|
Nhiều phần trong baì này đã
được trích ra đăng trong baì ‘Dịch học và thời lập quốc
họ Hùng’ trước đây , nay vì tính liên tục của Sử thuyết
họ Hùng buộc phải chép lại lần nữa , xin độc gỉa
lượng thứ.

Nơi họ Hùng dựng nước
18 HÙNG triều
*thời sơ
sử
5 -
Hùng triều thứ 5: Hùng Vũ Vương.
Vua khai sáng :– Hiền Đức Lang
Danh hiệu khác trong Việt sử : Vua Hùng, đế
Minh,Vua cha ngọc hoàng thượng
Đế.
Danh hiệu khác trong Hoa sử :– Hoàng đế , Hiên Viên
Quốc hiệu : Nước họ HÙNG, Hữu HÙNG quốc, Viêm
Việt đại hưng bang.
Niên đại : (3000 trước CN)
Hùng Vũ Vương là quốc tổ của dân Việt Nam và Trung Hoa;
Hùng là dòng giống; Vũ và vương là từ kép để dic̣h
sang Hoa văn từ Vua của Việt ngữ; Vũ là ký âm và vương
chỉ nghĩa , Hùng Vũ Vương đồng nghĩa với ‘Vua Hùng”
trong Việt ngữ .
Trong vương hiệu ‘Hiền Đức Lang’ thì : Đức là biến âm
của ‘Đế’ = ‘Vương’→ Hiền Đế = Hiền Vương, Lang =Vương→Hiền
lang =Hiền vương, ở đây : trong đức và lang có 1 từ thừa
đó là lỗi thường gặp trong tiếng Việt như : sông Hương
giang , núi Thái sơn..v.v.
Hiền vương sử Trung Hoa ký âm thành ‘Hiên Viên’ .
Cổ sử Trung Hoa chép: “Hoàng đế tên tộc là Ngu, hiệu là
Hiên Viên; bộ tộc sinh tụ tại vùng sông Cơ, sau lấy làm
họ Cơ, là vua nước Hữu Hùng …”
Đoạn sử tuy ngắn nhưng vô cùng quí giá đối với người
Việt Nam và Trung Hoa.
a.
Hoàng đế tên tộc là Ngu, đây là ký âm sai của chữ
‘Ngũ’, ngũ là số 5, trung cung của cả Hà và Lạc;âm
‘vua’= ‘woo’ ký âm hoa ngữ phân hoá thành ngu hay ngũ và
Vũ .Và Vì trung cung của ngũ sắc là màu vàng nên mới
có tên là ‘Hoàng Đế’ nghĩa là đế của vùng ‘giữa’ tức
vùng ‘Giao-chỉ’ – vùng đất tổ của dân Việt theo chính
sử.
b.
Hiệu là ‘Hiên Viên’; ở trên ta đã chỉ ra là ký âm sai
của ‘Hiền Vương’ .
Theo tryền thuyết thì Đế Minh là cháu 3
đời của Thần Nông Thái Viêm, ở trên đã dẫn Thần Nông
Thái Viêm là Hùng Hiển Vương
→
Hùng Nghị Vương – Hùng Diệp Vương – đến Hiền Vương đế
Minh đúng là cháu 3 đời.
c.
Hoàng Đế là tổ họ Cơ (lấy từ tên sông Cơ):Cơ là ký âm
Hoa ngữ của từ Cả nghĩa là lớn nhất hay đứng đầu,
Đoạn này cho ta những thông tin: Chữ ‘Cơ” không phải là
họ Cơ mà là ‘Cô’. Sử ký của Tư Mã Thiên cho biết Cô là
từ mà vua chúa xưng mình trước quần thần trong các buỗi
thiết triều; cô là tiếng Việt còn lưu dấu trong thầy-cô,
chữ cô này đồng nghĩa với từ ‘mẹ’, chỉ người sinh ra
mình. Ở đây chữ ‘cô’ đồng nghĩa với chữ ‘cả’ là số 1,
đứng đầu chỉ thủ lãnh. Cổ sử Trung Hoa ghi Hiên Viên là
tổ họ Cơ, ta hiểu đó là vị cô đầu tiên trong lịch sử
dân tộc hay rõ ràng hơn là hoàng đế khai quốc.
Về địa bàn sinh tụ của dân tộc thời lập
quốc là lưu vực sông Cơ, Cơ = Cả (tư liệu Lịch sử Việt
ghi là: vùng đất lập quốc của các vua Hùng là sông
“Côi”), chính là sông Cả ở Nghệ An Việt nam hiện nay. Ở
đây có một địa điểm rất linh thiêng hàng năm dân chúng
vẫn tiến hành lễ tế đó là ‘Hang Bua’, rất có thể đây
chính là “hoàng cung’ đầu tiên thời lập quốc. Thực là
sức sống của dân tộc vô cùng mãnh liệt, nội việc cung
vua là hang núi cũng đủ xác định thời gian rất xa xưa
có thể cách nay khoảng 5.000 - 6.000 năm, tức vào thời
con người ăn hang ở lỗ (ăn lỗ ở hang), xã hội còn là
thị tộc hay liên minh thị tộc, mỗi hang là một cộng
đồng nhỏ, là cơ sở của xã hội, sau hang
→
hương nghĩa là làng. Di tích Hang Bua rất có thể là nơi
linh thiêng đánh dấu thời khai quốc của người Việt Nam
và Trung Hoa và vị vua đầu tiên là Hùng Vũ Vương hay Hiên
Viên trong truyền thuyết.
d.
Hiên Viên là vua quốc gia Họ Hùng : Đây là phần rất quan
trọng để xác định nguồn gốc dân tộc Việt; Hiên Viên hay
Hiền Vương là Hoàng đế lập nên quốc gia Họ Hùng hay Hữu
Hùng quốc, Hữu chỉ là ký âm từ Họ của Việt ngữ
,quốc hiệu ‘lưỡng tính’ này có Ý chỉ thời lập quốc
hay thời tiến từ liên minh thị tộc lên quốc gia sơ khai,
giai đoạn đặc biệt khởi đ̣ầu với từ hữu và
kết thúc bằng từ quốc .
Sử Trung Hoa có quy luật đặt vương hiệu đàng hoàng như
Chu Văn Vương hiểu là chúa văn của nước Chu hay nhà Chu;
Tần Nhị Thế là chúa đời thứ hai của nước Tần ; Hán
Vũ Đế là chúa khai sáng triều Hán hay nước Hán. Riêng
với chữ ‘Hùng’ lại rất đặc biệt, Hùng là dòng giống
chứ không phải tên nước, tộc danh này bao trùm và ở trên
quốc hay gia, thí dụ: dân họ Hùng có thể có nhiều quốc
danh như :nước Lạc, nước Thao,nước Thục, nước Đại Cồ
Việt; mỗi một nước như thế lại có nhiều nhà như Đinh,
Lê, Lý, Trần; … nhưng tất cả vẫn xuyên suốt 1 Họ Hùng
hay dòng tộc Hùng, chính vì thế ta mới có Hùng Vương
thứ nhất, Hùng Vương thứ 2, V. v… . Những dòng lịch sử
này đã minh thị đích xác về Họ Hùng mà người Việt
vẫn tôn thờ trong tâm thức mấy ngàn năm qua, cũng như dân
tộc Trung Hoa tôn thờ Hoàng Đế Hiên Viên, hai dân tộc tôn
thờ cùng 1 vì vua dưới 2 danh hiệu khác và cùng nhận
là quốc tổ của mình, nay khi nhận ra: Hiền Đức hay Hiền
Vương và Hiên Viên chỉ là ‘một’ thì đã đến lúc phải
viết lại lịch sử Việt Nam và Trung Hoa .
Dựa trên truyền thuyết lịch sử Việt Nam và Trung Hoa ta
dựng lại toàn cảnh của thời kỳ lập quốc:
5 bộ lạc đã thống nhất hoà huyết tạo nên dòng giống
HÙNG:
1 / bộ lạc CẢ ở lưu vực sông Cả thủ lãnh là Hiên viên
thuộc tộc My bắc ngày nay gọi chung là Nam đảo
2 / bộ lạc Cửu lê ở vùng cánh đồng chum thuộc trung- hạ
Lào thủ lãnh là Xuy vưu tộc Khương tây là tổ tiên người
Môn –Khơme ngày nay.
3 / bộ lạc Mun hay Miêu ở hạ lưu sông Đà tên xưa là Hắc
thủy hay Đơn thủy (đơn =đen) thủ lãnh là Hoan đâu, truyền
thuyết Việt gọi là con gái bà Vũ tiên tộc Khương nam ,
con cháu ngày nay là người H’Mông hay Miêu .
4 / bộ lạc Long hay thần long còn gọi là Động đình ,cầm
đầu là Long nữ con gái Động đình quân tộc My đông , hậu
duệ là dòng Thái hay Tai ngày nay .
5 / bộ lạc Viêm
ở vùng Hoà bình –Ninh bình thủ lãnh là Viêm đế. Bộ
lạc Viêm là sự hòa huyết đầu tiên của 2 đại tộc KHƯƠNG
và MY , cổ sử Trung hoa chép : mẹ của Viêm đế họ Khương
cảm Thần long mà sinh ra vương , Thần long là tên khác
của đại tộc MY.Cả cổ sử Hoa và Việt đều lẫn lộn Viêm
đế thời lập quốc này với tổ phụ Thái viêm- Thần nông
đưa đến nhiều đoạn cổ sử không thể hiểu nổi.
Sự tồn tại
các tộc người và thời điểm dựng nước lịch sử được
chứng thực bởi các hiện vật khảo cổ của các nền văn
hóa Quỳnh văn ở sông Cả Nghệ an, Đa bút thuộc Ninh bình
- Hoà bình Việt nam và cánh đồng chum ở trung Lào.
Tóm lược trang sử dựng nước cùa vua HÙNG :
HIỀN VƯƠNG
thủ lãnh của bộ lạc CẢ nghĩa là đứng đầu (cổ sử
Trung hoa chép thành HIÊN VIÊN của tộc CƠ) thuộc dòng MY
BẮC sinh trú ở lưu vực sông Cả đánh bại XUY VƯU vua của
bộ lạc CỬU LÊ dòng KHƯƠNG ; đoạn sử này xuất phát từ
cặp số 4-9 chỉ phương tây của Hà thư, xuy là âm của số 4
còn cửu là số 9. Hiền vương thống nhất 2 bộ lạc sau đó
đánh bại Viêm đế ở vùng Ninh Bình- Hoà bình Việt nam
và đã đúc 3 bộ lạc thành một dân tộc, dân tộc HÙNG,
lập nước họ HÙNG và lên ngôi HÙNG VŨ tức VUA HÙNG ,
lãnh thổ của nước họ HÙNG là đất GIỮA chuyển âm Hán
ngữ thành YUÊ còn được dịch là GIAO CHỈ, chỉ là chỗ,
nơi chốn ý nói nơi giao nhau của 2 đường nam –bắc, đông
tây, đất ‘giữa-bắc’ còn gọi là đất Đào nay là đồng
bằng Thanh Nghệ Tĩnh và vùng núi rừng phía tây, đất
Giữa –nam hay đất Việt thường là vùng trung và tây bắc
Việt ngày nay , người Hoa ký âm chữ GIỮA thành YUÊ ;
riêng Việt nho đọc là VIỆT ( chưa hiểu tại sao ?).
Vua Hùng
dạo chơi phương nam gặp và kết hôn với con gái bà Vũ
tiên hay tiên đế sinh ra LỘC TỤC, Lộc là biến âm của lục
là số 6 và công thức đã ấn định trong hà thư để sinh ra
Lục tộc : Hiên viên hay Hiền vương tên tộc là NGU chính
xác là NGŨ số 5 ở trung tâm của Hà thư, lấy con bà Vũ
tiên là số 1, sinh ra Lộc tục được chỉ bởi số 6;ta có:
5+1=6, sau vua HÙNG truyền ngôi cho con cả lập nên triều
đế NGHI ở phương Bắc và Lộc tục được phong là vương
phương Nam lấy hiệu là KINH DƯƠNG VƯƠNG, Kinh biến âm của
cóng nghĩa là lạnh cũng là một tên khác của quẻ Khảm
chỉ NƯỚC trong cặp đối Lửa-Nước hay phương Bắc và phương
nam,nóng và lạnh còn dương chỉ là biến âm của Giêng tức
số 1 của Hà thư.Giòng con cháu đế NGHI gọi là người LA
tượng trưng bởi qủe LY là lửa , qủe của Viêm phương.
Cổ sử Trung hoa
không ‘thích’ con đường hôn nhân mà nhất định phải đánh ,
phải có chiến tranh và chiến thắng mới oai ...nên viết
HOÀNG ĐẾ tức HÙNG VŨ đánh bại HOAN ĐÂU con của vua XUYÊN
HÚC ở ĐAN THỦY, đan là biến âm của đen, Đan thủy hay HẮC
THỦY cũng là con ‘sông đen’ mà thôi, HẮC THỦY là tên của
sông ĐÀ xưa. HOAN ĐÂU là tổ của người MIÊU hay Hữu Miêu
tức họ Miêu, chữ Miêu chỉ là ký âm sai của chữ MUN mà
thôi, người Mun nghĩa là người phương nam. Tất cả người
tộc Miêu đều nhận mình là người MUN.
Thực tế thì
chẳng có hôn nhân cũng chẳng có đánh nhau đấy chỉ là
một lối ám chỉ ,diễn tả việc phát triển dân tộc HÙNG
về phương nam ,ở đấy cộng sinh và hoà huyết với1 tộc
người mới là người MUN kết qủa là tạo thành giòng tộc
HÙNG phương nam gọi là người KINH hay CÓNG tên khác của
quẻ Khảm chỉ phương nước ngược với phương lửa.
LA và KINH là anh
em cùng cha khác mẹ , cả 2 là con HÙNG VŨ tức vua HÙNG
và đất giữa hay YUÊ cũng có Yuê-bắc và Yuê- nam, ngày
nay kim chỉ nam còn được gọi là LA-KINH tức cây kim 2
đầu, 1 đầu Bắc và1 đầu Nam nhưng chỉ là 1 cây kim mà
thôi . Người KINH mọi người đều biết là người VIỆT hiện
nay còn người LA ?
Câu ca dao sau sẽ
dẫn dắt chúng ta ̣đến 1 bất ngờ to lớn:
Ai ơi chớ lấy KẺ
LA.
Cái dưa thì khú
cái cà thì thâm.
Gạt bỏ ý tứ
trong lối chơi chữ ‘dưa khú- cà thâm’ đi ta có được 1
thông tin quan trọng và qúy giá đó là KẺ LA, kẻ nghĩa
là người , kẻ La là người La tên người Việt gọi người
CHĂM hay CHÀM; thì ra La và Kinh là chỉ người Việt và
người Chàm hiện nay..., người Chàm là dòng đế NGHI con
cả của vua HÙNG, thật là một bất ngờ to lớn khi biết
La là quẻ Ly ;Kinh là quẻ Cóng hay khảm tức quẻ lửa và
quẻ nước biểu thị sự phân cực của một thể thống nhất
theo luật lưỡng nghi của dịch học.
Người Chàm chỉ
là một phần của người La , người La hiện nay có mặt ở
nhiều nơi trong vùng đông nam á như trung quốc, Lào và
Thái ; Trung quốc có người DI LÃO hay CAĐAI và người LÊ,
các từ Ly-la- lê-lão-lô..v.v chỉ là những biến âm của 1
từ gốc là LỬA, chữ DI là tàn tích của chữ NHÌ là
thứ hai .
DI_LÃO có 1 từ
kép Đối xứng là KINH_LẠC, qủe Cóng đối với qủe Ly hay
Kinh đối với Lão; Lạc biến âm của lục số 6 đối với Di
biến âm của nhị số 2, 6 và 2 là 2 số đối phân cực Bắc
–Nam của Hà thư.
Người KINH- LẠC;
ngoài người Kinh ở đất Việt hiện nay còn có dòng
Bách-lộc và người Hẹ hay Hacka và người mang họ MẠC ở
đất Trung quốc vì Chữ LẠC còn đọc là ḤẠC và
MẠC-MẠCH, có điều lạ lùng là không hiểu sao người Tàu
lại gọi người Cao ly là Mạch, có 1 sự lẫn lộn nào đó
của lịch sử hay không ?.
Khi hình thành
nên tộc Kinh-Lạc dòng máu người họ HÙNG đã là sự hòa
huyết của 3 thị tộc gốc: người dòng CẢ của phương bắc,
người CỬU_LÊ của phương tây, người MUN hay MIÊU của phương
nước hay nam xưa tức phương bắc ngày nay.
Truyền thuyết
Việt nói : KINH DƯƠNG VƯƠNG kết hôn cùng LONG _NỮ con ĐỘNG
ĐÌNH QUÂN; thế là người họ Hùng đã đi hết đoạn đường
mà tạo hóa sắp đặt để hòa thêm dòng máu thứ 4 vào
huyết thống của mình dòng máu của LONG tộc ở phương
ĐÔNG, diễn biến này được Truyền thuyết lịch sử Trung hoa
viết :Vua ĐẠI VŨ lấy vợ là ĐỒ SƠN THỊ, Đồ sơn thị là
người con gái ở ĐỒ_SƠN ; phải chăng là bãi biển Đồ sơn
ở Hải phòng bắc Việt hiện nay ? cổ thư trung hoa có nói
đến việc họ KINH XUYÊN và ĐỘNG ĐÌNH đời đời là thông
gia...
Cổ sử cũng cho
biết khởi thủy đất trung hoa chỉ có châu ĐÀO-ĐƯỜNG hay
ĐÀO- DƯƠNG, thông qua các dịch tượng ta hiểu Đào đường
hay dương cũng chỉ có nghĩa là bắc - nam hay lửa và
nước mà thôi, cổ sử Việt có nói đ̣ến đất Việt thường
đấy chính là nói về đất Đường trên, Đường là phát âm
hán việt chữ thoòng hay thường mà thôi.Con dân vua HÙNG
có người LA người KINH, đất có đất Đào đất Đường hay
Việt thường, căn cứ vào thư tịch cổ ta còn thấy vua
cũng có 2 dòng, đế KHAI-MINH và đế MINH-KHIẾT, ông KHIẾT
là tổ của người Trung hoa vùng Trường giang ta có thể
suy ra đế Minh Khiết hay MINH + KHIẾT là vua gốc dòng
KINH- LẠC do sự hòa huyết của đế MINH và dòng VŨ TIÊN
phương nam gọi tên khác là ông KHIẾT như truyền thuyết đã
nói ở trên. Khi vua HÙNG truyền ngôi cho đế NGHI ở phương
bắc tức đất Đào thì quốc hiệu là nước ‘ĐÀO’ dịch sang
Hoa ngữ là HỒNG BANG ký âm sai thành HỒNG BÀNG, đấy là
quốc hiệu đã được mọi người VIÊT NAM mặc nhiên công
nhận.
Những dòng tóm
lược về thời khai quốc trên đã cho thấy có sự trùng
hợp hầu như hoàn toàn giữa 2 dòng sử VIỆT và HOA , sự
việc này thực kỳ bí buộc ta phải đi sâu thêm để khám
phá.
Cổ sử cũng nói đến 3 thành tựu khoa học và kỹ thuật
của thời này:
1. Khi đánh nhau với Xi Vưu, vua phía Tây, Hiên Viên đã sử
dụng kim chỉ nam để dẫn đường, đây là thành tựu tuyệt
vời của khoa học kỹ thuật Việt, sau này người Phương tây
đã học được và áp dụng để xác định phương hướng mãi
cho đến ngày nay; không có kim chỉ nam hay la bàn thì
không thể đi xa, không có ngành hàng hải tiến bộ vượt
đại dương, bộ mặt của thế giới chắc chắn khác xa ngày
nay và chắc chắn lịch sử thế giới không diễn ra như
hiện có.
Kim chỉ nam là tên Việt gọi la bàn trong đó từ chỉ là
động từ nên cả đoạn rất rõ nghĩa : là cây kim có đầu
luôn chỉ hướng nam....;nhưng trong Hoa ngữ ‘chỉ’ là ngón
tay nên ‘chỉ nam châm’.tương tự còn có ‘chỉ nam xa’ ,
dịch sang tiếng Việt là gì... không tài nào hiểu
nổi..?.
2. Hoàng Đế Hiên Viên được tôn là tổ phụ của văn tự
Trung Hoa, ý không phải nói hoàng đế chế ra loại chữ
Trung Hoa đang dùng ngày nay, mà như đã nói Văn là Dịch
và Dịch tức Văn. Nếu tổ thứ nhất của văn tự là Phục
Hy với Dịch Lý nút số. Thì Hiền Vương – tổ thứ hai với
Dịch Lý vạch – quẻ. Đạo Giáo hay Đạo Lão được xây dựng
trên nền tảng học thuyết Hoàng – Lão (Hoàng Đế + Lão
Tử). Tinh hoa của triết thuyết Lão Tử nằm trong Đạo Đức
Kinh thì người ta đã rõ, còn với Hoàng Đế thì đóng
góp gì? Không thể gì khác ngoài Bát Quái; về Tiên Thiên
Bát Quái thì đa phần học giả Trung Hoa đều đồng thuận
với ý kiến này; chỉ còn tranh cãi về Hậu Thiên Bát
Quái. Có 2 trường phái: thứ nhất cho rằng Hậu Thiên Bát
Quái cũng do Hoàng Đế sáng chế; phái thứ hai cho là
Hậu Thiên Bát Quái do Văn Vương tổ của nhà Chu sáng tác.
Dù cho do ai sáng tác nó cũng là nền tảng của khoa học
truyền thống của Việt Nam và Trung Hoa, ý nghĩa của nó
ta đã xét ở phần Dịch Lý.
3. Thành tựu kế tiếp là y học cổ truyền của Việt Nam
và Trung Hoa:
Tương truyền sách “Hoàng Đế Nội Kinh Tố Vấn” có từ
thời Hoàng Đế, trong đó đã có đầy đủ những nguyên lý
của nền y học cổ, nền y học này đã vận dụng các
nguyên lý Dịch Lý vào ngành cơ thể học và trị bệnh cho
con người, đấy là cuốn sách nền tảng của Đông y còn
tác dụng cho đến bây giờ và càng ngày càng có địa vị
vững vàng trong thế giới hiện đại, đối với khoa học nó
còn đầy những điều không thể hiểu nỗi … nhưng rõ ràng
có tác dụng thực sự, dù tự nhận là tiên tiến nhưng
người ta vẫn đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác,
nào kinh – lạc, nào huyệt đạo rồi châm cứu, châm tê V.v…,
chữa bệnh ở nội tạng lại châm ở bàn chân hay vành tai …
thực không hiểu nỗi.
Trung tâm thời lập quốc Họ Hùng là đất giao- bắc
(giữa) có mốc chuẩn là sông Cả, sông Chu, sông Mã và
núi Đọ ; có thể xác định: đất Giao-bắc là vùng đồng
bằng Thanh – Nghệ – Tĩnh và phía thượng nguồn các sông
trên .
Câu ca dao mà mọi người Việt đều thuộc lòng:
“Công cha
như núi Thái Sơn,
nghĩa mẹ
như nước trong nguồn chảy ra”
Người Việt dùng hai câu này sánh công lao cha mẹ như núi,
sông nhưng nó còn chứa các thông tin khác. Nói đến cha
mẹ không phải chỉ là cha mẹ, người Việt còn có tục
đồng hóa vua với cha mẹ như “Bố Cái Đại Vương” chẳng
hạn, và dân còn được gọi là ‘con dân’; công cha nghĩa mẹ
còn dùng để ca tụng công đức của quốc tổ, cha mẹ chung
đã sinh ra cả một dân tộc, dân tộc họ Hùng, địa danh
‘núi Thái Sơn’ (1 trong 2 từ ‘núi’ hay ‘Sơn’ là thừa) cho
ta sự liên kết: Thái trong Dịch Lý còn dùng như chữ
Đại, Đại Sơn, người Việt thấy ngay là Hán văn chuyễn
ngữ từ ‘núi Đọ’; và câu ‘nghĩa mẹ như nước trong nguồn
chảy ra’ cung cấp thông tin về con sông, sông Mẹ, sông Mã,
Mã ký âm là ‘Mẹ’, cũng như chữ Chu trong sông Chu là Cha,
tổng kết : 3 con sông Cả, Cha, Mẹ (Chu và Mã) cộng với
Thái Sơn đủ để ta xác định đấy là vùng đất khởi nguyên
của tổ quốc Việt: đấy chính là phần phía bắc
(xưa)
của đất Giao chỉ, mà tên gọi còn theo lịch sử in dấu
tới tận ngày nay. Đất Giao hay Giữa là vùng đất Trung
tâm nơi giao hội của 4 phương 8 hướng, ngày nay thường
được gọi là Trung nguyên chứ không phải lối giải nghĩa
vớ vẫn … Giao Chỉ là dân có 2 ngón chân … bẹt ra vì leo
núi đá.
Lãnh thổ của đất nước chia làm 2 phần Giao- Bắc và Giao
– Nam, dân Họ Hùng cũng chia làm 2 cộng đồng, dân Lửa và
dân Nước. Người Lửa còn có các tên khác là: người Lão
hay Di -lão, còn gọi là Liêu sống ở An Ấp
(an
=ôn
=nóng bức).
Dân Nước còn gọi là dân Kinh hay Kênh-lạch, Trung Hoa gọi
là người Bách Lộc,Hạc, Mạc.v.v. lãnh thổ là Lạc Ấp
tức đất Giao-nam và Lâm ấp hay Nam-giao. Đế Nghi nối tiếp
ngôi đế của Hùng Vũ hay Hoàng Đế Hiên Viên mở ra triều
đại mới ;triều Hùng Hy –Viêm lang
Tóm lược thời lập quốc: 3 cộng đồng của 2 tộc người
ngày nay khoa nhân chủng học gọi là Môn-Khmer và
Indonesien đã đúc kết thành người Lửa, Liêu, Lão, La, Lê
tụ cư ở vùng đất là Giao-Bắc , nay là đồng bằng Thanh –
Nghệ – Tĩnh và núi rừng phía Tây. Sau đó dân Họ Hùng
thiên cư về cõi Nam (xưa),
cộng cư và cộng huyết với người Miêu (sử Việt gọi là
dòng dõi bà Vũ Tiên), tức tổ tiên người Miêu sinh ra Lạc
tộc, Trung Hoa gọi là người Bách Lộc, Hạc, Mạc .
Theo thông tin do Nguyễn Hồng Sinh đưa ra trong “Kinh Dịch
Huyền diệu và Ứng nghiệm” thì Hùng Vũ hay Vua Hùng còn
có danh hiệu: Vua Cha Ngọc Hoàng Thượng Đế và vợ là Đệ
Nhất Tiên Thiên Thánh mẫu, dựa trên ngữ văn chắc chắn đây
là truyền tích của Đạo Giáo, đặc biệt chi tiết “Thánh
Mẫu” cho ta nhận định: Đạo Giáo và Đạo Mẫu ở Việt Nam
có sự liên quan, Đạo Mẫu là đạo thờ mẹ, một tín
ngưỡng dân gian ở Việt Nam. Tồn tại từ thời xa xưa đây
là biểu hiện của thời mẫu hệ nên gần nhất thì đạo
này cũng có từ trước đời nhà Chu, vì nền văn minh Trung
Hoa thì cuối đời Ân Thương là thời kỳ chuyển tiếp từ
mẫu hệ sang phụ hệ để rồi phụ hệ được khẳng định ở
thời nhà Chu. Thông tin quan trọng nữa mà cuốn sách trên
nêu lên là quốc hiệu thời Hùng Vũ là: “Viêm Việt Đại
Hưng Bang” về sau quốc đô dời về nam (bắc hiện nay) đổi
thành “Bách Việt đại liên bang”; trên hành trình tìm về
cội nguồn, bất cứ manh mối nào đối với chúng ta cũng
quan trọng, đều là thiêng liêng, Nên chi tiết nào dù nhỏ
cũng rất đáng quan tâm và đào sâu nghiên cứu .
Bài đã đăng:
Sử
thuyết họ HÙNG (bài
1)
Sử
thuyết họ HÙNG (bài
2)
Sử
thuyết họ HÙNG (bài
3)
Sử
thuyết họ HÙNG (bài
4)
Sử
thuyết họ HÙNG (bài
5)
Trở về Trang Chính
|