|
18 HÙNG triều –Dã sử tt

Hình cửu thiên
2- Hùng triều thứ 2 – Hùng
Hiển. –
Tổ phụ phương nóng (Xích đạo)
Vua khai
sáng :
Danh hiệu
khác trong Việt sử : –Thái Viêm Thần nông
Danh hiệu
khác trong Hoa sử : -Viêm đế Thần nông-Cao Tân thị
Là thủ
lãnh tộc MY_BẮC ở hướng xích đạo (khoảng
10.000 trước CN) ;
Với thời
Thái Viêm –Thần nông của sử Việt và Hoa , dã sử ghi
nhận thời kỳ này là bước tiến lớn lao đưa con người
bước đầu thoát khỏi sự phụ thuộc hoàn toàn vào thế
giới tự nhiên, qua thời hái lượm và săn bắt với việc
biết trồng trọt và chăn nuôi con người đã bước sang nền
kinh tế sản xuất tức đã góp công cùng tạo hoá,trở
thành tài Nhân trong tam tài ngang vế với thiên và địa
vì vậy Hùng sử gọi là thời Hùng Hiển,
Ta ghi
nhận : thần nông là cấu trúc Việt ngữ.
Phương nóng bức hay hướng xích đạo là nơi cai quản của
THÁI VIÊM ;tổ phụ phương lửa hay quẻ LY.sách Lã thị xuân
thu và các tư liệu lịch sử Việt nam đều gọi là VIÊM ĐẾ
đây là sự khập khễnh đáng tiếc , khi đã xác định là 1
tổ phụ thời tiền lập quốc phải gọi là THÁI VIÊM mới
chuẩn xác và nhất quán;truyền thuyết lich sử Việt nam
coi Thái viêm -Thần nông là tổ cao nhất của mình; Đế
MINH cháu 3 đời của Viêm đế Thần nông....dã sử Việt đã
mở đầu như thế..., còn theo Lã thị xuân thu: Viêm đế cai
trị bằng hoả đức, thần bảo hộ là hỏa thần Chúc dung,
số tương ứng trong Hà thư là số 7 hướng xích đạo cũng
là màu đỏ (sất tức số 7 chỉ là biến âm của xích),
động vật tiêu biểu là loài lông vũ tức loài chim và
nhiều sách cổ của Trung Hoa chỉ định rõ là chim
Khổng tước tức chim Công. Thực tế ta hiểu thị
tộc của Viêm đế có địa bàn sinh sống là vùng nóng
nhất trong 4 thị tộc thời tiền lập quốc tức gần xích
đạo nhất.Trung hoa xưa vẫn gọi miền trung Việt nam là
miền bắc hộ ý nói vì đã vượt qúa xích đạo nên
cửa mở về hướng bắc để đ̣ón ánh mặt trời.
Chúng
ta thấy theo dịch lý :số (2-7) của Hà thư luôn gắn với
quẻ Ly, màu đỏ , xích đạo và loài chim tức điểu.
Vậy
mà ai đó đã cố tình cho là : nhất điểu nhì ngư tam xà
tứ tượng , phương của Xà và Tượng là Đông và tây là
chính xác nhưng Điểu và Ngư thì có phản ứng....; theo
dịch học thì : nhất viết thủy...nếu : nhất điểu hóa ra
là chim bay dưới nước .?. vì vậy : nhất điểu bị
biến thành nhất Đểu....,nhị viết hỏa nếu nhì
ngư đúng thì thành ra cá bơi ở trên trời... nên nhì
ngư biến thành ...nhì ngu ; chỉ có kẻ
vừa đểu vừa ngu mới cho phương Bức hay bắc là vùng
tuyết trắng phủ dầy như Bắc cực hiên nay....
Tiếp nối
thời Hùng Dương – Bào Hy là thời Hùng Hiền Vương, chữ
‘Hiền’ là ký âm sai của chữ ‘hiện’ hay ‘hiển’, vì mặt
trời sau khi mọc (dương) ta thường nói “vừng dương ló
dạng” sau giai đoạn ló dạng là hiển hiện rõ ràng, đầy
đủ.
Theo
“tứ thời” nếu là một ngày thì sau ban sáng tới ban
trưa, nếu là mùa thì mùa hạ tiếp nối mùa xuân, nên cổ
sử Trung Hoa và Việt Nam gọi tổ phụ Hùng Hiển Vương là
Thần Nông Thái Viêm, có sách chép là Viêm Đế nhưng từ
Thái Viêm nghĩa là tổ phụ phương nóng bức (bắc) hay
hướng xích đạo thì sát nghĩa hơn , Viêm chỉ là dịch
sang Hoa ngữ từ BỨC cuả Việt ngữ . Mặt trời ở ‘thiên
đỉnh’ là lúc nguồn năng lượng tuôn xuống mặt đất nhiều
nhất nên cũng là lúc nóng nhất nên cổ sử gọi là Thái
Viêm. Trong 4 phương vì Việt Nam và Trung Hoa đều nằm ở
Bắc bán cầu nên hướng xích đạo là nóng nhất còn được
gọi là Viêm phương, theo cổ sử xưa Việt Nam cũng
được gọi là Viêm Bang. Truyền thuyết lịch sử của
dòng giống Việt chép “Đế Minh (tổ dân Việt) là cháu 3
đời của Viêm đế Thần Nông” cũng là vì lẽ này. Trong
dòng thời gian của lịch sử thì Thần Nông không chỉ có
nghĩa là 1 vị vua mà còn có nghĩa là 1 thời đại,
thời đại con người bước từ nền văn minh hái lượm sang
thời văn minh trồng trọt, bắt đầu nền kinh tế sản xuất,
có gieo – có gặt. Theo các nghiên cứu khoa học thì thời
gieo trồng ở Đông Nam Á bắt đầu vào khoảng năm 10.000
trước Công nguyên. Tiêu biểu cho thời này, khảo cổ học
gọi chung là thời văn hóa Hòa Bình, theo địa diểm có di
chỉ khảo cổ ở tỉnh Hòa Bình của Việt Nam.
Hùng Hiển Vương – Thái Viêm –
Thần Nông được cổ sử Trung Hoa gọi là Thần Nông – Cao Tân
Thị). Từ ‘Cao Tân ” là từ thuần Việt; Cao = cả nghĩa
là thủ lĩnh, Tân là 1 trong Thập can nghĩa tiếng Việt
là tâng (bốc), tung (lên), biến âm của tân là tôn: cao, hay
là bề trên. Sở dĩ có tên như vậy là do Hà Thư đặt theo
chiều đứng: số 2-7 chỉ trên cao, ngược với 1-6 chỉ dưới
sâu, sâu
→
sáu
→
sáo = nước.
Nông dân
Việt rất kính trọng ‘Tiên Nông”, ngày xưa mỗi khi khai vụ
đều có lễ tế Tiên Nông xin cho được ‘mưa thuận gió hòa’
để mùa màng tốt tươi. Cổ sử Trung Hoa còn gọi Thần Nông
với tên khác là Đế Cốc (có sách viết sai là Đế Khốc),
‘cốc’ là lương thực.. Theo Kinh Thi thì thời cổ dân Trung
Hoa trồng 2 loại lúa là lúa ‘Tắc’ và ‘Thử” còn “hoà,
đao, chiêm, mạch” là tên 4 loại lúa chỉ xuất hiện sau cả
mấy ngàn năm so với tắc và thử.
Tắc chính là lúa nếp ngày
nay. Tắc
→
đắc
→
đất; nghĩa là loại lúa trồng trên cạn (Xin lưu ý là
người Hoa không có âm /đ/) ông tổ của lúa tắc là Hậu
tắc, Thử là lúa tẻ ngày nay. Thử là biến âm của thủy
(= nước), loại lúa trồng trong ruộng nước, thông tin tìm
được ở đây cho ta nhận định : rất có thể lúa nước có
trước lúa trồng trên cạn tức lúa nếp vì ông Hậu Tắc
tổ nhà Chu chỉ là con cháu xa xăm lắm của Thần nông.
Đáng lưu
ý “Hậu Tắc” là theo qui tắc ngôn ngữ Việt, nếu viết
theo Hoa ngữ phải là: Tắc Hậu cũng như Thần Nông phải
là Nông Thần. Và điểm đáng lưu ý nữa là: thời xưa do
đặc điểm khí hậu ở khu vực bắc Hoàng Hà không thuận
lợi cho cây lúa cả tắc lẫn thử vì cây lúa là giống ở
miền nhiệt đới đòi hỏi cường độ ánh sáng cao và không
khí ẩm, mà khí hậu vùng Hoàng Hà thì lại lạnh và
khô.
Trở lại
với Lã Thị Xuân Thu, ta có các thông tin: Viêm Đế tương
ứng với số 7; số 7 theo Hà Thư là mùa hạ và phương viêm
(nóng bức); Viêm Đế lấy Hỏa đức mà cai trị, vị thần
tương ứng là Hoả Thần Chúc Dung. Chữ Viêm này cũng là
chữ Viêm trong ‘Viêm thiên’ trong Cửu Thiên của Trung Hoa
cổ.
Nói
tóm lại ý nghĩa các thông tin đều qui kết về vùng
nhiệt đới, như thế thời Thần Nông không thể diễn ra trên
lãnh thổ Trung Hoa hiện nay được vì vùng cực nam Trung
Hoa cũng không thuộc vùng nhiệt đới.
Lưu ý
theo sử thuyết họ Hùng thì có tới 3 vì vua liên quan
tới chữ Viêm.
-Thái
viêm là tổ phụ phương nóng bức hay viêm nhiệt của người
họ Hùng.
- Viêm đế
là vị vua đồng thời với Hùng Vũ ở thời lập quốc.
- Viêm
lang là đế Nghi trong sử Việt hay Nghiêu đế trong cổ sử
Trung hoa.
3 -Hùng triều thứ 3 – Hùng
Nghị.- Tổ
phụ phương Tây.
Vua khai
sáng : Bảo lang.
Dang hiệu
khác trong Việt sử : Thái Khang
Danh hiệu
khác trong Hoa sử : Thiếu Hạo-Kim thiên thị
Là thủ
lãnh tộc Khương tây. (khoảng Năm 8.000
trước CN) .
Thành
tựu khoa học kỹ thuật nấc 1 và 2 đã giải quyết cái
mặc và cái ăn , nấc thang kế tiếp là nơi ở hay chỗ cư
ngụ, định cư cũng là 1 bước tiến vì chỉ khi đã định cư
ta mới có xóm giềng rồi bản làng sau nữa đến quốc gia,
muốn định cư tức phải có nơi ăn chốn ở ổn định nghĩa
là phải có nhà ở ,rời bỏ hang hốc xuống làm nhà quần
cư nơi đất trống là cả 1 bước tiến dài Hùng sử tượng
trưng giai đoạn này bằng thời Hùng Nghị hay Ngụ , việc
quần cư ổn định chỉ có thể diễn ra khi đã biết trồng
trọt và chăn nuôi, với việc biết làm nhà để cư ngụ
cuộc sống con người đã là cuộc sống văn minh bỏ lại sau
lưng thời ăn hang ở lỗ.
Phương Tây
là phương mặt trời lặn, mặt trời lặn là lúc nghỉ ngơi
nên còn có tên là bên siêu hay siu nghĩa là nghỉ ngơi.
Trong Tiên Thiên Bát Quái: Quẻ Ly trấn phương Tây ngụ ý
là: Ly là ‘ly’́ là chủ đạo chi phối mối tương quan giữa
con người và tự nhiên, ‘lý’ là Vĩnh Hằng, không thay
đổi, vì là phương của Lý nên từ Việt có từ kép ‘nghĩ
ngợi’.
Ly = Lý
→
nghĩ ngợi.
Ly = Lìa
→
nghỉ ngơi.
Từ ‘nghị’ cũng là nghĩa của
‘Lý’ chính vì vậy tổ phụ phía Tây mới có danh hiệu là
Hùng Nghị Vương. Và bắt đầu từ tổ phụ thứ ba này có
thêm danh hiệu thứ 2 dùng chữ ‘Lang’ ;Vậy chữ ‘lang’
nghĩa là gì? Hiện nay từ ‘Lang’ còn dùng ở các dân tộc
Thái – Mường chỉ người đứng đầu cộng đồng như Lang
phìa, Lang tạo,
V.v, Chữ ‘lang’ là biến âm của chữ ‘Long’ nghĩa là con
rồng và cũng có thể gọi thay cho chữ ‘hoàng đế, như
Tần Thủy Hoàng còn được gọi là: ‘Tổ Long’ trong sử ký
của Tư Mã Thiên. Trong thể chế quân chủ của Trung Hoa và
Việt Nam từ ‘long’ độc quyền trong việc chỉ về nhà vua
và những gì thuộc về vua như ‘long thể’, ‘long ngai’,
‘long sàng’, ‘long bào’, ‘long xa’, V.v…thực ra tất cả
hững chữ long này đều là biến âm của Lang mà thôi , Vậy
ta hiểu ‘lang’ cũng đồng nghĩa với ‘vương, ‘chúa’ được
dùng ở sắc dân thuộc cộng đồng Trung Hoa.
Trong
Hùng phả Phần danh hiệu dùng chữ lang này là
vương hiệu của vua khai sáng triều đại. Bảo Lang
có nghĩa là chúa phía Tây ,chữ ‘Bảo’ dịch sang Việt
ngữ là ‘quí’ như trong quí báu. Với Thập Can thì quí
là số 9, số 9 trong Hà Thư chỉ phương Tây ( 4 – 9”. Sách
Lã Thị Xuân Thu đặt Thiếu Hạo trong Mạnh Thu Kỷ; số
tương ứng là số 9 (quí), lấy đức Kim (cang, cương) mà cai
trị, thần tương ứng là Kim Thần Nhục Thu, như thế các
mã tin Dịch Lý của kỷ này đều tương ứng với phương Tây,
phương của mã nền là “không đổi”, và trong Cửu Thiên,
trời Tây được gọi là ‘Hạo Thiên’ trùng với tên Thiếu
Hạo của tổ phụ phía Tây cũng như Thần Nông Thái Viêm
trùng với Viêm Thiên chỉ trời phương Bắc của Dịch Lý.
Thời Thiếu Hạo được cổ sử Trung Hoa gọi là Kim Thiên
Thị, chữ Kim là ký âm sai của chữ Cang, cương hay cứng,
còn chữ thiên nghĩa là trời; Kim Thiên nghĩa là trời
tây.Ngày nay ai đó cố tình gán nghĩa là kim loại cho
hành Kim của ngũ hành.... xin thưa ở thời thái cổ khi
lập ngũ hành thì làm gì đã biết đến kim loại ....?
Phương tây trước đây không được nói tới trong truyền
thuyết lập quốc của người Việt nhưng nay đã được bổ
sung là THÁI KHANG hay tổ phụ phương tây, từ khang thực ra
là khăng , trong tiếng Việt khăng khăng nghĩa là không thay
đổi, khăng =cang=cương=cứng là tính chất của phương tây
theo dịch học: số 4 là cứng, số 9 là đinh hay tịnh,
Lã thị xuân thu viết động vật tiêu biểu là loài lông
mao ý nói loài sư tử , đây là cái sai rất điển hình
của những người cố ý cạo sửa cổ thư vì sư tử là loài
thú xa lạ với cả Đông nam á và Trung hoa, bạn có nghe
nói đến sư tử đông á châu bao giờ chưa ?..Động vật tiêu
biểu của phương tây phải là con voi vì can số 9 chỉ
phương tây theo Hà thư là can: định, tịnh..;.bản thân chữ
tịnh đã là con voi rồi vậy mà Có người cố ý nhập
nhèm sửa đổi vì lý do phía bắc sông Hòang hà từ cổ
chí kim làm gì có voi nên họ thay bằng con sư tử , cả sư
và tử đều xuất phát từ âm tsi số 4 trong Hoa
ngữ mà thôi,
Rất
có thể sư tử là thần thú của dòng Hung nô ở trung á.
Số 4 việt ngữ là bốn, biến âm thành bóng ,sáng bóng
hay bóng láng dịch sang Hoa ngữ là HẠO hay CHIÊU nên
phương tây còn gọi là bên Chiêu hay Châu, tổ phụ phương
này là THIẾU HẠO;
cổ
thư trung hoa cũng nói đến sông KHANG hay KHƯƠNG như cái nôi
của người cổ, từ Khương ký âm thành Cương cho phép ta
liên kết với sông MỄ CƯƠNG tức chính là sông MÊCÔNG ngày
nay.
Lưu ý
cũng là từ KHƯƠNG nhưng dân Khương thời thái cổ hoàn
toàn khác với dân khương cuả sử Trung hoa thời trung cổ.
Thời này từ Khương hay Chi hay Thổ phiên là từ chỉ người
tây Tạng hiện nay.
4- Hùng triều thứ 4-Hùng
Diệp. -
Tổ phụ phương nam.
Vua khai
sáng : - Quan lang (Quang)
Danh hiệu
khác trong Việt sử :Thái Tiết-Vũ Tiên .
Danh hiệu
khác trong Hoa sử : - Xuyên Húc –Cao dương thị
Là thủ
lãnh tộc Khương nam.(Phương nam của dịch
lý ngược với hiện nay- khoảng 7000 năm
trước công nguyên)
Diệp là
biến âm của từ dịch nghĩa là dời chuyển, thời Hùng
Nghị hay Ngụ con người đã tụ cư thành từng địa phận nay
nối những vùng này lại thành thể thống nhất để con
người và sản vật được lưu chuyển khắp nơi , chế tạo
được phương tiện giao thông là 1 bước tiến lớn về khoa
học kỹ thuật nhờ đó quy mô cộng đồng ngày càng lớn
rộng và đến một lúc nào đó đủ tầm vóc để hình thành
quốc gia.
Trên đồ
biểu Hà thư, triều Hùng Diệp nằm ở phương nam, phương
của sông nước , kênh lạch khiến ta liên tưởng đến khả
năng thủy vận, suy nghĩ một cách hợp lý thì bè- mảng
có thể là phương tiện giao thông vận tải đầu tiên của
người họ Hùng và rất có thể là của cả nhân loại, bản
thân cây tre đã là 1 cái phao, lấy chính những sợi lạt
cũng bằng tre để liên kết nhiều cây lại là đã có cái
bè đi lại trên sông nước, thực gỉan đơn nhưng lại là cả
1 bước nhảy vọt về khoa học kỹ thuật.
Việt
ngữ gọi tháng 1 là tháng giêng, hoa ngữ ký âm
thành giang đồng nghĩa với con sông thường được
dịch thành xuyên, số 1 cũng là đơn biến âm của
đen trùng khớp với huyền thiên trong cửu thiên ,
cũng là mun màu đen trong tiếng Việt để tạo thành
từ nam mun hay man,
Vị vua của phương này truyền thuyết dân gian Việt gọi là
THÁI TIẾT, thực ra là TIẾP mới đúng, tiếp là tiếp
giáp; chỗ giao nhau của cũ và mới trước và sau còn là
sự bắt đ̣ầu hay trước tiên theo nghĩa chữ giáp là đứng
đầu là thứ nhất nên Thái tiết còn có tên là Tiên đế,
lĩnh nam trích quái gọi là bà VŨ TIÊN,ta thấy tất cả
đều xoay quanh con số 1,Vũ tiên thực ra chỉ có nghĩa là
vua vùng số 1 tức phương nam, vì vua của phương (1-6) này
cổ sử Trung hoa gọi là XUYÊN HÚC, xuyên là con sông như ta
đã biết ở trên còn Húc chỉ là ký âm sai của từ hắc
nghĩa cũng là màu ̣đen,sông đen chuyển ngữ ký âm sai
thành Xuyên húc .
Truyền
thuyết lịch sử còn cho ta một thông tin khác, Hùng Diệp
cũng chính là bà Vũ Tiên hay Vụ Tiên, vũ hay vụ là
biến âm của từ vua, tiên là thứ nhất, đầu tiên hay số 1,
ta đã biết số 1 chỉ phương Nam hay phương Thủy, Theo Hà
Thư : Tiên đồng nghĩa với Thủy, nhưng Thủy còn mang nghĩa
khác là nước, phương nước tức phương Nam.
******************
Tóm lại : thời tiền lập quốc
người họ Hùng đã dựa trên Hà thư để hư cấu thành 4 vị
tổ phụ của 4 phương trời, mượn danh các vua nhưng thực ra
để chỉ 4 thị tộc mà sau này cấu thành tộc họ HÙNG.
Tổng kết
về 4 tổ phụ của 4 phương, tức thời tiền lập quốc của
họ Hùng diễn ra trong thời gian mà khảo cổ học gọi là
thời Đá giữa, cách nay khoảng 20.000 đến 7.000, đó là
lúc biển tiến Phadrian cực đại và rút dần, con người
bắt đầu rời hang núi cao xuống các thung lũng, và đi
xuống thấp dần theo nhịp nước rút, ở giai đoạn cuối đã
đến trung châu chuẩn bị tiến xuống khai phá vùng đầm
lầy mà sau này là đồng bằng.
Đối
chiếu với khảo cổ học, ta xác định:
a. Dòng
Hùng Dương Vương hay Thái Cao Thị chính là người Bắc Sơn
/ Soi Nhụ tiền thân của nền văn hóa khảo cổ Hạ Long,
Động Đình Hồ là vịnh Bắc Bộ hiện nay, đây là đất khởi
nguyên của dòng Nam Đảo Đông hay Indonesien Đông. Các cư dân
nhánh Nam Đảo Đông sinh trú dọc theo bời biển Trung Hoa
tới tận Phúc Kiến, Chiết Giang và đảo Đài Loan, nơi họ
để lại dấu vết nền văn minh Hà mẫu độ rất nổi tiếng
cổ sử Trung hoa g̣ọi là họ MY .
b. Dòng
Hùng Hiển Vương hay Thần Nông Cao Tân Thị mà Dấu vết
thời này chính là nền văn hóa mẫu Hòa Bình, gọi là
mẫu vì văn hóa này đã được khoa học dùng để chỉ cả
một đợt văn minh trên khắp cõi Á Đông. Người Hòa Bình
tỏa xuống đồng bằng theo các sông Mã,sông Chu,sông Cả
tiến tới bờ biển tạo nên các nền văn hoá khảo cổ lớn
ở Thanh – Nghệ và dọc theo miền Trung.
Hậu
duệ dòng Hùng Hiển vương là người họ CƠ trong lịch sử.
c. Dòng
Hùng Nghị Vương hay Thiếu Hạo Kim Thiên Thị: Hùng Nghị
Vương là tổ tiên của cư dân hệ Môn Khmer mà đã lưu dấu
trong các nền văn hóa khảo cổ ở Đông Bắc Thái lấy sông
Mêkông làm xương sống , Nonotha và bản Chiềng là nền văn
hoá cổ rất nổi tiếng được lấy làm tiêu biểu cho cả
một vùng rộng lớn ở phía Tây Việt Nam, cổ sử gọi họ
là dòng tộc sông Công hay Cương là tổ tiên của tộc Cửu
Lê thuộc hệ Nam Á ngành Môn-Khmer.
d. Hùng Diệp Vương hay Xuyên Húc Cao Dương
Thị : Hùng Diệp Vương là tổ tiên của dòng H’Mông cổ sử
gọi là Hữu Miêu, Miêu chỉ là từ ký âm sai của MUN là
màu đen của Việt ngữ .
Chắc chắn có một nền văn minh cổ tiêu
biểu cho cả một vùng núi rừng rộng lớn ở Bắc Việt Nam
mà trung tâm là hạ lưu sông Đà còn chưa được khám phá,
hoặc đã bị chìm lấp, lẫn lộn với 1 nền văn hóa khảo
cổ khác hiện nay chưa phân lập được, nhiều khả năng
chính là phần văn hóa Hòa Bình ở núi rừng Tây Bắc
Việt hiện nay.
Bài đã đăng:
Sử
thuyết họ HÙNG (bài
1)
Sử
thuyết họ HÙNG (bài
2)
Sử
thuyết họ HÙNG (bài
3)
Sử
thuyết họ HÙNG (bài
4)
Trở về Trang Chính
|