SỢ NGỌT


 

Nguyên Nhung

E-Mail: nguyennhung@khoahoc.net

31 tháng 01 năm 2008

Không biết  tôi sợ ngọt từ khi nào, nhưng chắc chắn một điều là từ hồi còn rất bé. Năm ấy tôi chỉ độ mười tuổi, Tết năm nào mẹ tôi cũng có thông lệ, cứ một nồi bánh chưng là phải làm một mâm chè kho thật lớn, để  đem biếu và đãi khách lai rai ba ngày Tết, rồi ăn rền rền cho đến Rằm tháng Giêng mới hết.

 

Đối với người miền Bắc, chè kho không lạ lùng gì. Đấy chỉ là thứ đậu xanh đãi vỏ, xôi  nhừ rồi đánh cho tơi, nấu lại với đường cát quậy deo dẻo rồi đổ ra chiếc mâm gỗ, trên mặt có rắc vừng. Vì muốn để dành lâu mà chè không bị mốc,  cho nên mẹ tôi nấu thật ngọt, rồi rang vừng, rắc một lớp dày và đều trên mặt chè, rất thơm.

 

Ngày cận Tết, xúng xính trong chiếc áo dài gấm Thượng Hải, cổ đeo vòng kiềng, tôi theo mẹ bưng quà Tết đi biếu những nơi ơn nghĩa, họ hàng. Vuông chè kho được gói trang trọng trong giấy bóng kính đỏ, đặt trên chiếc mâm gỗ, thắt lại như một chiếc hoa. Kèm theo gói trà Tàu, hay chiếc bánh chưng, tùy theo nơi nào phải biếu nhiều hay ít, những ngày chuẩn bị Tết là những ngày bận rộn nhất của mẹ tôi, vì món nào cũng phải làm, không mua sẵn ở các tiệm buôn như bây giờ, đã trở thành thông lệ mỗi khi Tết đến.

 

Không phải chỉ nhà tôi mới có nồi chè kho, mà hầu như nhà nào cũng có, nhất là những nhà dân giả, mỗi năm chỉ đợi đến ngày Tết, bày ra món này món kia sau một năm vất vả, có lẽ cũng chỉ ước mong quanh năm no đủ. Rồi nhà nọ biếu lại  nhà kia, quanh đi quẩn lại cũng bánh chưng, chè kho, trà tàu, mứt sen, mứt bí , toàn những thứ ngọt gắt và nóng nẩy. Chè kho làm bằng đậu xanh vốn mát, ăn không thì hàn, nhưng nấu đường kiểu chè kho thì trẻ con, người lớn, xơi đẫy vào là biết tay nhau, mắt toét ra vì nóng.

 

Tôi  ăn chè kho ngày Tết nhiều quá, đâm dị ứng với ngọt, hễ xơi nhiều đường là nhức đầu. Bởi vậy, sau này khi gia đình sinh sống ở thành phố, đến tuổi con gái cô nào cũng chăm chăm làm bánh, làm mứt, khoe khéo với thiên hạ thì tôi trốn biệt, mẹ tôi phải mắng tôi là con gái đoảng vị, bánh không biết làm, chè không biết nấu, sau này lấy chồng, ngày giỗ ngày Tết biết làm cái chi.

 

Mẹ mắng thì mẹ mắng, mỗi lần Tết đến, thấy mẹ sắp ngâm đậu, đãi vỏ nấu chè kho là tôi lỉnh đi chỗ khác ngay, chúi đầu vào mấy cuốn tiểu thuyết giả vờ như đang bận học. Cứ Tết đến, bất kỳ ai cũng được thưởng thức món chè kho của " bà cụ", mẹ tôi lúc ấy chưa già lắm, nhưng vì lưu lạc vào một xóm toàn người miền Nam, cho nên cứ thấy bà Bắc Kỳ, ăn trầu, răng đen thì họ đều vui vẻ tặng cho mỹ danh " bà cụ". Mỗi lần  có khách phương xa đến tìm nhà, chỉ cần hỏi thăm nhà "bà cụ" là cả xóm đều biết,  lũ trẻ con trong xóm nhanh nhẩu dẫn khách đến tận nơi.

 

Các anh chị tôi ăn chè kho ai cũng tấm tắc khen mẹ tôi  nấu ngon, người nào cũng muốn lấy lòng mẹ để bà cụ vui. còn khách miền Nam trong xóm thì gật gù cho là món chè đậu xanh đánh, nếu bỏ vô ly thêm chút nước dừa, ăn với nước đá thì ngon hơn. Mỗi miền mỗi kiểu, nhưng món chè kho của mẹ tôi đã chấm dứt khi cụ đã lớn tuổi, vi nó ế thiu ế chảy khi đám con cháu cũng chả mặn nồng gì cho lắm. Tuy nhiên, chè thì tôi không thích, nhưng nó lại gắn liền với chuỗi ngày thơ ấu, và cho đến khi trưởng thành, bước vào cuộc đời , đụng chạm với nhiều con người tính nết khác nhau, tôi mới thấy câu : "mật ngọt chết ruồi" quả cần ghi nhớ mãi.

                          

*    *    *

 

Thuở tôi còn bé, mới di cư vào Nam, gia đình tôi sống quây quần với họ hàng, làng xóm  cho đỡ buồn vì nhớ quê. Cho nên vào ba ngày Tết, diện quần áo đẹp, chân giày chân dép đến thăm nhau, tiếng cười câu chúc vang rân từ đầu ngõ.

 

Tôi có mấy người chị họ con bác Cả, gọi mẹ tôi bằng cô, chị nào cũng xinh. Dạo còn sống ở miền Bắc, mẹ tôi ở tỉnh trong khi bác tôi vẫn ở nhà quê, con gái vừa lớn lên đã cho nhuộm răng đen, quấn khăn vành dây. Trong đám cháu của mẹ tôi có chị Phượng là xinh nhất, gái quê mà da trắng bóc, người mảnh mai và rất hay cười. Hay là mắt tôi thuở  ấy cái gì cũng đẹp cả, trong óc tôi vẫn còn rõ ràng hình ảnh chị Phượng năm xưa, dưới giàn thiên lý mát rượi, khoảng sân đất có những chiếc bóng nắng xuyên qua giàn  lá xanh non, đậu trên vai áo chị.  Hoa thiên lý ửng vàng trong nắng sớm, chị Phượng mặc chiếc áo phin nõn, quấn khăn vành dây bằng nhung đen, còn phất ra một đuôi tóc mây óng ả. Chị cười, hàm răng đen nhánh đều tăm tắp, khuôn mặt trái soan của chị thật xinh xắn, tôi thấy chị đẹp nhất trần đời, ngắm chị không chán mắt.

 

Chị Phượng là con gái lớn của bác Cả, năm ấy đâu mới mười chín mà đã lắm nơi ngấp nghé, mối mai. Chị hiền lắm, chỉ hay cười, khen cũng cười mà mắng cũng cười, có lẽ tính chất ấy chỉ biểu hiện nơi những cô gái quê Việt Nam thời xa xưa. Chị năng lui tới nhà tôi vì thích bà cô có chồng tỉnh,  lũ em họ được đi học có hiểu biết, nói năng bạo mồm bạo miệng. Khi đến nhà, chị hay quanh quẩn dưới bếp giúp mẹ tôi làm cơm, dù bữa cơm nhà nghèo quanh quẩn chỉ là nồi cá kho dưa, tô canh hoa lý nấu tôm khô ngọt lịm, thêm một bát cà pháo ngâm tương cuả mẹ tôi. Nhà bếp được làm cách nhà trên bằng một giàn hoa thiên lý, khi từ trong bếp ra, khuôn mặt chị ửng hồng , chiếc áo cánh trắng và những bóng nắng rung rinh dưới bóng râm của giàn hoa thiên lý, trông chị rất xinh.

 

Có lẽ mơ ước được lấy chồng tỉnh thành như mẹ tôi, nên khi có người mối mai cho một người ở thành phố xa ven biển, chị Phượng bằng lòng ngay. Năm ấy chị đã hai mươi tuổi, nghe nói gia đình chồng chị khá giả, nhà lại đông người, chồng chị là con cả, người lại xấu xí cho nên muốn tìm nơi môn đăng hộ đối cũng khó, khi theo cha mẹ và người mai mối đến xem mặt chị Phượng, anh mê tít . Cho đến bây giờ tôi vẫn nhớ mài mại cái miệng uốn éo của người mai mối cho chị Phượng, và cứ theo cái miệng ấy thì chị Phượng tôi đúng là "chuột sa trĩnh gạo".

 

Đám cưới vào khoảng tháng mười âm lịch, người ta cưới vợ về ăn Tết, nhà trai đem cả xe  hoa đến đón dâu. Trước ngày cưới, chị Phượng được đem ra tỉnh uốn tóc, cạo răng trắng , may áo gấm và đi hài cong. Hôm cưới chị, tôi nhìn mãi không ra, chị vẫn hay cười như mọi khi, nhưng sao trong tôi hình ảnh chị Phượng mặc áo phin trắng dưới giàn hoa thiên lý, nụ cười với hàm răng đen nhánh vẫn có duyên làm sao, tự nhiên tôi thấy mình vừa đánh mất chị Phượng hôm nào, dù chị vẫn còn đấy.

 

Bốn  chiếc xe đưa chị Phượng về nhà chồng, họ hàng xa gần ai cũng thích đi theo để ăn nói, và cũng để có dịp xem dinh cơ nhà chồng chị. Cả cái xứ đạo ấy từ trước đến giờ  chưa có cô nào đi lấy chồng tỉnh, lại có xe hơi đón dâu, bởi vậy đám cưới chị Phượng cũng là niềm mơ ước của bao cô gái đồng trang lứa thuở ấy. Suốt mấy ngày bận rộn với quần áo, gương lược, gối chăn để về nhà chồng, chị Phượng không có thì giờ ngó đến tôi, lúc ấy vẫn đứng lặng lẽ ngắm nghía chị và mấy cô phù dâu ríu rít trò chuyện. Chắc hẳn lòng chị phơi phới lắm, vì chị Phượng của tôi là một cô gái quê xinh đẹp, hiền lành, những ước mơ của chị, con đường chị sắp đi chắc toàn một màu hồng, chứ chị có ngờ đâu đời chị sau này không giản dị như chị nghĩ, bởi cuộc đời đâu làm sao biết trước được.

 

Nhà chồng chị xa lắm, một thành phố ven biển đi mất ba tiếng đồng hồ mới tới. Chắc là trên chiếc xe hoa về nhà chồng, lòng chị phới phới đầy mộng đẹp.  An uống tiệc tùng xong, trời đã về chiều, nhà gái lên xe trở về. Lúc  tiễn mọi người ra về, lúc ấy tôi mới thấy chị Phượng khóc,  hai mắt chị mọng đỏ, mặt không còn tươi như mấy hôm trước. Khi ấy chị mới chú ý đến tôi, chị ôm chặt tôi vào lòng thút thít khóc, tôi cũng cảm động rươm rướm nước mắt.

 

Cuộc vui nào cũng tàn, ngày vui nào cũng hết, sau này độ hơn mười năm sau, gặp lại chị nhan sắc phai tàn, tôi lại nhớ như  in khoảng sân sau của nhà bếp bên chồng chị, ngổn ngang những  nồi niêu, bát đĩa bẩn. Chắc hẳn sau đó khi những áo gấm, kiềng vàng, hài cong được xếp lại trong phòng tân hôn, chị Phượng đã có bao nhiêu việc phải làm , để trả giá cho một ngày vui đời con gái.

 

*    *    *

 

Dường như  "trời xanh quen thói má hồng đánh ghen", cho nên chị Phượng xinh đẹp, nết na là thế mà vẫn không được hưởng hai chữ hạnh phúc.

 

Chị lấy chồng xa, ít khi được về nhà, sau này nghe phong phanh là nhà chồng chị tuy giàu, nhưng bà mẹ chồng keo kiệt, tằn tiện, bởi vậy  từ ngày chị về làm dâu, bà không phải thuê người làm công nữa. Chị Phượng thật xứng đáng với câu: "Lấy chồng gánh vác giang sơn nhà chồng", những câu khen ngợi phỉnh phờ làm chị hởi dạ, cho nên như con ruồi chết trong mật, chị vui vẻ gánh vác lấy việc lớn việc nhỏ nhà chồng, chả mấy khi được về thăm bố mẹ, vì chỉ một lần đi, lúc về chị phải làm bằng bốn. Điều bất hạnh nữa là chị lấy chồng đã ba năm mà chẳng có tin vui. Ai biết là tại ai, nhưng dân gian thì cũng cay nghiệt, lúc nào cũng cho là tại người phụ nữ, cho nên  mới có câu: " Cây sâu không trái, gái độc không con", chồng chị mới có cớ để gian díu với người đàn bà khác, mà lại được sự đồng tình của những người chung quanh.

 

Khi đau khổ, một lần về thăm gia đình chị Phượng ghé thăm mẹ tôi với vẻ thiểu não của người phụ nữ  bị bỏ rơi, đầy mặc cảm. Mái tóc xoăn bù xù hôm nào nay được bới gọn sau gáy, hai mắt chị trũng xuống, tôi không tìm ra nét tươi vui nào của chị Phượng năm xưa, khi đứng dưới giàn hoa thiên lý. Tôi nghe mẹ tôi nói:

" Nó đã thế thì về quách bên mình mà sống, chứ ở đấy làm gì cho tủi thân."

Chỉ nghe tiếng chị sụt sùi, đôi vai chị rung rung, gầy guộc:

" Bố mẹ cháu không bằng lòng đâu cô, vì đàn bà đã có chồng dẫu có thế nào cũng phải chịu. Với lại nhà chồng cháu rất tử tế, mẹ và các em vẫn thương, ai cũng khuyên cháu chịu đựng, cái số mình vậy thì mình phải vậy, chỉ tại cháu không con mới nên nông nỗi này."

Mẹ tôi gắt:

" Đâu phải ai lấy chồng cũng phải có con ngay, có khi năm mười năm mới đẻ thì đã sao. Tại sao cháu cứ cho là lỗi tại cháu?"

Chị Phượng khóc nức lên:

" Vì người ta có con với nhau, thì lỗi tại cháu chứ tại ai. Nhà chồng cháu giữ cháu lại, vì chỉ biết có cháu là con dâu, có cưới hỏi hẳn hoi. Với lại cháu nghĩ, bước đi thì dễ mà bước về lại khó, còn họ hàng làng nước nữa..."

 

Hình như xã hội Việt Nam thuở ấy còn câu nệ, bảo thủ những quan niệm cũ, hai bác Cả cũng như ngay chính bản thân chị Phượng, cũng không thoát  được quan niệm ấy. Bác Cả cũng không dám giữ con ở nhà vì sợ mang tiếng với làng nước, mỗi khi chị về, bác  gái lại nguây nguẩy đuổi con đi, dù chắc trong lòng cũng đứt từng đoạn ruột. Mẹ tôi dẫu sao cũng được ra tỉnh, có chút chữ nghiã, thỉnh thoảng khi rỗi rảnh, mẹ tôi vẫn đọc vài tác phẩm cuả Tự Lực Văn Đoàn, cho nên tư tưởng cũng phóng khoáng hơn những người ở nhà quê. Mẹ tôi bực mình mắng cháu:

" Thương cái xương chẳng còn, họ cần người làm chứ thương gì cháu. Bây giờ cháu về, ai làm bấy nhiêu công việc cho họ."

 

Chị Phượng chỉ ghé vào nhà tôi lần đó rồi biệt tăm luôn, có lẽ chị sợ mẹ tôi mắng, mà có lẽ gia đình bác Cả cũng không giúp chị được con đường nào sáng sủa hơn. Tuy ai cũng thương chị,  nhưng không chống lại được cái  quan niệm bất di bất dịch của thời đó, âu là số phận nghiệt ngã đã xô đẩy chị không cho ngóc lên nổi. Mẹ tôi sau này mỗi lần nhắc đến người cháu đáng thương của mình, lại than thở:

" Con ấy sau này chết vì ngọt."

 

*     *     *

 

Chẳng biết chị Phượng sau này có "chết vì ngọt" như lời tiên đoán cuả mẹ tôi không, nhưng tương lai chị về sau cũng gần gần như vậy. Khi tôi lớn hơn, cả nhà đã dời về sinh sống ở một thành phố lớn, ít có dịp gặp lại hai bác Cả và mấy người chị  họ, nhưng tôi vẫn nhớ chị Phượng . Mãi lâu lắm khi  chị tìm đến thăm mẹ tôi,  tôi phải giật mình vì sức chịu đựng của chị. Lúc ấy trông  chị như một cây hoa thiếu phân, thiếu đất, càng ngày càng tàn tạ, ủ ê, cuộc đời đã mất hết ý nghĩa , cũng chỉ vì những kẻ bất nhân đã lừa phỉnh chị, để  chị bằng lòng với số phận nghiệt ngã ấy, mà không nghĩ tới chuyện tìm một lối thoát cho bản thân. Người ta thường đổ thừa cho số phận, nhưng riêng tôi nghĩ khác, nếu cuộc đời không có những con người sáng tạo ra một loạt chữ nghĩa, đặt để trên thân phận nhỏ nhoi của một tâm hồn trong sáng, lợi dụng sự ngây thơ và thật thà của chị thì chị Phượng đâu đến nỗi khổ như thế.

 

Tội nghiệp chị Phượng của tôi, càng suy nghĩ tôi càng khinh bỉ những con người thâm độc kia.  Người ta đã quàng vào cổ chị những vòng hoa lòe loẹt, với những mỹ từ chính chuyên, tiết hạnh, đạo đức, nhưng mấy ai đã chia xẻ với chị nỗi buồn thui thủi của một phận người. Sau này, đã có bao hoàn cảnh giống chị Phượng, họ cố bức phá ra khỏi con ngõ tối tăm đó, nhưng lại bị một  loạt  những khuôn mặt đạo đức giả lên án, cuối cùng thì họ đứng chơ vơ với ốc đảo cô đơn, chịu đựng sự khinh bỉ của những con người thiển cận, thiếu suy nghĩ.

 

Sau này ra đời, tôi đã nhìn thấy bao nhiêu con ruồi chết trong mật, một thứ mật ngọt ngào được sản xuất ra từ những cây mía bẩn thỉu, lẫn lộn bao rác rưởi và đất cát, tôi lại càng sợ ngọt. Tôi vừa nghi ngờ, vừa buồn cười, vừa thích thú đến khinh bỉ ngắm nhìn những cái miệng uốn éo tuôn ra những lời ngọt ngào như suối, rồi liên tưởng đến những con rắn và những cái nọc độc.

 

Chị Phượng vẫn sống ở bên  chồng cho tới tuổi bốn mươi. Lúc chị đau ốm quặt quẹo luôn, người ta nghĩ đến cách tống khứ chị ra khỏi nhà, bằng cách lại mai mối cho chị một ông già goá vợ. Chị Phượng tuy hiền lành và nhẹ dạ, nhưng chị cũng không còn nông nổi  để bước đi bước nữa, lại  cũng thấm thía được tình đời bạc bẽo. Hai bác Cả đã quy tiên, mẹ tôi cũng qua đời, anh chị em ai cũng "kiến giả nhất phận",  chị Phượng số cô độc, sau vào nương náu trong Trại cô nhi, giúp các bà sơ chăm sóc cho đám trẻ mồ côi. Đời chị dù không có một đứa con máu thịt, nhưng đã có bao nhiêu đứa trẻ bất hạnh cần đến tấm lòng nhân hậu của chị, thật là một con người có tấm lòng cao quý...

 

Nhân nhắc đến nồi chè kho ngọt đậm của mẹ tôi ngày Tết, tôi lại nhớ chị Phượng. Bây giờ chắc chị cũng sắp kề miệng lỗ, còn tôi thì đi thêm một bước cũng tới. Còn đâu hình bóng giai nhân năm nào, má thắm, môi son, áo phin nõn  in những chiếc bóng nắng dưới giàn hoa thiên lý. Dẫu biết cuộc đời như một giấc mơ, sự đào thải của thời gian không chừa một ai, vậy mà mỗi lần ngược dòng dĩ vãng, tôi vẫn cứ  ngậm ngùi khi nghĩ đến người chị họ đáng thương của mình.

       

NGUYÊN  NHUNG

                                   

Trở về Trang Chính