chạy theo mẹ, hồn nhiên như một con bướm
trắng, hai má hồng xinh với đôi mắt ngây thơ. Mỗi khi giao hàng
xong, thế nào mẹ tôi cũng mua cho tôi vài chiếc kẹo, ly nước đá
nhận của người đàn bà miền Nam bán bên hông chợ.
Sau những lúc bận rộn và làm việc mệt nhọc như thế, mẹ con tôi
vẫn có những buổi tối ngồi trông trăng ở mảnh sân vuông trước
nhà. Dưới ánh trăng suông, gió vẫn xào xạc trên rặng chuối sau
hè, tiếng côn trùng rỉ rả âm âm trong bụi cỏ, mấy mẹ con và vài
bà hàng xóm quây quần trên chiếc chiếu trải giữa sân, nghe mẹ
tôi kể chuyện. Mẹ tôi kể chuyện rất có duyên, dù thuở bé ở làng
không được ăn học bao nhiêu, nhưng với vốn liếng chữ Quốc Ngữ do
ông ngoại tôi chỉ dạy, mẹ tôi ham đọc sách nên hễ đọc được
truyện nào là nhớ như in truyện đó. Không biết sao mẹ tôi thuộc
truyện Kiều lắm thế, những bà hàng xóm nhà quê cứ ngẩn người ra
nghe mẹ tôi đọc thơ, rồi chuyện làng, chuyện nước, chuyện ma
đường rừng Việt Bắc, chuyện nào cũng ly kỳ, rùng rợn và ý vị đến
nỗi tôi lơ mơ ngủ đi lúc nào không biết.
Tôi vẫn nhớ mơ hồ về những ngày còn thơ ấu, khi chỉ có mấy mẹ
con sống quạnh quẽ với nhau trong những ngày mới di cư vào Nam,
chứng kiến cái thay đổi của lòng người sau cơn hoạn nạn, tôi mới
thấy mình là người bất hạnh khi thầy tôi chết đi quá sớm. Giá
thầy tôi còn sống. Đã bao nhiêu lần tôi nghĩ như thế khi thèm
thuồng nhìn những đứa nhỏ như mình, chúng nó có đầy đủ cha mẹ,
để mẹ tôi không phải tần tảo một mình nuôi lũ con thơ, có khi đi
vắng nhà vài hôm, phải gửi con cho người hàng xóm.
Những buổi tối mẹ vắng nhà, khi trời nhập nhoạng lên đèn là tôi
bắt đầu khóc. Chị tôi hơn tôi hai tuổi, mới tý tuổi đầu đã tỏ ra
là đứa trẻ biết lo lắng, tính chị hiền như mẹ, hay tủi thân. Còn
hai chị em ở nhà với nhau, hễ trời tối là tôi bắt đầu khóc tỉ tê
vì nhớ mẹ. Mới đầu tôi chỉ khóc rấm rứt, sau không chịu nổi nữa
tôi gào to hơn, chị tôi nước mắt đoanh tròng, thay mẹ dỗ em bằng
những lời hứa hẹn rất trẻ con, nhưng cũng chẳng ăn thua gì. Dỗ
mãi em cũng không nín, chị cũng tủi thân òa lên khóc. Sau này,
lúc không còn gần nhau nữa, chị em mỗi lần nhắc lại chuyện cũ
trên đường dây điện thoại, hai đứa cứ vừa cười vừa khóc vì những
chuyện ngày thơ.
Nhớ làm sao ngày đầu tiên mẹ tôi dẫn tôi đi học. Trường học là
căn nhà lá hai gian có giàn hoa thiên lý, thỉnh thoảng lại có
tiếng điếu cày rít lên sòng sọc, ông thầy già say thuốc ngồi mơ
màng gõ nhịp chiếc roi mây trên mặt bàn gỗ, đệm theo tiếng ê a
của đám học trò nhỏ. Tôi vừa ngồi học vừa nhớ mẹ, con đường quê
ngoằn nghoèo, bụi tre gai rào rào tiếng gió, một con bướm trắng
vờn vờn trên giậu mùng tơi. Tôi lớn lên với những câu chuyện cổ
tích và những áng văn chương từ bà mẹ quê vất vả, cũng như những
vần thơ tả về quê hương trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư của ông
thầy trường quê mái tranh vách đất.
Sau buổi học, tôi hay chạy sang nhà bác tôi để được bác cho vài
quả táo tầu hay nhúm cam thảo, vì ông là một thầy thuốc Bắc.
Giữa trưa hè oi ả, bác tôi ngồi gật gù với mấy hũ thuỷ tinh đựng
thuốc, con dao cầu nằm hờ hững ở một góc quầy vì chẳng mấy khi
được đụng đến. Chẳng mấy khi có người đến chữa bệnh, nhưng bác
tôi cứ ngồi đấy ngủ gà, ngủ gật trong cái yên lặng của ban trưa.
Ngoài kia, giữa nắng trưa tiếng gà eo óc gáy, màu nắng như đã
chói chang trên những giây phơi quần áo, tiếng chó sủa vu vơ,
gió vẫn rì rào qua khóm trúc, tất cả như chìm vào một nỗi buồn
mông lung, khó tả.
Tôi lớn lên ở miền Nam, ăn bát cơm miền Nam, uống nước từ những
cái giếng trong vắt sâu hun hút dưới lòng đá ong, hình ảnh thân
thương ấy đã gắn bó với tôi tự những ngày thơ ấu.
Mãi hơn hai mươi năm sau tôi mới có dịp trở lại quê nhà. Tôi đã
đi qua miền Đông đất đỏ với những vườn cao su thẳng tắp, qua
miền Trung với những bờ biển xanh, bãi cát trắng, rặng thùy
dương trải ngút ngàn phô bày một giải giang sơn cẩm tú. Những
núi đồi trùng trùng ẩn hiện trong màn sương, những căn nhà vắt
vẻo lưng chừng núi, hình ảnh người dân quê lam lũ, chất phác,
cam chịu một đời nghèo khổ dọc theo những dải đường của đất
nước. Đêm trên đỉnh Hải Vân, gió lồng lộng như giao hoà giữa
trời và đất, biển Thuận An với những chiếc thuyền câu giăng
giăng ánh đèn như một hội hoa đăng.
Tôi đã vô vàn xúc động khi nhìn thấy những xóm làng của miền
Bắc. Luỹ tre xanh, chiếc cổng làng cũ kỹ, con đường lát gạch dẫn
vào những nếp nhà ngói đỏ, con trâu nằm nhai thong thả bên đụn
rơm khô, bếp nhà ai toả lên trời bàng bạc khói sương. Quê hương
tôi đó, tuy nghèo khổ nhưng với tôi vẫn là những hình ảnh đậm đà
trong tâm tưởng. Một ngày chớm thu năm ấy, tôi đã trở về thăm
ngôi mộ của thầy tôi nằm trong nghĩa trang ven đê sông Hồng,
trên đường về quê ngoại. Tôi nhớ đến thầy tôi mà ngậm ngùi cho
một kiếp người, tro bụi lại trở về tro bụi, để thương cho mẹ tôi
cả một đời vất vả, chật vật với những đứa con thơ. Nắm hương
trên mộ đã tàn, chắc thầy tôi biết tôi trở về, một con bướm
trắng cứ chập chờn bay trên vai tôi, rồi lại vờn vờn trên những
bông cỏ may trong một chiều thu uá. Không ai có thể biết rằng,
từ thế giới bên kia, thầy tôi lại không một lần trở về với tôi
trong giấc chiêm bao, dù rất mù mờ và không rõ nét, nhưng qua
đấy tôi vẫn hình dung ra khuôn mặt của đấng sinh thành.
Mẹ tôi chết ở miền Nam, thầy tôi chết ở miền Bắc, không biết hai
người có trùng phùng ở một miền nào đó nơi thế giới bên kia? Nơi
mà tôi tin rằng, không có hận thù, đau khổ, thầy mẹ tôi sẽ có
một bữa cơm hội ngộ, bát tương, quả cà, bát thịt kho đông trong
những ngày giá lạnh.
Năm ấy, tôi đã có một thời gian được sống trong căn nhà thân yêu
của thầy mẹ tôi. Vào mùa thu, những cơn mưa ngâu dầm dề như để
chuyển tiếp một mùa hè nóng bỏng sang một mùa thu dịu dàng hơn,
tuy vậy, khi nhìn những cơn mưa đổ xuống ngày đêm, ai cũng lo có
lụt lớn. Mà lụt thật, nước mênh mông khắp các ngả đường như sông
rạch miền Nam, tràn vào nhà đến hơn nửa thước, mọi người phải đi
lại trên bàn hay những tấm ván.
Chưa bao giờ tôi chán đến thế, suốt ngày quanh quẩn trên căn gác
nhỏ, nghe những giọt mưa rào rào trên mái ngói cũ kỹ, khoảng sân
xi măng lộ thiên trên gác ướt sũng. Bầu trời lúc nào cũng ảm
đạm, tiếng mưa rơi, tiếng gió rít, tiếng rì rào của rặng sấu Tây
sau vườn tạo nên một âm thanh áo não lòng người. Trên đường phố,
người ta bơi thuyền như đi trên sông, người ta í ới gọi nhau
chạy lụt, tạo nên một quang cảnh hoảng loạn và bi đát.
Buổi chiều nhuốm một nỗi thê lương, nằm trong căn gác nhỏ tù
túng, chưa bao giờ tôi nhớ miền Nam đến thế. Trong bóng tối nhập
nhoạng của buổi hoàng hôn, đứa cháu tôi vừa hát bài " Giọt mưa
thu ", vừa gõ nhịp lên chiếc thùng sắt tây, trong nhà đã lên
đèn, điện cúp, gió đã giựt đứt đường giây điện. Trong ánh sáng
mờ mờ của buổi hoàng hôn thì lạ thay, một con bướm, tôi cứ ngỡ
đấy là linh hồn của thầy tôi đang nương theo cánh bướm về thăm
nhà. Tôi nhìn con bướm đậu gần chiếc ảnh gia đình treo trên
vách, lòng bình yên một cách lạ lùng. Suốt đêm hôm ấy mọi người
hầu như đều thắc thỏm chờ cơn bão tới, nhưng chỉ nghe tiếng mưa
rơi rích rắc trên mái ngói và tiếng cành lá rì rào từ khoảng sân
sau.
Đêm qua đi thật nặng nề trong sự chờ đợi cuả mọi người, sáng hôm
sau nắng lên, trời quang mây tạnh, nước không lên mà có vẻ muốn
rút, mọi người đều mừng rỡ. Mấy ngày sau nước rút đi nhanh hơn,
chị em tôi lóp ngóp lội nước ra bến xe mua vé về Hà Nội, sau đó
mua vé tàu về Nam. Đêm giã từ Hà Nội, lần cuối cùng đi trên con
đường ẩm ướt có những chiếc lá me rụng xuống lòng đường buồn u
uẩn. Chúng tôi lên tàu xuôi Nam, lòng ngậm ngùi vì biết khó có
lần trở về thăm quê, khó có lần được nhìn thấy nấm mộ của thầy
tôi. Khi hai chị em đã lên tàu, con tàu sắp sửa chuyển mình ra
ngoài vùng ngoại ô, chị tôi chỉ lên bức vách của toa tầu, giọng
thảng thốt : " Kià, trời ơi, con bướm."
Bao nhiêu năm rồi tôi sống nơi đất khách quê người, chưa một lần
trở lại mái nhà xưa thời thơ ấu, con người không thể tắm hai lần
trên một dòng sông, chắc hẳn những gì năm xưa đã thay đổi hết
rồi, về hay không về thì hình như tôi đã đánh mất tất cả. Bát
tương, quả cà của mẹ tôi đã nuôi nổi lũ con thành người, người
đàn bà quê mùa nhưng rất nhiều nghị lực đã cam chịu một đời vất
vả để cho các con được vươn lên, thoát cảnh bần cùng và tối tăm
của đời sống. Anh em tôi trôi nổi mỗi người một phương, dĩ vãng
chỉ còn là những hình ảnh mịt mờ, nhưng dễ ai đã quên. Chỉ biết
là mỗi lần nhớ đến cha mẹ, thì bát tương, quả cà vẫn là nỗi nhớ
không nguôi trong lòng những đứa con lưu
lạc.
Trở về Trang Chính