|
Sau khi năm Ất Dậu chấm dứt, thì đến năm
Bính Tuất được bàn giao từ giờ giao thừa bắt đầu ngày chủ nhựt,
29-01-2006 để cầm tinh đến 24 giờ ngày 17-02-2007. Năm Bính Tuất
này cũng thuộc hành Thổ và mạng -c Thượng Thổ tức Đất Trên Nóc
Nhà, năm này thuộc Dương, có can Bính thuộc mạng Hỏa và có chi
Tuất thuộc mạng Thổ. Căn cứ theo luật thuận hạp hay khắc kỵ của
Ngũ Hành, thì năm này "Can sanh Chi " tức Trời sanh Đất.
Bởi vì : "Mạng Hỏa sanh mạng Thổ"(mạngHỏa tức Trời bị sanh xuất,
mạng Thổ tức Đất được sanh nhập) . Do vậy, năm này rất thuận
chiều tốt nhứt, bởi vì được Trời sanh dưỡng Đất và năm này là
cũng năm tạo dựng cùng tài bồi cho các năm : Tân Tỵ (2001), Quý
Mùi (2003) và Giáp Thân (2004) vừa qua, đã bị Chi khắc Can.
Riêng năm Nhâm Ngọ 2002) đã bị Can khắc Chi . Được biết năm Tuất
vừa qua là năm Giáp Tuất thuộc hành Hỏa, nhằm ngày thứ năm,
10-02-1994 đến 30-01-1995.
Căn cứ theo Niên Lịch Cổ Truyền Á Đông xuất
hiện được minh định quảng bá từ năm thứ 61 của đời Hoàng Đế bên
Tàu, bắt đầu năm 2637 trước Công Nguyên, cho nên chúng ta lấy
2637 + 2006 = 4643, rồi đem chia cho 60 thì có kết quả Vận Niên
Lục Giáp thứ 78 bắt đầu từ năm 1984 cho đến năm 2043. Do vậy,
năm Bính Tuất 2006 này là năm thứ 23 của Vận Niên Lục Giáp 78 và
năm Tuất kế tiếp sẽ là năm Mậu Tuất thuộc hành Mộc, nhằm ngày
thứ sáu tính từ 16-02-2018 đến 04-02-2019.
Năm Tuất tức Chó cũng là Khuyển, cho nên
trong bàn dân thiên hạ cũng thường nhắc nhở luôn trong sinh hoạt
xả hội hằng ngày, từ đó mới có những từ ngữ liên quan, xin trích
dẫn như sau :
Tuất là con Chó đứng hạng thứ 11 của 12 con
vật trong Thập Nhị Địa Chi.
Giờ
Tuất = là giờ từ 19 gìờ đến đúng 21 giờ tối.
Tháng
Tuất = là tháng Chín của năm âm lịch.
Chó
săn = là Chó để đi săn.
Chó
dại = là Chó điên thường hay cắn người.
Chó
con = là Chó mới đẻ.
Chó
ghẻ = là Chó bị ghẻ hoặc để chửi mắng những người ở dơ.
Chó
sói = là Chó này rất hung dữ như con Sói.
Ngoài
ra, còn có những từ ngữ hay tên cây cỏ như :
Mèo
đàng, Chó điếm.
Hàm
Chó, Vó Ngựa.
Chó
chết chủ.
Chó
đói.
Cha
Chó, Mẹ Lợn.
Nai
dạt móng, Chó le lưỡi.
Chó
sủa ma.
Cây
Chó đẻ tức cây Hy Thêm.
Cây
cẩu tích.
Cây
cẩu vĩ trùng.
Cây
cẩu tử thảo tức cây Cóc mẵn.
Đặc biệt, trong Ca dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ
cũng như truyền khẩu trong dân gian cũng có rất nhiều, nói về
Chó, xin trích dẫn như sau :
Chó
đâu Chó sủa lổ không,
Gái
đâu tốt nết mà chồng lại ghen.
hoặc
là :
Chó
nào Chó sủa chỗ không,
Chẳng
thằng ăn trộm cũng Ông ăn mày.
...v.v (ca dao).
Chơi
với Chó, Chó liếm mặt.
Chó
sủa mặc Chó, đường ta ta cứ đi.
Chó
cậy gần nhà, Gà cậy gần chuồng.
Nắng
tháng ba, Chó Gà le lưỡi...v.v.(tục ngữ).
Chó
ăn đá, Gà ăn muối.
Chó
cắn aó rách.
Chó
chạy cong đuôi.
Chó
cùng đường.
Chó
chết hết cắn.
Chó
chui gầm tủ thức ăn.
Chó
dử mích lòng láng giềng.
Chó
dại có mùa, người dạy quanh năm.
Chó
đen giữ mực.
Chó
già giữ xương.
Chó
gậm xương Chó.
Chó
gầy hổ mặt người nuôi.
Chó
ghẻ có mỡ đằng đuôi.
Chó
giống cha, Gà giống mẹ.
Chó
khôn chớ cắn càn.
Chó
giữ nhà, Gà gáy trống canh.
Chó
không sủa, Chó cắn.
Chó
giữ nhà, Mèo bắt Chuột.
Chó
ngáp phải ruồi.
Chó
liền da, Gà liền xương.
Chó
nào sủa nhà nấy.
Chó
chạy bàn độc.
Chó
tha đi, Mèo tha lại.
Chó
treo, Mèo đậy.
Mồm
Chó, vó Ngựa.
Nhục
như Chó.
Như
Chó với Mèo.
Nói
như Chó cắn ma.
Mắng
Mèo, chửi (quèo) Chó.
Ông
ống như Chó cắn ma.
Trai
ở nhà bên vợ như Chó gầm giường.
Không
có Chó, bắt Mèo ăn cứt.
Tham
ăn như Chó.
Thật
thà như Chó cắn trộm.
Chó
nhai giẻ rách.
Tàng
hầng như Chó bị thiến...v.v. (thành ngữ).
Khi
viết đến năm Tuất tức là năm do con Chó cầm tinh, thì cũng lắm
giai thoại về con "Chấn Bốn Cho" này, xin trích dẫn như sau: Ở
Việt-Nam chúng ta xem loài Chó như gia súc trong nhà, không khác
Mèo, Gà, Heo .v.v Thông thường nuôi Chó để giữ nhà, nuôi Mèo để
bắt Chuột trong nhà, nuôi Gà để ăn thịt hay lấy trứng, nuôi Heo
để bán ... vì thế những loại gia súc này được cho ăn những đồ
cặn dư thừa, cho nên có câu: "Chó gặm xương, Mèo liếm chảo" là
thế đó, cho nên mỗi bửa ăn cơm trong gia đình, ở dưới gầm bàn
thường thấy các con Chó nằm chờ xương, để dành nhau từng miếng
xương bỏ xuống của chủ nhà đã ăn hết thịt, cho nên cuộc đời của
chúng nó sống rất dơ bẩn.
Trái lại, con Chó ở các nước Tây Phương thì
được trân quý, được ôm ấp hôn hít say sưa, được nuôi dưỡng chu
đáo bằng chứng cho những thức ăn riêng biệt rất hợp vệ sinh,
được chích ngừa phòng bịnh không khác loài người. Có người còn
mang cả Chó vào giường để ngủ chung.
Ngoài ra, trên bảng sắp thứ tự các giai tầng
trong xả hội Tây Phương, đã nâng con Chó là loài gia súc ở
Việt-Nam hơn cả đàn ông. Bởi vì, nhứt là con nít, nhì phái nữ,
ba cây cỏ, bốn thú vật, năm đàn ông...
Đó quả là: "tư tưởng giửa Đông và Tây không
bao giờ gặp nhau".
Ở Pháp, là một trong những nước Tây Phương
rất thích Chó, Mèo, cho nên không có luật lệ cấm việc Chó Mèo
phóng uế bừa bải, làm mất vệ sinh công cộng, không khác nước Ấn
Độ tha hồ thả Bò đi đầy đường rồi cũng đụng đâu phóng uế bừa
bải, cả nước xem như chuồng Bò là vậy. Riêng nước Pháp ngày nay
ra đường mọi người đều thấy có chức (xin đừng nói lái dơ lắm)
đầy cả đường, nếu ai muốn đi Pháp thăm viếng hảy coi chừng!
Các nước Tây Phương nhứt là các Ông Hoàng Bà
Chúa ở Âu Châu, xem Chó là bạn thân, nên trong các cung điện
nguy nga của hoàng gia đều có nuôi ít nhiều Chó, ví như ở Đan
Mạch nữ hoàng có nuôi loại chó Balthazar, giống nhỏ con lại lùn,
hai tai dài phết đất, màu lông vàng đậm óng mượt. Ở Thụy Điển
hoàng gia nuôi loại chó Labrador đã được quốc vương Carl Gustal
và hoàng hậu Silvia tận tình săn sóc. Ở Tây Ban Nha vua Juan
Carlos nuôi loại chó Berger rất hung bạo, nhưng nhà vua chịu khó
huấn luyện để nó trở thành hiền từ và làm bạn thân với trẻ con,
thật là kỳ công. Ở Monaco, ông hoàng Rainier cũng có nuôi loại
chó Foxterrier, lông dài óng mượt có hai màu trắng vàng. Đặc
biệt, ở Anh Quốc, vua Phillip và nữ hoàng Elizabeth nuôi nhiều
chó hơn cả, nghe đâu cả chục con chó loại Corgi, có lông vàng
ánh, nhỏ con, hai tai nhọn quắt lúc nào cũng vểnh lên để nghe
ngóng, thường hay sủa và tấn công đối phương ngay, vì loại chó
này thường huấn luyện để chăn trừu. Kể các hoàng gia và các loại
chó được nuôi thì rất nhiều, không thể kể hết ra được, Bởi vì
:"Đất Địa nào, Phong Hóa nấy" mà.
Riêng ở Việt-Nam chúng ta, thì thấy các loại
chó được phân loại tùy theo màu lông của nó, đồng thời đặt tên
nó luôn, không như các nước Tây Phương, ví như :
Chó
có lông màu đen được gọi là chó Mực.
Chó
có lông màu vàng được gọi là chó Phèn.
Chó
có lông khoang màu nhiều màu được gọi là chó khoang hay chó vá
hoặc chó đớm ...v.v.
Từ đó, các ông thường bắt chó để ăn nhậu,
biết cách nấu những món chó như thế nào? gồm có vị gì để cho hấp
khẩu, loại chó nào ăn ngọn, loại chó nào ăn dở, cho nên mới có
phân hạng như sau : nhứt mực, nhì phèn, tam khoang, tứ vện
...v.v.
Ngoài ra, các Ông bộm nhậu thường ăn thịt chó
cũng kiểu cách tùy theo trời nắng hay trời mưa nữa, ví như:
"Trời nắng ăn chó trắng, trời mưa ăn cho vàng". Nếu hôm nào,
trời vừa nắng lại chụp mưa hay trái lại, thì các Ông bộm nhậu
lại nói : "Trời nắng rồi mưa ăn chó vàng hay trắng tuốt luốt ".
Đó là, cái lý của mấy Ông bộm nhậu nhà mình, thường ăn thịt Chó,
uống rượu vào thì lời ra, nói cho vui vậy thôi.
Bởi
vì, loài Chó cũng là loại gia súc tức là con vật nuôi trong nhà,
nhưng nó hơn các loài gia súc khác, vì có bản tánh thông minh
và trung thành với chủ, bằng chứng ở Nhựt Bổn hay Anh Quốc (vì
lâu quá nên quên không biết xứ nào) có tạc tượng và lập một đền
thờ Chó. Bởi vì, nó trung thành với chủ nó cho đến chết. Theo
bạn bè kể lại có một gia đình nọ, nuôi một con chó, cứ mỗi buổi
sáng ông chủ đi làm, thì con chó cũng đi đưa đến nhà ga xe lửa,
đến đúng giờ ông chủ trở về nhà ga, thì được con chó đón từ ga
xe lửa để cùng ông chủ trở về nhà. Nhưng một hôm, con chó ra đón
ông chủ từ nhà ga để trở về nhà như thường lệ, thì không thấy
ông chủ, bởi vì ông chủ đã bị tai nạn tử thương, nhưng con chó
không biết ông chủ của nó đã chết, vì vậy cứ mỗi buổi chiều dù
trời giá lạnh, nó cũng ra đón ông chủ của nó cho đến chết. Câu
chuyện thương tâm của con chó, đã làm cho dân xứ hoa anh đào
phải quyên góp tiền để tạc tượng và lập đền thờ cho nó, bởi vì
con chó này có tấm lòng trung thành với chủ.
Khi
nói đến con chó trung thành với chủ, tôi lại nhớ câu phong dao
được truyền tụng trong dân gian mình, xin ghi lại như sau :
" Con
không chê Cha Mẹ khó, Chó không chê chủ nghèo".
Bởi
vì, dù con Chó được chủ nghèo nuôi nấn không cho ăn đầy đủ,
nhưng nó không bao giờ bỏ đi tìm nơi khác để no ấm hơn. Đó chính
là lòng trung thành của Chó.
Trở
lại bàn về tuổi Tuất tức con Chó, chúng ta đã biết :
Tuổi
Tuất là con Chó cò,
Nằm
khoanh trong lò lỗ mũi lọ lem.
Và tuổi Tuất được Tam Hạp là : Dần, Ngọ và
Tuất. Bởi vì, theo luật thuận hạp hay khắc kỵ của Ngũ Hành thì :
Dần có hành Mộc, Ngọ có hành Hỏa và Tuất có hành Thổ, cho nên
chúng ta phân tách từng cặp tuổi chỉ thấy tuổi Ngọ được tương
sanh với tuổi Dần và tuổi Tuất như sau :
cặp
Dần và Ngọ có :
Hành
Mộc (Dần) sanh hành Hỏa(Ngọ), cho nên được tương sanh. Bởi vì,
hành Mộc bị sanh xuất và hành Hỏa được sanh nhập.
cặp
Ngọ và Tuất có :
Hành Hỏa (Ngọ) sanh hành Thổ (Tuất), cho nên
được tương sanh. Bởi vì, hành Hỏa bị sanh xuất hành Thổ được
sanh nhập.
Trong khi, hành Mộc(Dần) khắc hành Thổ (Tuất)
cho nên bị tương khắc. Bởi vì, hành Mộc được khắc xuất và Thổ
bị khắc nhập. Do vậy, cặp tuổi Dần và Tuất xem như Không Được
Tương Hạp, chỉ có tuổi Ngọ được TƯƠNG HẠP cả tuổi Dần và tuổi
Tuất mà thôi hay nói khác đi, tuổi Ngọ được Nhị Hạp cả tuổi Dần
và tuổi Tuất
Ngoài ra, tuổi Tuất nằm trong nhóm tứ mộ là:
Thìn, Tuất, Sửu và Mùi, bởi vì chúng nó khắc kỵ nhau, cho nên
gọi là nhóm tứ xung. Tuy nhiên, nếu chúng ta xét cho kỷ thì
chúng nó khắc kỵ trực tiếp từng cặp: Thìn & Tuất và Sửu & Mùi.
Trước khi tạm kết thúc bài này, tôi xin trích
dẫn thời gian 10 năm những năm con Chó vừa qua và sắp tới có
Hành như thế nào? để cống hiến quý bà con đồng hương nhàn lãm
hoặc xem mình có phải sanh đúng năm Tuất hay không như dưới đây
:
Tên Năm Thời Gian
Hành Gì?
Canh Tuất 10-02-1910 đến 29-01-1911
Kim
Nhâm Tuất 28-01-1922 đến 15-02-1923
Thủy
Giáp Tuất 14-02-1934 đến 03-02-1935
Hỏa
Bính Tuất 02-02-1946 đến 21-01-1947
Thổ
Mậu Tuất 18-02-1958 đến 07-02-1959
Mộc
Canh Tuất 06-02-1970 đến 26-01-1971
Kim
Nhâm Tuất 25-01-1982 đến 12-02-1983
Thủy
Giáp Tuất 10-02-1994 đến 30-01-1995
Hỏa
Bính
Tuất 29-01-2006 đến 17-02-2007 Thổ
Mậu
Tuất 16-02-2018 đến 04-02-2019 Mộc
Và xin trích dẫn bảng đối chiếu thời gian sanh
ảnh hưởng âm lịch tức mặt trăng và dương lịch tức mặt trời như
thế nào?
Thời gian sanh
Âm Lịch Dương lịch
21-01
đến 18-02 Dần
Verseau =Bảo Bình
19-02 đến 20-03 Mão (Mẹo)
Poissons = Song Ngư
21-03 đến 20-04 Thìn
Bélier = Miên Dương
21-04 đến 21-05 Tỵ
Taureau = Kim Ngưu
22-05 đến 21-06 Ngọ
Gémeaux = Song Tử
22-06 đến 22-07 Mùi
Cancer = Bắc Giải
23-07 đến 23-08 Thân
Lion = Sư Tử
24-08 đến 23-09 Dậu
Vierge = Xử Nữ
24-09 đến 23-10 Tuất
Balance = Thiên Xứng
24-10 đến 22-11 Hợi
Scorpion = Hổ Cáp
23-11 đến 21-12 Tý
Sagittaire = Nhân Mã
22-12 đến 20-01 Sửu
Capricorne=Nam Dương
Nhân dịp bước sang năm
Bính Tuất kính chúc tất cả quý bà con đồng hương được An Cư Lạc
Nghiệp và mọi nhà được Thịnh Đạt Đắc Thành.
Hàn Lâm Nguyễn-Phú-Thứ
Ý kiến, Phê bình
xin gửi về:
nguyenphuthu@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |