Không biết tôi sợ ngọt từ khi nào, nhưng
chắc chắn một điều là từ hồi còn rất bé. Năm ấy tôi chỉ độ mười
tuổi, Tết năm nào mẹ tôi cũng có thông lệ, cứ một nồi bánh chưng
là phải làm một mâm chè kho thật lớn, để đem biếu và đãi khách
lai rai ba ngày Tết, rồi ăn rền rền cho đến Rằm tháng Giêng mới
hết.
Đối với người miền Bắc, chè kho không lạ lùng
gì. Đấy chỉ là thứ đậu xanh đãi vỏ, xôi nhừ rồi đánh cho tơi,
nấu lại với đường cát quậy deo dẻo rồi đổ ra chiếc mâm gỗ, trên
mặt có rắc vừng. Vì muốn để dành lâu mà chè không bị mốc, cho
nên mẹ tôi nấu thật ngọt, rồi rang vừng, rắc một lớp dày và đều
trên mặt chè, rất thơm.
Ngày cận Tết, xúng xính trong chiếc áo dài
gấm Thượng Hải, cổ đeo vòng kiềng, tôi theo mẹ bưng quà Tết đi
biếu những nơi ơn nghĩa, họ hàng. Vuông chè kho được gói trang
trọng trong giấy bóng kính đỏ, đặt trên chiếc mâm gỗ, thắt lại
như một chiếc hoa. Kèm theo gói trà Tàu, hay chiếc bánh chưng,
tùy theo nơi nào phải biếu nhiều hay ít, những ngày chuẩn bị Tết
là những ngày bận rộn nhất của mẹ tôi, vì món nào cũng phải làm,
không mua sẵn ở các tiệm buôn như bây giờ, đã trở thành thông lệ
mỗi khi Tết đến.
Không phải chỉ nhà tôi mới có nồi chè kho, mà
hầu như nhà nào cũng có, nhất là những nhà dân giả, mỗi năm chỉ
đợi đến ngày Tết, bày ra món này món kia sau một năm vất vả, có
lẽ cũng chỉ ước mong quanh năm no đủ. Rồi nhà nọ biếu lại nhà
kia, quanh đi quẩn lại cũng bánh chưng, chè kho, trà tàu, mứt
sen, mứt bí , toàn những thứ ngọt gắt và nóng nẩy. Chè kho làm
bằng đậu xanh vốn mát, ăn không thì hàn, nhưng nấu đường kiểu
chè kho thì trẻ con, người lớn, xơi đẫy vào là biết tay nhau,
mắt toét ra vì nóng.
Tôi ăn chè kho ngày Tết nhiều quá, đâm dị
ứng với ngọt, hễ xơi nhiều đường là nhức đầu. Bởi vậy, sau này
khi gia đình sinh sống ở thành phố, đến tuổi con gái cô nào cũng
chăm chăm làm bánh, làm mứt, khoe khéo với thiên hạ thì tôi trốn
biệt, mẹ tôi phải mắng tôi là con gái đoảng vị, bánh không biết
làm, chè không biết nấu, sau này lấy chồng, ngày giỗ ngày Tết
biết làm cái chi.
Mẹ mắng thì mẹ mắng, mỗi lần Tết đến, thấy mẹ
sắp ngâm đậu, đãi vỏ nấu chè kho là tôi lỉnh đi chỗ khác ngay,
chúi đầu vào mấy cuốn tiểu thuyết giả vờ như đang bận học. Cứ
Tết đến, bất kỳ ai cũng được thưởng thức món chè kho của " bà
cụ", mẹ tôi lúc ấy chưa già lắm, nhưng vì lưu lạc vào một xóm
toàn người miền Nam, cho nên cứ thấy bà Bắc Kỳ, ăn trầu, răng
đen thì họ đều vui vẻ tặng cho mỹ danh " bà cụ". Mỗi lần có
khách phương xa đến tìm nhà, chỉ cần hỏi thăm nhà "bà cụ" là cả
xóm đều biết, lũ trẻ con trong xóm nhanh nhẩu dẫn khách đến tận
nơi.
Các anh chị tôi ăn chè kho ai cũng tấm tắc
khen mẹ tôi nấu ngon, người nào cũng muốn lấy lòng mẹ để bà cụ
vui. còn khách miền Nam trong xóm thì gật gù cho là món chè đậu
xanh đánh, nếu bỏ vô ly thêm chút nước dừa, ăn với nước đá thì
ngon hơn. Mỗi miền mỗi kiểu, nhưng món chè kho của mẹ tôi đã
chấm dứt khi cụ đã lớn tuổi, vi nó ế thiu ế chảy khi đám con
cháu cũng chả mặn nồng gì cho lắm. Tuy nhiên, chè thì tôi không
thích, nhưng nó lại gắn liền với chuỗi ngày thơ ấu, và cho đến
khi trưởng thành, bước vào cuộc đời , đụng chạm với nhiều con
người tính nết khác nhau, tôi mới thấy câu : "mật ngọt chết
ruồi" quả cần ghi nhớ mãi.
* * *
Thuở tôi còn bé, mới di cư vào Nam, gia đình
tôi sống quây quần với họ hàng, làng xóm cho đỡ buồn vì nhớ
quê. Cho nên vào ba ngày Tết, diện quần áo đẹp, chân giày chân
dép đến thăm nhau, tiếng cười câu chúc vang rân từ đầu ngõ.
Tôi có mấy người chị họ con bác Cả, gọi mẹ
tôi bằng cô, chị nào cũng xinh. Dạo còn sống ở miền Bắc, mẹ tôi
ở tỉnh trong khi bác tôi vẫn ở nhà quê, con gái vừa lớn lên đã
cho nhuộm răng đen, quấn khăn vành dây. Trong đám cháu của mẹ
tôi có chị Phượng là xinh nhất, gái quê mà da trắng bóc, người
mảnh mai và rất hay cười. Hay là mắt tôi thuở ấy cái gì cũng
đẹp cả, trong óc tôi vẫn còn rõ ràng hình ảnh chị Phượng năm
xưa, dưới giàn thiên lý mát rượi, khoảng sân đất có những chiếc
bóng nắng xuyên qua giàn lá xanh non, đậu trên vai áo chị. Hoa
thiên lý ửng vàng trong nắng sớm, chị Phượng mặc chiếc áo phin
nõn, quấn khăn vành dây bằng nhung đen, còn phất ra một đuôi tóc
mây óng ả. Chị cười, hàm răng đen nhánh đều tăm tắp, khuôn mặt
trái soan của chị thật xinh xắn, tôi thấy chị đẹp nhất trần đời,
ngắm chị không chán mắt.
Chị Phượng là con gái lớn của bác Cả, năm ấy
đâu mới mười chín mà đã lắm nơi ngấp nghé, mối mai. Chị hiền
lắm, chỉ hay cười, khen cũng cười mà mắng cũng cười, có lẽ tính
chất ấy chỉ biểu hiện nơi những cô gái quê Việt Nam thời xa xưa.
Chị năng lui tới nhà tôi vì thích bà cô có chồng tỉnh, lũ em họ
được đi học có hiểu biết, nói năng bạo mồm bạo miệng. Khi đến
nhà, chị hay quanh quẩn dưới bếp giúp mẹ tôi làm cơm, dù bữa cơm
nhà nghèo quanh quẩn chỉ là nồi cá kho dưa, tô canh hoa lý nấu
tôm khô ngọt lịm, thêm một bát cà pháo ngâm tương cuả mẹ tôi.
Nhà bếp được làm cách nhà trên bằng một giàn hoa thiên lý, khi
từ trong bếp ra, khuôn mặt chị ửng hồng , chiếc áo cánh trắng và
những bóng nắng rung rinh dưới bóng râm của giàn hoa thiên lý,
trông chị rất xinh.
Có lẽ mơ ước được lấy chồng tỉnh thành như mẹ
tôi, nên khi có người mối mai cho một người ở thành phố xa ven
biển, chị Phượng bằng lòng ngay. Năm ấy chị đã hai mươi tuổi,
nghe nói gia đình chồng chị khá giả, nhà lại đông người, chồng
chị là con cả, người lại xấu xí cho nên muốn tìm nơi môn đăng hộ
đối cũng khó, khi theo cha mẹ và người mai mối đến xem mặt chị
Phượng, anh mê tít . Cho đến bây giờ tôi vẫn nhớ mài mại cái
miệng uốn éo của người mai mối cho chị Phượng, và cứ theo cái
miệng ấy thì chị Phượng tôi đúng là "chuột sa trĩnh gạo".
Đám cưới vào khoảng tháng mười âm lịch, người
ta cưới vợ về ăn Tết, nhà trai đem cả xe hoa đến đón dâu. Trước
ngày cưới, chị Phượng được đem ra tỉnh uốn tóc, cạo răng trắng ,
may áo gấm và đi hài cong. Hôm cưới chị, tôi nhìn mãi không ra,
chị vẫn hay cười như mọi khi, nhưng sao trong tôi hình ảnh chị
Phượng mặc áo phin trắng dưới giàn hoa thiên lý, nụ cười với hàm
răng đen nhánh vẫn có duyên làm sao, tự nhiên tôi thấy mình vừa
đánh mất chị Phượng hôm nào, dù chị vẫn còn đấy.
Bốn chiếc xe đưa chị Phượng về nhà chồng, họ
hàng xa gần ai cũng thích đi theo để ăn nói, và cũng để có dịp
xem dinh cơ nhà chồng chị. Cả cái xứ đạo ấy từ trước đến giờ
chưa có cô nào đi lấy chồng tỉnh, lại có xe hơi đón dâu, bởi vậy
đám cưới chị Phượng cũng là niềm mơ ước của bao cô gái đồng
trang lứa thuở ấy. Suốt mấy ngày bận rộn với quần áo, gương
lược, gối chăn để về nhà chồng, chị Phượng không có thì giờ ngó
đến tôi, lúc ấy vẫn đứng lặng lẽ ngắm nghía chị và mấy cô phù
dâu ríu rít trò chuyện. Chắc hẳn lòng chị phơi phới lắm, vì chị
Phượng của tôi là một cô gái quê xinh đẹp, hiền lành, những ước
mơ của chị, con đường chị sắp đi chắc toàn một màu hồng, chứ chị
có ngờ đâu đời chị sau này không giản dị như chị nghĩ, bởi cuộc
đời đâu làm sao biết trước được.
Nhà chồng chị xa lắm, một thành phố ven biển
đi mất ba tiếng đồng hồ mới tới. Chắc là trên chiếc xe hoa về
nhà chồng, lòng chị phới phới đầy mộng đẹp. An uống tiệc tùng
xong, trời đã về chiều, nhà gái lên xe trở về. Lúc tiễn mọi
người ra về, lúc ấy tôi mới thấy chị Phượng khóc, hai mắt chị
mọng đỏ, mặt không còn tươi như mấy hôm trước. Khi ấy chị mới
chú ý đến tôi, chị ôm chặt tôi vào lòng thút thít khóc, tôi cũng
cảm động rươm rướm nước mắt.
Cuộc vui nào cũng tàn, ngày vui nào cũng hết,
sau này độ hơn mười năm sau, gặp lại chị nhan sắc phai tàn, tôi
lại nhớ như in khoảng sân sau của nhà bếp bên chồng chị, ngổn
ngang những nồi niêu, bát đĩa bẩn. Chắc hẳn sau đó khi những áo
gấm, kiềng vàng, hài cong được xếp lại trong phòng tân hôn, chị
Phượng đã có bao nhiêu việc phải làm , để trả giá cho một ngày
vui đời con gái.
* * *
Dường như "trời xanh quen thói má hồng đánh
ghen", cho nên chị Phượng xinh đẹp, nết na là thế mà vẫn không
được hưởng hai chữ hạnh phúc.
Chị lấy chồng xa, ít khi được về nhà, sau này
nghe phong phanh là nhà chồng chị tuy giàu, nhưng bà mẹ chồng
keo kiệt, tằn tiện, bởi vậy từ ngày chị về làm dâu, bà không
phải thuê người làm công nữa. Chị Phượng thật xứng đáng với câu:
"Lấy chồng gánh vác giang sơn nhà chồng", những câu khen ngợi
phỉnh phờ làm chị hởi dạ, cho nên như con ruồi chết trong mật,
chị vui vẻ gánh vác lấy việc lớn việc nhỏ nhà chồng, chả mấy khi
được về thăm bố mẹ, vì chỉ một lần đi, lúc về chị phải làm bằng
bốn. Điều bất hạnh nữa là chị lấy chồng đã ba năm mà chẳng có
tin vui. Ai biết là tại ai, nhưng dân gian thì cũng cay nghiệt,
lúc nào cũng cho là tại người phụ nữ, cho nên mới có câu: " Cây
sâu không trái, gái độc không con", chồng chị mới có cớ để gian
díu với người đàn bà khác, mà lại được sự đồng tình của những
người chung quanh.
Khi đau khổ, một lần về thăm gia đình chị
Phượng ghé thăm mẹ tôi với vẻ thiểu não của người phụ nữ bị bỏ
rơi, đầy mặc cảm. Mái tóc xoăn bù xù hôm nào nay được bới gọn
sau gáy, hai mắt chị trũng xuống, tôi không tìm ra nét tươi vui
nào của chị Phượng năm xưa, khi đứng dưới giàn hoa thiên lý. Tôi
nghe mẹ tôi nói:
" Nó đã thế thì về quách bên mình mà sống,
chứ ở đấy làm gì cho tủi thân."
Chỉ nghe tiếng chị sụt sùi, đôi vai chị rung
rung, gầy guộc:
" Bố mẹ cháu không bằng lòng đâu cô, vì đàn
bà đã có chồng dẫu có thế nào cũng phải chịu. Với lại nhà chồng
cháu rất tử tế, mẹ và các em vẫn thương, ai cũng khuyên cháu
chịu đựng, cái số mình vậy thì mình phải vậy, chỉ tại cháu không
con mới nên nông nỗi này."
Mẹ tôi gắt:
" Đâu phải ai lấy chồng cũng phải có con
ngay, có khi năm mười năm mới đẻ thì đã sao. Tại sao cháu cứ cho
là lỗi tại cháu?"
Chị Phượng khóc nức lên:
" Vì người ta có con với nhau, thì lỗi tại
cháu chứ tại ai. Nhà chồng cháu giữ cháu lại, vì chỉ biết có
cháu là con dâu, có cưới hỏi hẳn hoi. Với lại cháu nghĩ, bước đi
thì dễ mà bước về lại khó, còn họ hàng làng nước nữa..."
Hình như xã hội Việt Nam thuở ấy còn câu nệ,
bảo thủ những quan niệm cũ, hai bác Cả cũng như ngay chính bản
thân chị Phượng, cũng không thoát được quan niệm ấy. Bác Cả
cũng không dám giữ con ở nhà vì sợ mang tiếng với làng nước, mỗi
khi chị về, bác gái lại nguây nguẩy đuổi con đi, dù chắc trong
lòng cũng đứt từng đoạn ruột. Mẹ tôi dẫu sao cũng được ra tỉnh,
có chút chữ nghiã, thỉnh thoảng khi rỗi rảnh, mẹ tôi vẫn đọc vài
tác phẩm cuả Tự Lực Văn Đoàn, cho nên tư tưởng cũng phóng khoáng
hơn những người ở nhà quê. Mẹ tôi bực mình mắng cháu:
" Thương cái xương chẳng còn, họ cần người
làm chứ thương gì cháu. Bây giờ cháu về, ai làm bấy nhiêu công
việc cho họ."
Chị Phượng chỉ ghé vào nhà tôi lần đó rồi
biệt tăm luôn, có lẽ chị sợ mẹ tôi mắng, mà có lẽ gia đình bác
Cả cũng không giúp chị được con đường nào sáng sủa hơn. Tuy ai
cũng thương chị, nhưng không chống lại được cái quan niệm bất
di bất dịch của thời đó, âu là số phận nghiệt ngã đã xô đẩy chị
không cho ngóc lên nổi. Mẹ tôi sau này mỗi lần nhắc đến người
cháu đáng thương của mình, lại than thở:
" Con ấy sau này chết vì ngọt."
* * *
Chẳng biết chị Phượng sau này có "chết vì
ngọt" như lời tiên đoán cuả mẹ tôi không, nhưng tương lai chị về
sau cũng gần gần như vậy. Khi tôi lớn hơn, cả nhà đã dời về sinh
sống ở một thành phố lớn, ít có dịp gặp lại hai bác Cả và mấy
người chị họ, nhưng tôi vẫn nhớ chị Phượng . Mãi lâu lắm khi
chị tìm đến thăm mẹ tôi, tôi phải giật mình vì sức chịu đựng
của chị. Lúc ấy trông chị như một cây hoa thiếu phân, thiếu
đất, càng ngày càng tàn tạ, ủ ê, cuộc đời đã mất hết ý nghĩa ,
cũng chỉ vì những kẻ bất nhân đã lừa phỉnh chị, để chị bằng
lòng với số phận nghiệt ngã ấy, mà không nghĩ tới chuyện tìm một
lối thoát cho bản thân. Người ta thường đổ thừa cho số phận,
nhưng riêng tôi nghĩ khác, nếu cuộc đời không có những con người
sáng tạo ra một loạt chữ nghĩa, đặt để trên thân phận nhỏ nhoi
của một tâm hồn trong sáng, lợi dụng sự ngây thơ và thật thà của
chị thì chị Phượng đâu đến nỗi khổ như thế.
Tội nghiệp chị Phượng của tôi, càng suy nghĩ
tôi càng khinh bỉ những con người thâm độc kia. Người ta đã
quàng vào cổ chị những vòng hoa lòe loẹt, với những mỹ từ chính
chuyên, tiết hạnh, đạo đức, nhưng mấy ai đã chia xẻ với chị nỗi
buồn thui thủi của một phận người. Sau này, đã có bao hoàn cảnh
giống chị Phượng, họ cố bức phá ra khỏi con ngõ tối tăm đó,
nhưng lại bị một loạt những khuôn mặt đạo đức giả lên án, cuối
cùng thì họ đứng chơ vơ với ốc đảo cô đơn, chịu đựng sự khinh bỉ
của những con người thiển cận, thiếu suy nghĩ.
Sau này ra đời, tôi đã nhìn thấy bao nhiêu
con ruồi chết trong mật, một thứ mật ngọt ngào được sản xuất ra
từ những cây mía bẩn thỉu, lẫn lộn bao rác rưởi và đất cát, tôi
lại càng sợ ngọt. Tôi vừa nghi ngờ, vừa buồn cười, vừa thích thú
đến khinh bỉ ngắm nhìn những cái miệng uốn éo tuôn ra những lời
ngọt ngào như suối, rồi liên tưởng đến những con rắn và những
cái nọc độc.
Chị Phượng vẫn sống ở bên chồng cho tới tuổi
bốn mươi. Lúc chị đau ốm quặt quẹo luôn, người ta nghĩ đến cách
tống khứ chị ra khỏi nhà, bằng cách lại mai mối cho chị một ông
già goá vợ. Chị Phượng tuy hiền lành và nhẹ dạ, nhưng chị cũng
không còn nông nổi để bước đi bước nữa, lại cũng thấm thía
được tình đời bạc bẽo. Hai bác Cả đã quy tiên, mẹ tôi cũng qua
đời, anh chị em ai cũng "kiến giả nhất phận", chị Phượng số cô
độc, sau vào nương náu trong Trại cô nhi, giúp các bà sơ chăm
sóc cho đám trẻ mồ côi. Đời chị dù không có một đứa con máu
thịt, nhưng đã có bao nhiêu đứa trẻ bất hạnh cần đến tấm lòng
nhân hậu của chị, thật là một con người có tấm lòng cao quý...
Nhân nhắc đến nồi chè kho ngọt đậm của mẹ tôi
ngày Tết, tôi lại nhớ chị Phượng. Bây giờ chắc chị cũng sắp kề
miệng lỗ, còn tôi thì đi thêm một bước cũng tới. Còn đâu hình
bóng giai nhân năm nào, má thắm, môi son, áo phin nõn in những
chiếc bóng nắng dưới giàn hoa thiên lý. Dẫu biết cuộc đời như
một giấc mơ, sự đào thải của thời gian không chừa một ai, vậy mà
mỗi lần ngược dòng dĩ vãng, tôi vẫn cứ ngậm ngùi khi nghĩ đến
người chị họ đáng thương của mình.
NGUYÊN NHUNG