Tôi
không nhớ được mùa Giáng Sinh năm ấy tôi bao nhiêu tuổi, nhưng
chắc chỉ độ lên mười. Có lẽ đó là một mùa Giáng Sinh khá buồn và
ảm đạm vì các anh chị tôi đi làm, đi học xa không về được, ở nhà
quạnh quẽ chỉ còn hai mẹ con. Thời thơ ấu, tôi thèm lắm những
bóng đèn xanh đỏ chớp nháy trên cây Giáng Sinh, một hang đá bằng
giấy quết mực đen với những tượng Thánh xinh xinh bằng đất nung.
Nhưng mộng ước ấy xa vời lắm đối với một đứa trẻ mười tuổi quá
bé bỏng, trong lúc mẹ tôi xoay sở lo cho các con cơm ăn áo mặc
đã vất vả, thời buổi ấy quả là một gánh nặng nhọc nhằn, trên đôi
vai bé nhỏ của người đàn bà góa bụa.
Là một đứa trẻ con, nhưng dường như ông Trời
đã cho tôi một tâm hồn khá nhạy cảm để âm thầm tìm niềm vui cho
mình từ những nhỏ nhoi nhất. Bởi vậy, đêm Giáng Sinh năm ấy dù
không có đèn sao nhấp nháy, những trái châu xanh đỏ, nhưng tôi
đã biết dùng những chiếc kẹo đủ màu để treo lên nhánh cây dương
xỉ nhặt được trong khu nhà thờ, khi người ta đến đó trang hoàng
hang đá cho mùa Giáng Sinh. Duy nhất một ngọn nến trắng bập
bùng, ánh sáng lung linh hắt lên tường bóng một cành cây và một
bóng người. Ngọn nến trắng đêm ấy đã làm cho cành cây và cái
bóng của đứa trẻ thơ như lớn hơn, in lên tường chập chờn một
giấc mơ tuyệt vời ấm áp. Tôi không nhớ được hết cảm giác đó vì
thời gian qua đi khá lâu, nhưng cảm nhận về ngọn nến trắng thời
thơ ấu đã giúp tôi vượt qua nhiều nỗi buồn, mỗi khi lẻ loi, thất
vọng, tôi vẫn cứ nhớ hoài ngọn nến trắng mùa Giáng Sinh năm tôi
mười tuổi. Tôi còn nhận được một món quà đặc biệt của bà hàng
xóm, bạn của mẹ tôi, cho đến bây giờ dù thời gian qua đi mấy
chục năm, tôi vẫn hình dung ra được hình dáng và mùi vị của nó:
một củ khoai lang nướng.
Món quà Giáng Sinh nghèo nàn của bà hàng xóm
quê mùa thật vừa bụng tôi lắm, dù rằng mẹ tôi có làm vài món ăn
đặc biệt cho ngày Lễ. Tôi mơ màng nhìn ngọn nến lung linh soi
lên cây Giáng Sinh của tôi, cứ gọi như vậy vì nó là niềm vui có
thể làm được của một đứa trẻ con mười tuổi, củ khoai nướng gói
trong mảnh lá chuối còn nóng hổi, mùi mật ngọt của khoai bốc lên
thơm lừng, mùi rơm rạ hình như còn ủ trong lớp vỏ khoai cháy
xém. Nụ cười trìu mến trên khuôn mặt hiền lành của bà hàng xóm,
khi đưa cho tôi món quà Giáng Sinh nghèo nàn ấy. Cho đến bây giờ
tôi vẫn nhớ khuôn mặt quê mùa, chân thật của bà, củ khoai lang
nướng đêm Giáng Sinh ngày thơ ấu đã theo tôi vào đời. Khi trưởng
thành, những lúc bụng đói mắt cay, đời gặp lúc gian nan, buồn
tủi, tôi cũng nhớ củ khoai nướng, nhớ mùi khoai lang nướng. Khi
sung sướng hạnh phúc ở quê người, đời no đủ những cao lương mĩ
vị, tôi cũng nhớ mùi vị củ khoai nướng. Phải chăng trong tôi vẫn
vấn vương thứ TÌNH NGƯỜI nhỏ nhoi ấy, không thể mua được bằng
tiền. . .
2-
Tôi yêu đóm lửa ngọn nến trắng từ hồi còn thơ
ấu, chắc là ngọn nến sáng mùa Giáng Sinh năm xưa cũng đi theo
tôi đến những chặng đường còn lại của đời người. Có một câu
chuyện tôi sắp kể ra đây, đó là câu chuyện của ông cụ Rôbéctô
tôi có dịp gặp ở ngôi nhà nguyện. Mỗi ngày, sau Thánh Lễ buổi
sáng, mọi người đã lục tục ra về, ngôi nhà nguyện đóng kín cửa
như chìm trong yên lặng và bóng tối, chỉ còn lại duy nhất một
ngọn nến trắng trên bàn thờ. Ánh nến hắt lên tường những chấm
sáng lung linh, soi lên bức tượng Đức Mẹ bồng con bằng thạch cao
trắng toát. Nến trắng và tượng trắng, tất cả chỉ là một màu
trắng nhưng nghe trong thinh lặng chút bình an tràn ngập tâm
hồn.
Tôi ngồi lại một lúc giữa những hàng ghế
chỏng trơ không còn ai, nhìn chăm chăm lên ngọn nến. Tôi ở lại
một mình chỉ vì thích đóm lửa nhỏ nhoi của ngọn nến, say sưa
nhìn đóm lửa nhỏ lay lắt tỏa ánh sáng hắt hiu xuống chiếc khăn
trải bàn cũng màu trắng, trong cái tĩnh lặng của tâm hồn. Tôi
không cầu nguyện gì đâu, nhưng cảm giác bình yên khi nhìn ánh
sáng của cây nến trắng đã rất đủ. Chắc hẳn trong mỗi đời người
ai cũng có lúc thèm sự yên tĩnh của tâm hồn. À không, ở dãy ghế
bên kia còn một ông già Mễ Tây Cơ, ông vẫn quỳ im lặng nhìn lên
ngọn nến như tôi vậy, nhưng khác hơn là miệng ông mấp máy cầu
nguyện. Mặt ông héo quắt với chòm râu bạc, đôi mắt đăm đăm nhìn
lên ngon nến, nét mặt thành khẩn như đang cố bám lấy một niềm hy
vọng nơi bức tượng Thánh trên bàn thờ.
Buổi sáng nay đi ngang công viên để đến nhà
nguyện, tôi đã nhìn thấy mùa Đông trở về, một rừng lá vàng khô
xôn xao đuổi nhau lăn xuống cuối dốc, trơ lại những nhánh cây
khô, treo trên đó là những thân tầm gửi đang đong đưa theo gió
sớm. Buổi sáng đầu mùa Đông mang theo chút giá buốt, khu công
viên chỉ lác đác dăm người đi bộ, và những cây hoa dại có một
sức chịu đựng dẻo dai, nở những bông hoa li ti trên bờ cỏ ven
đường.
Khi ngọn nến tàn là lúc ấy tôi với ông già Mễ
cũng ra khỏi ra nguyện. Ánh sáng leo lét của ngọn nến cháy bập
bùng rồi gần như lả xuống trong lòng chiếc bình thủy tinh trong
suốt, y như cái ngoẹo đầu cuối cùng của một người khi từ giã cõi
đời. Ông già Mễ mỉm cười chào tôi trước sân nhà nguyện, ở đấy có
một vườn hoa nhỏ và hai băng ghế dài đặt song song đối diện
nhau. Có khi tôi cũng ngồi lại một chút để nhìn vẩn vơ lũ chim
sẻ đang nhảy nhót trên sân tìm mồi, bỗng đồng loạt bay ào lên
khi thấy có bóng người bước tới. Đôi khi tôi và ông Rôbéctô hay
trao đổi vài câu chuyện nhỏ, cái miệng móm mém của ông phều phào
kể cho tôi nghe những nỗi buồn nho nhỏ trong gia đình, ông hay
đi nhà thờ để cầu nguyện cho đứa cháu đang đi lính ở phương xa.
Khi biết tôi ở lại một mình cũng chỉ vì thích
ánh sáng lung linh của ngọn nến trắng, và câu chuyện mùa Giáng
Sinh thời thơ ấu, ông RôBécTô cảm động lắm. Đôi mắt ông hấp háy,
nhòa ướt qua giọng nói khàn khàn ẩm đục. Mùa Giáng Sinh đến,
trời bắt đầu lạnh hơn, tôi có ý nghĩ chuẩn bị một món quà cho
ông bạn già vong niên trước ngày Lễ Giáng Sinh. Có gì đâu, tôi
lại nhớ đến củ khoai lang nướng bà hàng xóm tặng tôi đêm Giáng
Sinh, bây giờ nghe ông Rôbéctô thích vài món ăn Việt Nam, tôi
nghĩ đến chuyện tặng ông một hộp cơm rang và chục cái chả giò
tôm thịt. Chẳng có gì hơn bằng một món quà đáp ứng đúng sự ưa
thích của người nhận, ông Rôbéctô cảm động lắm khi nhận món quà
của tôi buổi sáng trước ngày Lễ Giáng Sinh, tôi thấy đôi mắt ông
nhòa lệ khi nắm lấy tay tôi nói phều phào những lời cảm ơn.
Tôi không nghĩ đến việc cho đi để nhận lại
một món quà thật dễ thương của ông Rôbéctô vài hôm sau đó. Khi
tan buổi lễ, ông gặp tôi trước sân nhà nguyện, với một gói giấy
hoa thật đẹp, thì ra ông già đã nhờ cô con gái mua hộ cho tôi
một món quà thật xinh: đó là chiếc áo len màu hồng nhạt. Vẫn cái
giọng Mễ Tây Cơ lùng bùng những thanh âm nằng nặng, ông nói rằng
món quà này thật là thích hợp cho tôi, người phụ nữ Á Đông có
dáng dấp nhỏ nhắn và nước da trắng trẻo. Quả thật chiếc áo len
màu hồng khi mặc vào đã làm tôi như trẻ lại hằng chục tuổi. Món
quà của ông Rôbéctô đã thắp lại trong tôi ngọn nến sáng mùa
Giáng Sinh năm nào, với củ khoai lang nướng khi tôi là cô bé lên
mười thuở ấy. . .
Ông Rôbéctô đã qua đời vài năm nay, ông chết
vì bịnh ung thư phổi. Những năm cuối của cuộc đời, ông không đến
được nhà nguyện mỗi ngày, nhưng trước khi chết ông vẫn mong được
gặp những khuôn mặt yêu thương của những người Việt ông quen
biết. Rất tiếc là tôi không thường gặp ông sau này, nhưng tôi
biết ông ra đi rất êm ả. Người ta kể rằng trong những giây phút
cuối cùng của đời người, ông chỉ xin đốt lên cho mình một ngọn
nến. . .
3-
Những ngày cuối năm với những cơn mưa mùa
Đông làm ẩm ướt không gian, đất trời như nặng trĩu một nỗi sầu
da diết. Trong căn nhà vắng lặng, bóng chiều hình như đến vội
với những giọt mưa rả rích ngoài hiên. Trời rét lắm, gió và rét
khiến những chú chim sẻ nhiều chuyện không ríu rít như mọi ngày,
chúng rủ nhau vào trốn gió sau bụi mía, lả mình vào hàng rào
đang rung rung những chiếc lá úa. Những con chim sẻ mùa Đông
trông thật dễ thương, xù lông ra tròn quay như một cụm len màu
nâu xám biết nhảy nhót.
Góc vườn nơi cửa sổ nhà bếp rất khuất gió,
bụi mía sắp tàn như một mái nhà tranh trống trước hở sau, che
tạm cho một gia đình nghèo khổ. Sau cơn mưa, trời chuyển qua
những đợt gió lạnh buốt xương, tôi đứng từ trong nhà nhìn ra
khung cửa kính nhà bếp, tò mò nhìn mấy chú chim sẻ núp dưới vòm
lá mía. Cũng đỡ buồn lắm khi ngắm nhìn bầy chim sẻ mùa Đông, y
như những đứa trẻ bụi đời trên vỉa hè thành phố một đêm mưa nào
đó, rúc vào nhau trong tấm chiếu trải bên lề đường, cuộn tròn
lại với nhau đưới tấm chăn bẩn . Mấy con chim sẻ cũng khôn ngoan
rủ nhau tụ vào một chỗ, có con đang co ro ngủ gật, có con mắt
láo liên, thỉnh thoảng lại lách chách bay lên tàu lá như vừa tìm
được một con mồi đỡ lòng cho ngày Đông buốt giá. Nhu cầu ăn để
sống vẫn bắt nó phải tìm mồi dù đôi cánh lảo đảo trong gió rét
như muốn rơi xuống thảm cỏ, trông thật tội nghiệp.
Đứng trong nhà nhìn qua lớp cửa kính trong
suốt, ở góc phòng chớp tắt những chiếc đèn nhấp nháy trên cây
Giáng Sinh, tôi thấy con chim bé bỏng đang vỗ vỗ đôi cánh nhỏ,
rồi gõ cái mỏ nhỏ xíu lên mặt kính, cũng tò mò nhìn tôi, làm như
nó cũng thèm thuồng được vào trú ẩn trong căn nhà có ánh đèn ấm
áp. Tôi chia xẻ được gì đây? Người và chim là hai thế giới khác
hẳn nhau, và có lẽ dù được cho ăn no, chú chim sẻ vẫn không
thích thú gì khi bị con người giam chú vào cái lồng chim chật
hẹp. Những chú chim sẻ mùa Đông như những búp len xậm màu, xếp
hàng xúm xít vào nhau để trốn gió sau rặng mía ven bờ rào, lại
dẫn đưa tôi đến một khía cạnh khác của con người, mà ở câu
chuyện này tôi vẫn thấy cái đẹp nhỏ nhoi của Tình Người ấm áp
biết bao nhiêu. Đó là câu chuyện của hai người vô gia cư, hay là
chuyện "lá rách đùm lá nát" đã
làm thức dậy chút bâng khuâng trong tâm hồn những quả tim chai
đá.
4-
Một buổi tối mùa Đông trước ngày Lễ Giáng
Sinh, trời mưa phùn, rét như cắt ruột. Đường phố vắng xe qua
lại, phía xa là những ánh đèn màu rực rỡ chớp tắt quấn trên
những thân cây ven đường. Suốt một tuần sắp lễ Giáng Sinh, thời
tiết bỗng dưng âm ỉ rét, những đợt gió lạnh từ hướng Bắc thổi
về, người có việc ra đường co ro trong những chiếc áo ấm dày cộm
và khăn phu la quấn quanh cổ. Hình như người ta ngại đi ra đường
vào một tối trời mưa như vậy, chỉ còn một vài cửa hàng bán "fast
food" và cà phê là còn mở cửa, có dăm người khách ngồi im lặng
trầm ngâm trước khay thức ăn ăn uống uể oải. Khách đến tiệm vào
giờ này có lẽ là những kẻ xa nhà, thiếu một bếp lửa hồng để sưởi
ấm cõi lòng cô quạnh, ngày giáp Lễ thường sau giờ làm việc, ai
nấy hối hả về nhà chuẩn bị đón mừng lễ Giáng Sinh.
Người phụ nữ bán hàng đang dọn dẹp mấy thứ
lặt vặt, mong đến giờ đóng cửa để đi về, vì chỉ còn mấy tiếng
đồng hồ nữa là đến nửa đêm. Bà nghĩ đến hai đứa con đi học xa
vừa về nhà với mẹ mấy hôm nay, đã lâu lắm người mẹ chỉ mong được
gặp các con trong những dịp Lễ Tạ Ơn hay mùa Giáng Sinh, và bà
đã chuẩn bị những món ăn truyền thống mùa Giáng Sinh cho các con
từ mấy ngày hôm trước. Gia cảnh đơn chiếc vì năm ngoái người
chồng đã qua đời sau một tai nạn, bà vẫn ở một mình trong căn
chung cư cũ kỹ, những ngày gió mưa căn nhà nhỏ như càng ẩm ướt,
lạnh lẽo.
Ngay khi ấy, cánh cửa tiệm bật mở đem theo
một làn gió buốt lạnh vào trong tiệm ăn, hai người đàn ông chùm
đụp trong những tấm chăn bẩn bước vào tiệm. Người phụ nữ nghĩ đó
là hai người khách cuối cùng, vì bà cũng nhớ ra đó là hai người
đàn ông nghèo khổ, không có một mái nhà, chỗ trú của họ là cái
gầm cầu ngoài xa lộ đi về hướng Galveston. Thỉnh thoảng họ có
dắt nhau đến đây, trông họ có vẻ là hai anh em, người đàn ông
lớn tuổi trông vẻ mặt rất ngây ngô như một đứa trẻ chậm phát
triển.
Trong hai người đàn ông ấy, ông già gương mặt
đờ đẫn, ngờ nghệch nhìn thế giới xung quanh ông như nhìn một thế
giới khác, thời gian đã cày lên khuôn mặt ông những nếp nhăn
chằng chịt, bộ râu hung hung nay đã xám ngoét, bết vào nhau như
một cụm rơm bẩn. Người đàn ông kia trẻ hơn, có đôi mắt màu xanh
lơ trông hiền lành như màu biển, co ro trong chiếc áo rét bằng
dạ xám bẩn và cũ. Họ rét lắm, chằng đụp lên người những quần áo
và chăn bẩn, bốc lên một mùi hôi. Ngoài trời, cơn mưa phùn mùa
Đông như những chiếc kim khâu luồn từng giọt căm căm vào xương
tủy, gió nhiều hơn mưa, mưa và gió lại là hai vị Thần nguy hiểm
của những người bần cùng, nghèo khổ.
Hai người đứng xếp hàng chờ đợi. Người đàn
ông trung niên vét mãi hết túi này đến túi kia được một nắm hào
lẻ, chưa đầy một đồng bạc nhưng cũng đủ mua một ly cà phê nóng.
Theo quy định của cửa hàng, khách vào tiệm phải mua một món gì
mới được phép ngồi lại. Trời rét ngọt ở bên ngoài, nhưng trong
tiệm thật ấm vì có máy sưởi, quần áo của hai người đàn ông nghèo
khổ toát ra một mùi hôi khiến những người trong tiệm phải nhăn
mặt. Mua xong ly cà phê, họ vội vã dẫn nhau vào cái bàn xa nhất,
như sợ rằng mùi hôi trên quần áo, cái nheo nhóc, bẩn thỉu của
thân phận người nghèo cũng sẽ làm những người xung quanh khó
chịu.
Người phụ nữ bán hàng để ý nhìn hai người
"homeless" mà chỉ mua có một ly cà phê. Khi nhận ly cà phê trên
tay bà, người đàn ông trẻ hơn vội vã đưa cánh tay dìu người đàn
ông già đi về chiếc bàn trong góc tối. Hình ảnh đó khiến bà xúc
động, một người "không có gì" cũng đang cố sức giúp một người"
không có gì" gượng đứng trên cõi đời đầy đau khổ, khi họ nhường
cho nhau ủ đôi bàn tay lạnh cóng vào ly cà phê nóng còn bốc
khói. Người đàn ông trẻ hơn đẩy ly cà phê vào đôi tay ông bạn
già đang run rẩy, rồi một chốc người kia lại đẩy ly cà phê sang
phía người đối diện, họ cứ chuyền tay nhau ly cà phê nóng còn
bốc khói mà không uống ngụm nào. Họ cần một chút ấm trong đêm
nay, mà cơn gió tháng chạp lạnh lẽo đã luồn vào gầm cầu trống
trải khiến họ rét run bần bật . Thời tiết và thời gian là đôi
bạn đồng hành ác độc đè lên đôi vai họ một cách nghiệt ngã, để
họ không còn sức chịu đựng mà chống chỏi cơn giá rét mùa Đông
như những năm trước.
Người phụ nữ đứng trong quầy hàng, như bức
xúc trước cái khổ của đồng loại. Dù sao bà cũng có một mái nhà
để chui ra chui vào, dù sao bà cũng có hai đứa con, và lát nữa
đây khi tiệm đóng cửa, con bà sẽ đến đón mẹ về nhà để đón mừng
ngày Lễ Giáng Sinh. So sánh giữa hai cái khổ, bà vẫn thấy mình
hạnh phúc hơn hai người đàn ông "homeless" kia. Không biết nghĩ
sao, bà móc túi tìm vài đồng bạc lẻ, và thật sung sướng khi đóng
vai một người khách, bà có đủ tiền mua tặng cho hai người đàn
ông nghèo khổ một khay thức ăn nóng hổi. Bà bưng khay thức ăn
đến cái bàn của hai người đàn ông, với một nụ cười dịu dàng và
câu chúc "Giáng Sinh Vui Tươi", bên chiếc khay còn thêm một ngọn
nến trắng cắm trong cái ly nhỏ bằng thủy tinh trong suốt, bà vừa
mua nó hồi trưa nay tại một tiệm chín mươi chín xu để buổi tối
đặt trên bàn ăn, đốt lên ngọn lửa giáng sinh ấm áp mừng ngày xum
họp trong gia đình.
Hai người "homeless" ngỡ ngàng nhìn người phụ
nữ. Người đàn ông mắt màu xanh lơ có chòm râu bạc nhìn chăm chăm
vào khuôn mặt của người phụ nữ tốt bụng, nói lời cảm ơn nghẹn
ngào với đôi mắt rưng rưng. Ông đẩy khay thức ăn qua cho người
bạn già ngớ ngẩn của mình, bằng ánh mắt thương yêu trìu mến.
Ngọn nến mà người đàn bà tốt bụng vừa đốt lên để mừng Giáng
Sinh, cho họ một cảm giác cực kỳ hạnh phúc, vì họ đang tận hưởng
được sự trân trọng như những con người bình thường trong xã hội.
Sau khi ăn xong khay thức ăn, người đàn ông
trẻ tuổi dọn dẹp rồi lại dìu người bạn già ra khỏi tiệm ăn. Đi
qua chỗ người phụ nữ, ông ta ngước đôi mắt xanh và mấp máy một
lời chúc tốt lành nhất mùa Giáng Sinh đến người phụ nữ, họ mỉm
cười với nhau. Đã tới giờ đóng cửa, hai kẻ cùng khổ không nhà ấy
dẫn nhau trở về cái dạ cầu, nơi trú ẩn của họ hằng bao nhiêu năm
nay, họ xin người đàn bà cho họ mang theo ngọn nến trắng. Bụng
đã no, lòng đã ấm vì tình người như một món quà Giáng Sinh quá
bất ngờ, vừa rơi xuống từ Trời để họ biết là vẫn còn những tấm
lòng tử tế trên cõi đời này. Người phụ nữ cũng sửa soạn ra về,
mang theo trong lòng một niềm vui nhỏ nhoi mà thật là ấm áp. Đôi
mắt xanh hiền hậu của người "homeless" nhìn bà lúc nãy trông
quen quá, dường như bà đã nhìn thấy ở đâu? Sau một phút nghĩ
ngợi, bà chợt "à"ø lên một tiếng nhỏ. Phải rồi, đó là đôi mắt
tượng Chúa treo trên vách nhà nguyện, ngồi giữa một bầy trẻ thơ
đang ríu rít đứng xung quanh.
5-
Người ta kể cho tôi nghe một câu chuyện khác,
lần này thì tôi nhớ ra ông Tom, người đưa thư da đen quen thuộc
vùng ngoại ô SouthEast. Ông Tom gốc gác người Phi Châu, da đen
bóng, tổ tiên ông bao đời đã từng sống nơi vùng đầm lầy
Lousiana, người du lịch đó đây có thể thấy bên ven đường đi
Baton Rouge, đài kỷ niệm những bước chân đầu tiên của người nô
lệ da đen trên xứ Mỹ.
Ông Tom làm nghề phát thư cho khu vực này khá
lâu, từ khi hàng cây sồi ven đường còn bé tý, những căn nhà
khang trang thuở ấy nay đã cũ kỹ, và chủ nhân những căn nhà ấy
bây giờ có thể là một bà cụ già đi không vững, đám trẻ đã đi đâu
mất, chỉ còn những tiếng chim ríu rít trên rặng sồi là còn y
nguyên. Ông Tom biết hết những căn nhà trên con đường River,
biết cả những căn nhà lần lượt đổi chủ, và những phụ nữ xinh đẹp
dễ thương năm nào, nay bước vào tuổi già còn lại một mình trong
khu nhà êm ả đầy bóng cây râm mát.
Ông Tom thân với cụ Mary nhất, cũng từ cái
hôm ông bị một con chó trong khu vực ra được cổng rào, rượt ông
chạy trối chết rồi vấp chân vào bậc xi măng bên vệ đường, ngã
lăn ra trước cổng nhà cụ Mary, đúng vào lúc bà cụ ra mở thùng
thư để lấy thư như thường lệ. Bà cụ nhìn người đưa thư da đen ái
ngại, rồi bà mời ông vào ngồi nghỉ trên chiếc ghế đá ở sân
trước, trong khi ông Tom chưa hoàn hồn vì cái ngã đau làm đầu
gối ông bị trầy trụa, rướm máu.
Bà cụ Mary vào nhà, lúc trở ra bà bưng cho
ông một ly nước cam, với một túi vải đựng dăm thứ thuốc sát
trùng và băng cá nhân. Bà dịu dàng bảo ông Tom vén ống quần lên
cho bà xem vết thương, nhẹ nhàng lau vết thương cho ông rồi băng
lại cẩn thận. Ông Tom cảm thấy dễ chịu quá, trước kia ông vẫn
ngấm ngầm cho rằng đâu đó là sự chia cách của màu da, của con
người giữa những tầng lớp xã hội, và những đau buồn của dĩ vãng
từ đời tổ tiên khiến ông có ít nhiều mặc cảm với người da trắng.
Hai người mỉm cười với nhau, chỉ có thế mà ông Tom nhớ mãi vì
hôm ấy là một ngày đẹp nhất của mùa thu . . .
Từ đó họ thành đôi bạn vong niên của nhau.
Ông Tom cũng biết thêm bà cụ Mary sống cu ky có một mình, con
cháu bà ở một thành phố khác, từ khi cụ ông qua đời thì bà Mary
cô quạnh thêm vì vắng người hủ hỉ. Mỗi ngày đem thư đến khu vực
này, ông Tom luôn mong thấy khuôn mặt và nụ cười hiền lành của
bà bạn vong niên ra lấy thư, hôm nào vắng bà cụ là ông Tom lại
cảm thấy không yên bụng.
Năm nay mùa Giáng Sinh lại đến. Mùa Đông rét
hơn mọi năm, hay là ông Tom nay đã yếu để thấy rằng cơn gió mùa
Đông Bắc bỗng dưng lại khắc nghiệt hơn những năm trước. Sau mùa
Giáng Sinh ông Tom sẽ có những ngày nghỉ phép, ông về thăm lại
anh em của mình ở vùng đầm lầy Lousiana, ông sẽ trở về khu nhà
tồi tàn, cũ kỹ nhưng ấm áp tình thương gia đình. Trước khi đi,
ông Tom sẽ nói cho bà Mary biết những ngày ông đi vắng, và ông
cũng mong rằng con cháu bà sẽ về xum họp với bà trong những ngày
nghỉ lễ cuối năm. Những ngày cuối năm bận rộn, ông Tom lái xe
đem đầy nhóc những cánh thiệp Giáng Sinh, thùng thư nào cũng có
những cánh thiệp mang đầy lời chúc tốt đẹp, nhưng hai ngày qua
mà thùng thư của bà Mary vẫn còn nguyên, không thấy bà lấy thư
như mọi khi.
Ông Tom lái xe đi rồi lại băn khoăn nghĩ ngợi
mãi, không yên lòng chút nào cả. Bà bạn già của ông không biết
đi đâu, ra sao? Lúc trước mỗi lần đi vắng đôi ngày, bà có nói
cho ông Tom biết, nhưng lần này ông chỉ nghe bà khoe người con
trai sẽ về thăm, lũ cháu đi nghỉ Đông với bạn bè ở miền Bắc.
Chắc chắn là bà Mary ở trong nhà, nhưng lý do nào mà thùng thư
của bà hai hôm rồi vẫn chưa lấy? Đáng lẽ ông Tom lái xe về Bưu
Điện khi đã bỏ hết thư trong ngày, nhưng nghĩ sao ông lại quành
xe về nhà bà cụ Mary, và ông rón rén mở cánh cổng rào thấp, hồi
hộp gõ cửa chờ đợi. Ông gõ năm, bảy lần, ông bần thần trong dạ,
linh tính cho ông biết bà bạn già không đi đâu, nhưng chẳng biết
vì sao bà không mở cửa.
Tuổi già sống một mình như bà cụ Mary là chấp
nhận tất cả nỗi cô đơn, buồn rầu, hiu quạnh, chưa kể những cơn
bịnh đến bất ngờ không chống đỡ được. Ông Tom định bỏ đi nhưng
lòng không an ổn, ông nhớ lại buổi chiều thu hôm nào bà Mary đã
lật đật lấy cho ông một ly nước cam, đã lau chùi băng lại vết
thương trầy trụa trên đầu gối ông, đã cho ông một nụ cười hiền
dịu nhất của tình nhân loại. Không nghĩ gì nữa, ông Tom quyết
định gọi "emergency" để báo cáo về sự vắng mặt của bà bạn già dễ
mến của mình. Khi người ta phá cửa vào nhà, bà Mary chỉ còn thoi
thóp thở, nằm bất động trên giường với khuôn mặt xanh lướt. . .
.
Câu chuyện của người đưa thư da đen cứu sống
một người đàn bà già nua cô độc trong căn nhà ở đường River,
người ta có đưa lên chương trình truyền hình địa phương một buổi
tối áp lễ Giáng Sinh. Chẳng biết có ai nghĩ gì về những nỗi buồn
đầy ắp trong cuộc sống thường ngày, hay chỉ có ông Tom đang cầu
nguyện cho bà bạn già mau bình phục.
Mùa Giáng Sinh
NGUYÊN NHUNG