Ông Nguyễn rất
thích đọc sách. Hồi niên thiếu, hễ vào thư viện hay đi đâu, ông
ngấu nghiến bất cứ cuốn gì vớ được. Học hành chẳng bao nhiêu,
nhưng không ít thì nhiều nhờ đọc sách, kiến thức cũng được mở
mang. Mở như thế nào không biết, nhưng hễ ai nói tới chuyện gì
ông cũng có khả năng góp vào được đôi câu cho có chuyện. Còn
những chuyện vượt quá sự hiểu biết, ông nói lấp lửng ra điều
"văn chương, chữ nghiã " vốn vẫn có những lắt léo bí ẩn không
giải thích được bằng lời, mà nếu muốn hiểu thì mỗi người lại
hiểu một cách, không ai giống ai.
Cũng đúng thôi,
ai muốn hiểu sao thì hiểu, tuỳ theo sự tiếp nhận cuả người đọc.
Cho nên ông ít khi góp ý hay bàn cãi về một tác phẩm, vì không
khéo thì lộ cái dốt cuả mình ra, mà có khi lại bị đánh giá là
người kém hiểu biết. Tốt nhất, " thì thưa thốt biết, không
biết dựa cột mà nghe", đó là ý nghĩ cuả ông, cuả
giới chỉ thích đọc mà không biết viết. Còn giới nhà văn với nhau
thì mỗi người một cõi, mỗi người là một thượng đế trong cõi thi
văn cuả họ, nhân vật sung sướng hay hạnh phúc, xấu xí hay đau
khổ , tha hồ được trí tưởng tượng cuả họ cho khóc cho cười, cho
chết cho sống. Người đời thường nói đuà với nhau " văn mình
vợ người", hay "hai cô ca sĩ có ưa nhau bao giờ"
chả biết có đúng không? nhưng đa số tác giả thích đọc sách cuả
mình , đọc đi đọc lại mãi không chán. Đứa con tinh thần mà, con
mình dẫu không đẹp thì mình vẫn thương, huống gì nó được vắt từ
tim óc .
Ông chỉ là một
độc giả cuả các nhà văn, nhà thơ, thành thử ông "trung dung
chính đạo", hễ thích văn ai thì ông cũng cố dè sẻn chút tiền
tiêu vặt để mua cuốn sách cuả họ. Giá được nhiều người có lòng
như ông thì đâu có câu : "văn chương hạ giới rẻ như bèo".
Mấy lần ông định viết thư cho một tác giả mà ông ái mộ, (nhưng
sách in ra chẳng bán được bao nhiêu), với câu an ủi rằng sách vở
thì có nhiều loại khác nhau, mà người đọc thì cũng nhiều loại
khác nhau. Có cuốn vừa in xong còn nóng hổi, ngày ra mắt sách ì
xèo người tới tham dự, nhưng xét về giá trị văn chương vẫn không
là sách quý, chẳng qua "nhất thân nhì thế " đó thôi. Giới nhà
binh đọc sách thì phải có súng nổ, có đại bác, có xung phong,
phi cơ bay lên bay xuống mới thành chuyện. Giới tù tội thì bắt
buộc phải có đói, có rét, bị kỷ luật nằm trong "chuồng bò", gánh
rau, gánh phân, khổ đến tận cùng bằng số. Riêng chuyện tình cảm
xã hội là chung của mọi người, mỗi người mỗi kiểu khác nhau,
thành thử ít có tác giả nào hoàn toàn được ái mộ trăm phần
trăm, hay bị chê bai trăm phần trăm, vậy nếu đã là "nghiệp" thì
cứ an tâm mà viết rồi . . . lách.
Suốt một tuần ở
nhà, ông vẫn có thói quen ra phố vào ngày chủ nhật. Cái thú đi
loanh quanh các tiệm buôn, ghé vào chợ mua vài món cần thiết,
ghé ăn tô phở để lấy tờ báo, thế là "nhất cử lưỡng tiện", được
cả món ăn vật chất lẫn món ăn tinh thần, mà chỉ mất có một lần
tiền. Sau đó thế nào ông cũng ghé tiệm sách, nghe nói có vài
cuốn sách vưà ra mắt độc giả, đọc quảng cáo thấy cũng hay hay,
nhưng số tiền giá sách khiến ông băn khoăn, vì chỉ còn đúng
mười lăm tiền trong túi. Phải tính toán tiền bạc cho văn chương
chữ nghiã cuả các nhà văn như vậy, ông cũng cảm thấy hổ thẹn
trong lòng, nhưng khổ nỗi tờ báo cho không ở các chợ hay các
tiệm ăn, vẫn quyến rũ hơn vì có đủ mục trong đó. Trước tiên
những tin tức cập nhật hằng ngày, hằng tuần xảy ra trên thế
giới, ngoài nước trong nước vẫn làm người đọc thích thú theo
dõi, sau đó mới rà rà qua mấy mục tử vi, mẹo vặt, chuyện trong
nhà ngoài phố, tình ái cuả các ca sĩ, tài tử đang lên. Cuối cùng
thì mới tới mục thi văn, nhưng món ăn tinh thần này phải có thì
giờ nhẩn nha, không vội vã để ngốn ngấu ngay được.
Những người bận
rộn không có thì giờ mó máy tới sách vở khá nhiều, cuộc sống
bên này có mỗi hai ngày cuối tuần thì phải dành cho đám cưới,
đám ma, shopping, đi nhà thờ, đi chợ, thế là hết. Còn những vị
tuổi nhàng nhàng chưa già không trẻ như ông lại có thú đọc sách
thấy cũng hiếm, nhất là khi bỏ tiền mua một cuốn sách, tác giả
đã đăng nhão nhề mấy lượt trên các tạp chí biếu không, ông lại
thấy lưỡng lự. Có khi đi chợ ông nhặt luôn được mấy số báo, tuần
sau ông lại thấy bài ấy ở trong một tờ báo khác, tự nhiên ông
khó chịu, như bị ăn hoài một món ăn, dẫu ngon tới đâu vẫn cảm
thấy như không còn háo hức như lúc được ăn lần đầu tiên.
Ông nhớ hồi còn
trẻ, thời cực thịnh cuả ngành báo chí, sách vở ở quê nhà. Báo
cũng phải mua mà sách cũng phải mua, không thấy ai cho không
biếu không như bây giờ. Những chiều thứ Bảy, những sáng chủ nhật
nhà sách Khai Trí đông nghẹt đám sinh viên, học sinh, những cặp
tình nhân ríu rít đi có đôi có cặp vào lựa sách, rồi tấp qua Rex
xem phim thật không có buổi chiều nào thơ mộng bằng. Giáo khoa,
nghiên cứu, tự điển, tiểu thuyết, thi tập bán chạy như tôm tươi.
Bây giờ nhìn thấy vẻ eo xèo cuả những tiệm sách, vẫn trăm hoa
đua nở mà khách thưởng hoa thưa thớt ông lại thấy ngậm ngùi. Tuy
thế, ông vẫn có cái thú tạt vào tiệm sách để ngắm nghiá những
cuốn sách phẳng phiu đầy màu sắc, nằm ngăn nắp trên những
chiếc kệ gỗ cũng rất hấp dẫn, như đi xem tài tử giai nhân trảy
hội ngày Xuân, chưa kể mùi thơm cuả giấy cũng quyến rũ không
thua gì nước hoa. Rồi khi đọc những tác phẩm mình thích, thì
đúng là đang hít thở cái hương hoa cuả văn chương vào tim óc.
Giới nhà văn, nhà thơ bói đâu ra được một độc giả như ông, để mà
cảm tạ một người vô danh có lòng với văn chương sách vở.
* * *
Khi ông bước vào
tiệm sách trời cũng đã xế trưa, ông chủ tiệm đầu hoa râm, đeo
đôi kính lão đang ngồi chăm chú với cái máy điện toán. Ông ta
liếc nhìn khách, nở một nụ cười xã giao rồi lại cắm cúi làm
việc. Hình như thế giới cuả tiệm sách là thế giới cuả im lặng,
khách cứ vào rồi ra, chả ai hỏi ai, chỉ khi nào tìm được cuốn
sách, hay tạp chí muốn mua, họ đến quầy tính tiền rồi đi, chứ ít
khi nghe tiếng chuyện trò như ở những quán ăn.
Bà vợ ông chủ có
vẻ hiếu khách hơn, lẽo đẽo theo khách với một nụ cười tươi như
hoa để cầu may, vì từ sáng đến giờ bà chưa bán được cuốn sách
nào. Ngó bề ngoài, bà đánh giá thành phần khách, kiên nhẫn đi
theo để chỉ dẫn. Bà chỉ một dãy những sách mới được trưng trên
kệ gỗ, nhưng thấy khách liếc mắt qua nhìn sơ với vẻ hờ hững, bà
bèn đi về phiá ông chồng lúc này cũng đang ngồi ngó ra ngoài sân
nắng, nhổ râu. Chả biết làm gì thì ông ta cứ vặt râu cho đỡ
buồn, rồi lại ngáp. Bên ngoài nắng đã lên cao, mới giờ này mà
sao cơn buồn ngủ làm ông ta díu cả mắt.
Khách lại thưa
thớt, chỉ loe hoe vài người đi tới đi lui, cầm hết cuốn này lên
rồi lại đặt cuốn kia xuống, băn khoăn, lưỡng lự . Bà vợ đã đi
vào nhà trong hâm bữa cơm trưa, ông chủ tiệm cứ ngáp ngắn ngáp
dài, chắc ông ta đang mong có tay bạn nào rảnh rang, ghé đấu láo
cho qua cơn buồn ngủ.
Chỉ có mỗi người
khách la cà lâu nhất là ông trong tiệm, đi đi lại lại mà chưa
biết sẽ mua cuốn nào. Trước tiên , ông vẫn có thói quen đánh giá
cuốn sách qua tên tuổi tác giả, rồi ngắm nghiá cái bià sách để
thưởng thức trước khi "chọn mặt gửi tiền". Ông lại có thói quen
gần giống hầu hết những người đi mua sách, gì thì gì cũng phải
xem qua tiểu sử và hình ảnh cuả tác giả.
Có nhiều người
nay đã lên lão làng, lại cho in tấm hình còn trẻ măng, oai
phong lẫm lẫm trong bộ chinh y thuở mới hai mươi tuổi. Có ông
lại nhờ hoạ sĩ vẽ hộ theo trường phái lập thể, ngó qua rất trừu
tượng. Có cô văn sĩ hình khá đẹp, trông như nữ sinh mười tám
tuổi. Chuyện này khiến ông cứ phải cười hoài một mình, vì chính
ông đã tương tư một nhà văn nữ chỉ vì tấm hình ở ngoài bìa sách,
lại mê tít giọng văn ngọt ngào cuả cô ta, ông cứ ao ước được gặp
để xem dung nhan thần tượng. Nhưng khi tình cờ gặp người trong
mộng bằng xương bằng thịt, ông đâm vỡ mộng, giận mình và thề
rằng không bao giờ đi tìm một tác giả nào nưã, kể cả đàn ông
cũng như đàn bà.
Đấy là phần hình
ảnh, còn tiểu sử thì vô số những lời khen tặng đã được in đầy ở
bià sau, không bỏ phí một ô vuông nào. Ông thích đọc tiểu sử tác
giả y như trẻ con học bài sử ký, vì nó có ghi rõ năm rõ tháng và
sinh quán cuả tác giả, cùng những trường học, trường đời, bằng
cấp đã đạt được trong đời người. Cái này quan trọng lắm, đó là
bảo chứng rõ ràng nhất để đánh giá một cây bút có tầm cỡ và
trình độ. Hầu hết cuốn sách nào cũng có tiểu sử cuả tác giả,
không vắn thì dài, chỉ có những tác giả tầm thường không xuất
thân từ trường lớp nào, ngoài tấm hình trơn tru không thấy có
phần tiểu sử. Phần này có nhiều kiểu khác nhau, có tác giả thì
viết tiểu sử rõ ràng theo thói quen làm lý lịch hay khai hộ khẩu
thời xã hội chủ nghiã, có lẽ bị ám ảnh phải thật thà khai báo
chăng? Có ông cẩn thận hơn, khai rõ thuở hàn vi cho tới hồi cực
thịnh, khiến nguyên một mảnh bià sau đặc kín những chữ.
Ông cứ vưà đọc
vưà tủm tỉm cười, khi tình cờ thấy những cái tiểu sử chả ăn
nhậu gì tới tác phẩm, nhưng đó là nghệ thuật quảng cáo cuả mỗi
người. Bây giờ đứng trước một rừng những cuốn sách còn phẳng lì,
trơn láng bìa giấy cứng, ông bắt đầu chọn lựa một cuốn sách có
giá trị mà lại vừa vặn với túi tiền cuả mình nữa. Khó quá đi
thôi, cuốn nào cũng xứng đáng với công sức cuả tác giả, đủ loại
từ biên khảo, dịch thuật hay phóng tác, lịch sử, dã sử, hồi ký
và sáng tác. Hồi ký chiếm đa số trong hàng hàng lớp lớp những
cuốn sách trong tiệm, hầu như mỗi tác giả là một vùng trời khác
nhau, nhất là những hồi ký về chính trị hay lịch sử, thì cũng
một thời kỳ ấy mà mỗi vị lại kể một khác, tuỳ theo góc cạnh và
chỗ đứng cuả họ. Còn truyện dịch, ông chưa thấy ai qua mặt được
tác giả dịch tác phẩm "Bố Già" ở thập niên sáu mươi, đọc hấp
dẫn từng câu, từng chữ. Ông không chịu nổi lối phóng tác truyện
nước người ra nước mình, vì tư tưởng giữa hai nền văn hoá khác
nhau, bối cảnh và ngôn ngữ , lối suy nghĩ hoàn toàn khác, nó
chỏi nhau đến độ ngớ ngẩn. Chỉ có sáng tác là dễ viết nhất, vì
nó chả đụng chạm tới ai, chuyện là chuyện đời thì nó giống nhau,
ai cũng tưởng tượng ra được, chỉ cần sắp xếp sao cho có tình có
lý.
Có nên tin vào
lời TỰA hay bài giới thiệu trong những cuốn sách không nhỉ? Sách
là một món ăn tinh thần thì cũng phải " ăn " mới biết ngon hay
dở, còn cứ liếc qua mấy trang đầu thì chưa ăn thua, bởi vì có
những tác phẩm càng đọc càng thấm, càng thấy cái sâu sắc cuả
truyện. Băn khoăn mãi mà chưa dứt khoát mua cuốn nào, vì chỉ có
mười lăm đồng trong túi, ông đã nghe có tiếng cười nói tíu tít
cuả một đám nhơ nhỡ đi theo một bà xồn xồn bước vào tiệm. Ông
chủ tiệm đang ngồi gõ lạch cạch cái còm-piu-tơ, nhướng mắt lên
nhìn, bà vợ lại đon đả mời khách. Tự nhiên ông cũng mừng giùm
cho người chủ tiệm, và mừng cho nền văn chương Việt Nam vẫn còn
tồn tại được, bởi những lớp trẻ đang lớn lên ở xứ người vẫn còn
tha thiết tới sách vở. Khách đây là một bà xồn xồn với hai cô
tre trẻ, chắc là ba mẹ con, thêm một anh thanh niên ngó bộ dạng
là người yêu cuả cô con gái lớn. Bà chủ tiệm lại đon đả mời:
" Bà và cô
cần loại sách nào?"
Hai nguời đàn bà
toe toét cười. Cô gái hỏi:
" Có sách xem
tử vi và so tuổi không hở bác?"
Hoá ra cô bé sắp lấy chồng, cô cần so tuổi
để coi ngày làm đám hỏi, đám cưới. Gì chứ thứ này rất sẵn,
bà chủ mau mắn dẫn ba người đến chỗ để đầy những sách tử vi,
lịch Đông Phương và bói toán. Cô chụp ngay lấy cuốn có bàn tay
bên ngoài cuốn sách, rồi reo lên như tìm được tri
kỷ:
"Đây rồi!" Cô nũng nịu gọi anh thanh niên:
" Anh nè, đưa tay đây em xem. Nắm chặt tay lại coi nào.
Hai đường chỉ nhé, thế là tới hai lần vợ, thôi em chả lấy
anh đâu."
Gã thanh niên càu nhàu, lườm cô gái:
"
Chúng nó chỉ viết nhảm, thế mà cũng tin".
Bà mẹ đã lựa
xong cuốn tử vi đẩu số, rồi bà nhìn quanh quẩn, nói trống không:
" Có cuốn "Con ma vú dài" không?"
Bà chủ tiệm kiên nhẫn:
" Sách đó cuả ai hở bà?"
Cô con gái vội kéo tay mẹ, giọng hơi mắc cở:
" Không có cuốn đó đâu má. Đó là phim bộ Hồng Kông mà, má
phải qua tiệm Video kìa."
Rồi bốn người kéo nhau ra quầy tính tiền, cô con gái còn mua
thêm cuốn tiểu thuyết diễm tình "Mười đêm không ngủ " nữa. Họ
kéo nhau đi, chỉ oòn lại ông là người khách duy nhất trong tiệm,
với bao nhiêu cuốn sách đẹp phây phây đang chờ ông chọn về làm
bạn.
Ông cầm hết cuốn này lên, rồi lại đặt cuốn kia xuống, giá có
tiền thì ông bưng về hết để khỏi phụ lòng anh em cầm bút. Vốn đa
cảm, ông ứa nước mắt khi nghĩ đến cái nghề mà thiên hạ cứ bảo
là bạc bẽo, thầm phục sự can đảm cuả các nhà văn, nhà thơ. Thời
buổi khó khăn, bỏ bao nhiêu công sức để vắt óc vắt tim viết được
một cuốn sách, bỏ mấy ngàn đồng để in, để rồi thu vào từng chục
bạc với nỗi vui sướng vẫn có người mua sách, đọc sách cuả mình.
Họ đâu có cái can đảm hay trâng tráo để tự khen ngợi văn chương
cuả mình theo kiểu : "Phở ngon không cần bột ngọt, đầy đủ mùi
vị hấp dẫn", vì văn chương khi được in thành truyện, đã cho ra
đời để đến tay người đọc, là nó đã thuộc về đám đông, và chỉ
được đánh giá bởi độc giả mà thôi.
Những cuốn sách trên kệ gỗ cứ đập vào mắt ông những hàng tựa
thật nổi, thật đẹp. Có những tác phẩm đồ xộ dầy hằng bốn, năm
trăm trang nằm im lặng như một nấm mộ đẹp, ông nhìn thấy đã mấy
năm rồi mà vẫn còn trên kệ sách. Có những tác phẩm khiêm nhượng
hơn , với bìa màu trang trí lộng lẫy, buồn so như cô gái có nhan
sắc mà duyên phận lại hẩm hiu. Vốn đa cảm, ông hay lẩn thẩn nghĩ
chuyện này ra chuyện kia, với cái đà này thì mong gì mươi, mười
lăm năm nữa, liệu rằng những đám già thích đọc sách như ông tiêu
diêu miền cực lạc, còn ai đọc nữa để bảo tồn Văn hoá Việt.
Thỉnh thoảng lại
có người ghé vào mua cái CD vài đồng bạc, hay tờ tạp chí hai
đồng. Nhà văn với nhà báo là hàng xóm cuả nhau, cũng chịu chung
số phận một trời lận đận. Nhưng có những tạp chí hay nhật
trình, lấy được nhiều quảng cáo thì họ sống nhờ vào đó, còn mấy
tờ ít quảng cáo trông cậy vào độc giả xa gần thì thê thảm hơn,
ít ra gia đình họ phải có nền kinh tế vững vàng, báo bổ chỉ là
thứ nghiệp chướng mà vợ con họ phải ghé vai vào gánh vác. Chưa
kể trăm thứ "tiền oan nghiệp chướng" khiến đã có người mai miả :
"ghét ai thì cứ xúi người ấy làm báo". Nhà văn đã khốn khổ vì
sách, nhà báo cũng khốn khổ vì báo, sách báo đưa qua tiệm sách
thì kể như tung lá đi bốn phương Trời mười phương Phật, hiếm khi
thấy "lá rụng về cội".
Óc tưởng tượng khiến ông nghĩ xa hơn.
Mai mốt đây nếu Trời cho ông sống lâu trăm tuổi, vẫn yêu thích
văn chương, nhưng mắt mũi mờ mịt có thấy gì đâu mà đọc. Ông chủ
tiệm và bà chủ tiệm, những người chọn nghề bán sách làm nghề
cao quý để gần gũi văn chương, sách vở, chắc khó lòng tìm được
người để nối tiếp nghề nghiệp cao quý này. Và, những tiệm sách
Việt Nam cứ từ từ biến mất hẳn ở hải ngoại. Một nhà văn nổi
tiếng đã từng than thở với ông:
" Viết chỉ vì
cái nghiệp, lại là cái nghiệp khổ, "đã mang lấy nghiệp vào thân,
cũng đừng trách cứ trời gần trời xa". Bỏ một số vốn kha
khá để ra một tác phẩm, vưà bán vưà cho, chỉ mong gỡ lại vốn, để
khi nào có dịp lại có tiền làm cuốn khác. Đó là kinh nghiệm "lấy
ngắn nuôi dài", trả bớt cái nghiệp khổ để kiếp sau khỏi vướng
vào nghiệp cầm bút."
* * *
Cuối cùng ông
cũng phải rời tiệm sách, vì ngoài kia nắng đã nghiêng vai chiếu
cái nắng chói chang vào cửa tiệm. Thấy ông kề cà lâu quá mà chưa
chọn được cuốn sách nào, ông chủ tiệm nhìn ông với cái nhìn
thiếu thiện cảm, làm như ông là kẻ đang ăn cắp chữ nghiã không
bằng.
Ông thò
tay vào túi, mười lăm đồng chỉ mua được có một cuốn mà cuốn nào
ông cũng muốn mua. Ông thương quá những hình ảnh tác giả trang
trọng ở bià sau cuốn sách, ông thương quá những dòng chữ đều đặn
viết bằng những đam mê và khắc khoải cuả nhiều đêm không ngủ,
những ray rứt, những nghĩ suy trăn trở cuả tác giả đã gửi gấm
hồn mình qua nhân vật cuả truyện, để rồi nằm chơ vơ trên kệ sách
mờ dần với lớp bụi thời gian.
Với mười lăm
đồng quả chưa xứng đáng cho công lao cuả những người vắt tim óc
ra thành chữ kia, nhưng biết làm sao bây giờ. Ông ngần ngừ mãi
rồi chọn một cuốn cuả nhà văn nữ, chỉ vì tội nghiệp tác giả
không có phần tiểu sử ở mặt bià sau.
NGUYÊN NHUNG