|
LTG : Để góp phần vào sử liệu Trưng Nữ Vương nữ anh hùng
chống giặc ngoại xâm phương Bắc, xin trích dẫn quyển Tìm Hiểu
Danh Nhân của Nguyễn Phú Thứ, từ trang 268 đến trang 283 để cống
hiến quý độc giả như sau :
Căn
cứ theo các sách và truyền tụng xưa, hai Bà Trưng sanh đôi, vào
ngày mùng 1 tháng 8 năm Giáp Tuất nhằm năm 14 sau Tây Lịch tức
thế kỷ thứ nhứt, quê quán ở Châu Phong. Con của Lạc Tướng huyện
Mê-Linh vùng lãnh thổ từ Ba Vì đến Tam-Đảo thời Bắc thuộc và
thân mẫu là Bà Man Thiện, khuê-danh Trần-Thị-Đoan, người làng
Nam Nguyễn và cháu chắt bên ngoại của các vua Hùng, sau trở
thành Man Hoàng Thái Hậu. Hiện nay, tại làng Nam Nguyễn, thôn
Cam-Thiện, Xã Đường Lâm còn có đền thờ Mả Dạ tức nơi tôn thờ mộ
Bà Man Thiện.
Riêng về tên của hai Bà phải gọi Trưng Trắc
là Trưng Chắc và Trưng Nhị là Trưng Nhì mới đúng, bởi vì quê
quán của hai bà Trưng có nuôi tằm để cung cấp cho ngành dệt vải,
cái kén dày được gọi là cái kén chắc, còn cái kén mỏng được gọi
lá cái kén nhì, cho nên song thân của hai bà lấy tên trong nghề
nuôi tằm để đặt tên cho hai bà.
Hai
bà Trưng con nhà danh gia vọng tộc và có nề nếp gia phong và
được ôn văn võ luyện mặc dù cha mất sớm (về võ công được Ông
Đỗ-Năng-Tế, người Quốc Oai tức Hà-Tây đến tập luyện tại Mê-Linh,
sau này Ông trở thành cận tướng để chống lại giặc ngoại xâm, nay
còn có đền thờ Ông Đỗ-Năng-Tế tại Hà Tây).
Mãi
đến Bà Trưng Trắc được 20 tuổi, mới được mẹ gả cho gia đình nhà
họ Đặng tên Thi-Sách, con trai của Lạc Tướng huyện Chu Diên
(thuộc đất Đan Phượng, huyện Từ Liêm, Phủ Vĩnh Tường, thuộc
ngoại thành Hà Nội), cận kề với huyện Mê-Linh, nhờ vậy hai gia
đình Lạc-Tướng càng ngày kết chặt tình thông gia và tạo uy danh
tăng mạnh thêm lên để đánh đuổi giặc ngoại xâm phương Bắc.
Nhân
nói đến họ tên chồng của Bà Trưng Trắc là Ông Đặng-Thi-Sách, để
tìm hiểu thêm, xem coi chồng của Bà Trưng Trắc là Thi Sách hay
Thi?, xin trích dẫn từ trang 530 đến 531, tác phẩm Thuyền Ai Đợi
Bến Văn Lâu của Gs Nguyễn-Lý-Tưởng như sau :
...Theo sách Thủy Kinh Chú của Lệ-Đào-Nguyên, khoảng thế kỷ 16,
tác-giả đã từng đến vùng Mê-Linh, đã ghi lại được những điều tai
nghe mắt thấy nhu sau : "Châu Diên Lạc Tướng tử, danh Thi,
sách Mê-Linh Lạc Tướng nữ, danh Trưng Trắc, vi thê. Trắc vi
nhân hữu đảm dũng, tương Thi khởi tặc. Mã Viện tương binh thảo.
Trắc, Thi tẩu nhập Cấm Khê" (quyển 37, tờ 6a). Chúng ta để ý
trong Hán văn xưa, không có chấm, phẩy...Tùy theo mạch văn mà
ngừng lại cho trọn nghĩa của câu. Trong đoạn văn trên, nếu ngừng
ở chữ Sách, thì câu văn sẽ như sau :"Châu Diên Lạc Tướng tử,
danh Thi Sách" nghĩa là : "Con trai Lạc Tướng huyện Châu Diên
tên là Thi Sách", và câu kế : "Mê Linh Lạc Tướng nữ danh Trưng
Trắc vi thê"nghĩa là : "Con gái Lạc Tướng huyện Mê - Linh tên
là Trưng Trắc là vợ". Nhưng Thái Tử Hiền, con vua Cao Tông nhà
Đường, khi bị bà Võ-Tắc-Thiên đày ra vùng quan ngoại, vào thế kỷ
thứ 8, ông đã ngồi đọc lại sách sử và chú thích như sau: "Cứu
Triêu Nhất Thanh viết sách thê do ngôn thú thê" (tra cứu theo
Triệu Nhất Thanh thì chữ Sách Thê là cưới vợ). Do đó, câu văn
trên phải ngừng ở chữ Thi : "Châu Diên Lạc Tướng tử danh Thi"
(Con trai Lạc Tướng huyện Châu Diên tên Thi) và : "Sách Mê Linh
Lạc tướng nữ danh Trưng Trắc vi thê" (Đi hỏi con gái Lạc Tướng
huyện Mê-Linh tên là Trưng Trắc làm vợ). Đọc tiếp đoạn Hán văn
trên, chúng ta thấy :"Trắc vi nhân hữu đảm dũng, tương Thi khởi
tặc. Mã Viện tương binh thảo. Trắc, Thi nhập Cấm Khê" (Trắc là
người có can đảm và dũng lược, cùng với Thi nổi lên làm giặc. Mã
Viện đem quân đánh đuổi. Trắc, Thi chạy vào Cấm Khê). Do chổ sai
lầm đó mà về sau các sách sử viết tên chồng Trưng Trắc là THI -
SÁCH. Sự lầm lẫn này khởi đi từ sử gia Trung-Quốc là Phạm Việp,
trong sách Hậu Hán Thư, quyển 54, trang 747, cột 3, Ông viết :
"Trưng Trắc giả, Mê Linh huyện Lạc Tướng chi nữ dã, giá vi Châu
Diên nhân Thi Sách thê, thậm hùng dũng" (Trưng Trắc là con gái
Lạc Tướng huyện Mê-Linh được gả làm vợ cho một người huyện Châu
Diên là Thi Sách, bà rất hùng dũng).
Dựa
vào đó, các sử gia Việt-Nam như Ngô-Sĩ-Liêm trong Đại-Việt
Sử-Ký Toàn Thư hoặc Lý Tế Xuyên trong Việt-Điện U-Linh Tập (một
chuyện hoang đường) cũng gọi chồng bà Trưng-Trắc là Thi-Sách, họ
đều trích dẫn từ sách Hậu Hán Thư của Phạm Việp, nhưng họ không
để ý đến phần chú thích của Thái Tử Hiền ở phần cuối sách. Từ
đó, mới xuất hiện tên Thi Sách trong lịch sử...
Ngoài
ra, theo Học-giả Thái-Văn-Kiểm ở Paris trong tác-phẩm Việt-Nam
Gấm Hoa nơi trang 233 cũng như Phạm-Văn-Sơn và các sử gia khác
thì cho rằng Thi-Sách họ Đặng.
Trái
lại, quyển Đường Phố Hà Nội, nơi trang 427, ngọc phả đình
Nại-Xá-Nam, huyện Đan-Phượng, lại ghi Thi-Sách họ Dương, bởi vì,
con của Dương-Thái-Bình và Hồ-Thị-Nhữ, chính quê làng này...
Xin các bậc cao minh cho ý kiến đâu là sự thật, để bổ túc cho ký
tái bản đầy đủ và trung thực hơn, xin đa tạ trước.
Nguyên nhân đưa đến chống giặc ngoại xâm phương Bắc :
Căn
cứ theo sách của Trung Hoa và Việt-Nam viết về lịch sử nước nhà
liên quan đến Trưng Nữ Vương chống giặc ngoại xâm phương Bắc rất
nhiều, chúng ta có thể viết ra đây hết được, tuy nhiên có thể
đưa đến sự tổng quát như sau : Hai Bà Trưng sanh đôi vào ngày
mùng 1 tháng 8 năm Giáp Tuất nhằm năm 14 sau Tây Lịch tức thế kỷ
thứ nhứt, quê quán ở Châu Phong. Người chị tên Trưng Trắc,
người em tên Trưng Nhị.
Năm
Giáp Ngọ nhằm năm 34 Bà Trưng Trắc được 20 tuổi, lập gia
đình với Ông Đặng-Thi-Sách cũng là năm này, Tô-Định được đề cử
sang thay Tích Quang làm Thái Thú ở Giao-Chỉ. Trước kia, có hai
quan Thái Tú là : Tích Quan ở Giao Chỉ và Nhâm Diên ở Cửu Chân,
dùng lối sống của người Hán để biến cải phong hóa Lạc-Việt, từ
việc lấy chồng, cưới vợ cho đến y phục, cũng như cách cày cấy
làm ruộng v.v
Đến
khi Tô-Định sang làm Thái Thú Giao Chỉ, thì ra lệnh thi hành
chánh sách cai trị rất tàn ác, bằng chứng Mã-Viện sau này đã
nhận xét Tô Định là kẻ tham tàn chỉ biết "dương mắt nhìn đồng
tiền, nhắm mắt làm việc càn" (Đông Quán Hán Ký).
Ngoài
ra, các sách như : Hậu Hán Thư, Thái Bình Hoàn Vũ Ký, Việt-Kiều
Thư ...cũng đều đồng ý Trưng Trắc là người anh hùng, vì không
chịu nổi chánh sách tàn bạo của Tô-Định, nên cùng chồng là
Đặng-Thi-Sách khởi nghĩa chống lại chánh sách hà khắc đó.
Đặc
biệt nơi chú thích Hậu Hán Thư còn viết : Vào thế kỷ thứ 8, Thái
Tử Hiền có nói đến một chi tiết nguyên nhân đưa đến cuộc khởi
nghĩa của hai chị em Bà Trưng cùng chồng là Ông Đặng-Thi-Sách.
Ông viết như sau : "Giao Chỉ thái thú Tô Định, dĩ pháp thằng
chi, Trắc oán nộ, cố phản " tức "Thái thú Giao-Chỉ Tô-Định, lấy
luật Pháp mà ràng buộc, nên Trắc tức giận, chống lại" Qua những
dẫn chứng ở trên, chúng ta thấy rằng việc khởi nghĩa chống lại
thái thú Tô-Định của các người con của Lạc Tướng Mê-Linh và Chu
Diên là khởi đầu khai chiến từ đấy và Trưng Trắc được bà mẹ hết
lòng giúp đở, giao thiệp với các Quan Lang, Lạc Tướng trong vùng
và kế cận cùng chiêu mộ nghĩa binh để đánh lại giặc phương Bắc.
Cuộc khởi nghĩa chánh thức có thể bắt đầu năm 39 Kỷ Hợi và sau
này được các quận Cửu Chân, Nhật-Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng.
Theo
sách Thủy Kinh Chú của Lệ-Đào-Nguyên, khoảng thế kỷ thứ 6 có
viết, xin trích dẫn lại đoạn đã dẫn ở các trang trước như sau :
"Trắc vi nhân hữu đảm dũng, tương Thi khởi tặc. Mã Viện tương
binh thảo. Trắc, Thi tẩu nhập Cấm Khê" (Trắc là người có can đảm
và dũng lược, cùng với Thi nổi lên làm giặc. Mã Viện đem quân
đánh đuổi. Trắc, Thi chạy vào Cấm Khê). Do vậy, chúng ta có nhận
định trung thực rằng : "Cuộc khởi nghĩa của hai Bà Trưng và Thi
Sách là vì chánh sách cai trị tàn bạo, bất nhân của Thái Thú
Tô-Định, đã đem luật pháp của người Đông Hán, bắt dân Lạc Việt
phải thi hành. Đó là, chánh nghĩa sáng ngời của dân tộc Lạc-Việt
chống lại sự cai trị của ngoại bang"
Đầu
năm Canh Tý 40, chồng Bà Trưng Trắc là Thi-Sách bị Thái Thú
Tô-Định giết, nhưng tấm lòng ái quốc, thương chồng không làm bà
sờn lòng nản chí, mà còn nung đúc tinh thần và quyết tâm cùng em
là Bà Trưng Nhị quyết tâm tiến hành cuộc khởi nghĩa lan rộng để
đánh đuổi giặc ngoại xâm đô hộ để cứu nước và trả thù nhà. Bằng
chứng, theo đoạn văn của Ngô Sĩ Liên viết, xin trích dẫn như sau
: "Canh Tý nguyên niên, Hán Kiến Vũ thập lục niên, xuân, nhị
nguyệt. Vương khổ thái thú Tô-Định thằng dĩ chính, cập thù Định
sát kỳ phu, nãi dữ muội Nhị, cử binh công hãm châu trị" (Năm
Canh Tý 40 năm đầu, năm thứ 16 hiệu Kiến Vũ nhà Hán, mùa Xuân,
tháng hai. Vương đau lòng vì Tô-Định lấy chánh pháp ràng buộc,
lại căm thù vì Định đã giết mất chồng, bèn cùng em gái là Nhị cử
binh đánh phá châu trị). Tháng 3 năm Canh Tý 40 hai Bà Trưng mới
công khai dựng cờ khởi nghĩa xuất quân tại Mê-Linh để đánh thái
thú Tô-Định, Tô Định thua chạy về Tàu và chiếm được 65 thành,
đến ngày Rằm tháng Giêng năm Tân Sửu 41 mới xưng vương (có
sách viết ngày mùng 6 tháng Giêng năm Tân Sửu 41 và có sách
lại viết năm Canh Tý 40, có lẽ tính từ ngày hai Bà lập bàn thề
để ra quân vào tháng 3 năm 40 chăng ?).
Theo
Đại Việt Sử Ký Tiền Biên, xin trích dẫn đoạn viết lúc hai bà
xuất quân như sau : "Lúc xuất quân, tang chồng chưa hết, bà
trang điểm rất đẹp, các tướng hỏi, bà nói : Việc binh không để
ảnh hưởng. Nếu giữ lễ mà làm xấu dung nhan, thì nhuệ khí tự
nhiên suy kém, cho nên ta mặc đẹp để mạnh thêm màu sắc của quân
và khiến bọn giặc trông thấy động lòng, lợi là chí tranh đấu,
thì dễ giành phần thắng..." .Và Bà Trưng Trắc lên đàn thề, xin
trích dẫn trong Thiên Nam Ngũ Lục như sau :
Một
xin rửa sạch quốc thù,
Hai
xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng,
Ba
kẻo oan ức lòng chồng,
Bốn
xin vẹn vẹn thừa công lệnh này.
Hai
Bà lên làm vua chỉ đến ngày 6 tháng 2 năm Quý Mão 43 thì chết,
bởi vì bị vua nhà Hán cử Mã Viện là một lão tướng, bách chiến
bách thắng và được gọi là "Phục ba tướng quân" (vị tướng dẹp
yên được sóng gió), nên cuối cùng hai bà phải nhảy xuống sông
Hát Giang (tức đoạn sông Đáy tiếp nối với sông Hồng) tự tử vào
ngày mùng 6 tháng 2 năm Quý Mão 43.
Đối
với cái chết của hai Bà có nhiều giả thuyết, theo thần tích làng
Hạ Lôi, xin trích dẫn như sau : "Bà Trưng Nhị tử trận, Bà Trưng
Trắc lên núi Hi Sơn (núi Hùng) hóa". Rất có thể Bà Trưng Trắc bị
thương nặng rồi mới tự trầm mình nơi sông Hát Giang. Còn Bà
Trưng Nhị bị tử trận nơi khác. Sau khi hai Bà hy sinh, có thể
Mã-Viện tìm lấy thủ cấp của hai Bà đem về Tàu hoặc là lấy thủ
cấp của hai người khác thay thế, làm sao Hán Quang Vũ phân biệt
được hư thực?
Ngoài
ra, theo Lưu Long Truyện (Hậu Hán Thư) viết : Lưu Long đã chém
đầu Bà Trưng Nhị ở Cấm Khê, còn Mã-Viện Truyện (Hậu Hán Thư)
viết : Mã viện chém đầu hai bà đem về Lạc Dương.
Còn
một giả thuyết nữa, theo quyển Đường Phố Hà Nội và Thăng Long,
Đông Đô, Hà Nội viết : Năm 1142, dân làng Đồng Nhân thấy hai
pho tượng đá do khí anh linh của hai bà kết thành, trôi trên
sông trong tư thế giơ cao hai tay như vẫy vùng trong ba quân...
(còn nhiều giả thuyết nữa).
Đó
là, những giả thuyết khó ai biết được trung thực cái chết của
hai Bà như thế nào? chết cùng một nơi hay xa cách nhau? Và ngày
mùng 6 tháng 2 hay mùng 8 tháng 3 năm 43 Quý Mão hai Bà chết ?
Chỉ biết hai Bà thọ được 29 tuổi. Tuy nhiên, cái chết của hai Bà
bằng cách nào đi nữa cũng là tấm gương anh hùng chống ngoại xâm
phương Bắc, giành độc-lập cho nước Lạc-Việt lúc bấy giờ và rửa
hận thù chồng bị giặc giết đáng được tôn thờ. Bằng chứng hằng
năm nơi đền chánh thờ hai Bà tại Hát Môn cũng như các đền phụ
nơi khác như : Cấm Khê, Mê Linh, Yên Cư, Hạ Lôi... đều cúng giỗ
chánh vào ngày mùng 8 tháng 3 ....

Ảnh
đền thờ hai Bà Trưng
Đặc
biệt, trước đền thờ hai bà tại Hát Môn có câu đối :
Đồng
trụ chiết hoàn, Giao lĩnh trĩ,
Cấm
Khê doanh hác, Hát giang trường.
nghĩa
là :
Cột
đồng đã gãy, núi Giao vẫn còn cao,
Ngọn
Cấm Khê vẫn đầy, dòng sông Hát vẫn chảy.
Và
tất cả các đền thờ hai Bà đều có tục cấm dùng màu đỏ, bởi vì màu
đỏ tượng trưng cho màu hai Bà mất vì binh đao, các đồ thờ đều
sơn màu đen, dân địa phương kiêng cử màu đỏ, khách thập phương
đến dự lễ mặc áo phải cởi áo ra để ngoài đền mới được vào cúng.

Ảnh
đền thờ hai Bà Trưng tại thành Cổ Loa
Khi
Mã Viện thắng được Trưng Nữ Vương và khi rút quân trở về Tàu,
tới biên giới hai nước, Mã Viện cho dựng một cột đồng, trên khắc
6 chữ : "Đồng trụ chiết Giao Chỉ diệt"ý nói "Cây trụ đồng này đổ
thì dân Giao Chỉ bị mất".
Đó
là, lời hăm dọa kẻ mạnh của giặc phương Bắc nhà Hán lúc bấy giờ,
người dân Giao-Chỉ thấy buồn lòng và ngao ngán cho nước
Lạc-Việt, chỉ âm thầm chống đối, bằng cách mỗi người đi qua
nơi cột trụ đồng mang theo vài cục đá để bỏ xuống, cứ thế cột
trụ đồng bị đá phủ ngập chôn dùi, bây giờ không còn biết chỗ
nào.
Để
ghi lại công trận của Trưng Nữ Vương, xin trích dẫn trong Đại
Nam Quốc Sử Diễn Ca sau đây :
Bà Trưng quê ở Châu Phong,
Giận người tham bạo, thù chồng chẳng quên.
Chị em nặng một lời thề,
Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân.
Ngàn Tây nổi áng phong trần,
Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên.
Hồng quần nhẹ bước chinh yên,
Đuổi ngay Tô-Định, dẹp yên biên thành.
Đô Kỳ đóng cõi Mê-Linh,
Lĩnh Nam riêngmột triều đình nước ta.
Ba thu gánh vác sơn hà,
Một là báo phục, hai là bá vương.
Uy danh động đến Bắc phương,
Hán sai Mã-Viện lên đường tiến công.
Hồ-Tây đua sức vẫy vùng,
Nữ nhi chống với anh hùng được nao?
Cấm Khê đến lúc hiểm nghèo,
Chị em thất thế phải liều với sông ...
Trở lại, sự cai trị của thái thú Tô-Định trước
kia, đã làm cho dân tộc Lạc-Việt lúc bấy giờ phải khốn khổ, bởi
vì sự cai trị quá tàn bạo, bất nhân bằng chứng bắt buộc phải
theo phong tục tập quán của nhà Hán để hủy diệt các phong tục
tập quán của Lạc-Việt và còn phải bắt tìm kiếm các ngà voi trên
rừng, châu báu dưới biển, kể cả trống đồng để triều cống cho Hán
Vương bản xứ. Vì thế Trưng Nữ Vương hiệp cùng chồng là
Đặng-Thi-Sách chống lại chánh sách vô nhân của giặc Hán phương
Bắc, đại diện là thái thú Tô-Định.

Nhân nhắc đến Trống Đồng, xin trích dẫn từ trang
158 đến trang 160 quyển Thượng trong tác-phẩm "Tìm Hiểu Tử Vi
Đẩu Số và Điạ Lý" của tác-giả để quý bà con nhàn lãm như sau :
"Chúng ta được biết trống đồng biểu tượng cho dân tộc Việt đã có
từ đời Hùng Vương, đã được nhiều nhà sưu khảo tìm ra gốc tích
các trống đồng từ thời tiền sử thuộc nền văn minh Đông Sơn như :
Hoàng Hạ và Ngọc Lũ (các cuộc đua ghe trên hồ Động Đình và trên
sông Tương, sông Nguyên, rước thần mặt Trời, có vũ bộ, trống
chiêng, chày cối, các chiến sĩ giương cung bắn về phía mặt Trời
ở đầu thuyền, tất cả tiết mục đều có ghi khắc nơi hông trống
đồng Hoàng Hạ và trên mặt trống đồng Ngọc Lũ). Theo giáo-sư Bửu
Cầm minh giải một bài nghiên cứu của học-giả Trung Quốc
Lăng-Thuần-Thanh, đăng trong Đài Loan Đại Học Văn Sử
Triết Học Báo, năm 1950 thì : "Trống Đồng đã xuất hiện ở miền
trung du Trường Giang " tức là vùng đất chung quanh đầm
Vân-Mộng, thuộc hai tỉnh Hồ Bắc và Hồ Nam do giống In-đô-nê-diên
(người Trung Hoa gọi Ấn-đô-ni-tây-an) mà cổ sử Trung Quốc gọi
là Bộc-Việt hoặc Lão-Việt, chế tạo từ 6 thế kỷ trước Tây-Lịch.
Ngoài ra, họ Lăng đã chứng minh trống
đồng không những chỉ được tìm thấy ở Việt-Nam, mà còn tìm thấy
khắp miền Tây Hoa Nam, cho tới Vân Nam và Tứ Xuyên, nguyên là
địa bàn cư trú của người Việt xưa, trước khi họ tràn xuống bán
đảo Đông Dương, với những làn sóng Nam tiến, mằ đặc biệt là của
Thục-An-Dương vào thế kỷ thứ 3 trước Thiên Chúa. Nói một cách
khác, trống đồng là một sản phẩm của dân tộc Việt, không phải
của dân-tộc Hán.
Riêng
các bản văn vào đời Đường ở Trung Hoa (618-906), cũng xác nhận
nước Việt-Nam đã phát hiện các trống đồng, lúc bấy giờ đang bị
sự đô hộ của Tàu (Hán) và một số trống đồng bị người Tàu lấy,
một số người Việt mang đi đem chôn giấu, bởi vì trống đồng xem
như bảo vật của đất nước và cái kho tàng trân quý đó sau này
được đào lên để lập miếu thờ trống đồng. Bằng chứng từ vua
Lý-Thái-Tông đã dựng miếu thờ thần Đồng Cổ Sơn, sau chùa Thành
Thọ, hằng năm cứ đến ngày mùng 4 tháng 4, thì lập đàn trước
miếu để cúng bái rất linh-đình, trang trọng và còn thề như sau :
"Vi thần tận trung, vi quan thanh bạch"
Theo
truyền thuyết, ngày xưa vua Hùng Vương đi đánh Chiêm Thành đóng
quân ở núi Khả Lao, đêm nằm mộng thấy thần mách bảo vua rằng :
"Thần sẽ đánh trống đồng giúp nhà vua thắng trận" quả nhiên khi
ra trận, nhà vua nghe văng vẳng trên không có tiếng trống đồng,
làm cho quân lính Chiêm-Thành khiếp sợ vì tưởng quân binh của
nhà vua kéo đến tứ phía, từ dưới đất và trên trời đều có cả, cho
nên quân Chiêm-Thành phải bỏ chạy, cuối cùng nhà vua đánh thắng
trận một cách dễ dàng. Từ đó, nhà vua bèn sắc phong trống đồng
là Đồng Cổ Đại Dương."
Ở
Việt-Nam còn tìm thấy được các trống đồng được biết như sau :
Khoảng năm 1888 có một tù trưởng người Mường tìm được trống đồng
ở vùng sông Đáy, đến năm 1924 ở làng Đông Sơn gần sông Mã,
thuộc tỉnh Thanh Hóa đã đào tìm được trống đồng, nên gọi là
trống đồng Đông Sơn và mãi đến năm 1935 người ta mới đến vùng
Đông Sơn, để khai quật thì tìm được các trống đồng Lạc-Việt, các
lưỡi kiếm bằng đồng kiểu cổ và những đồng tiền thời Vương Mãng
của giặc phương Bắc đời nhà Hán vào thế kỷ thứ nhứt cùng thời
với hai bà Trưng.
Hàn
Lâm NGUYỄN PHÚ THỨ
Trọng
Đông, Bính Tuất niên 2006
Ý kiến, Phê bình
xin gửi về:
nguyenphuthu@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |