|
c-
Biểu tóm lược và đối chiếu :
a- 18
HÙNG triều
|
HÙNG TRIỀU
THẾ PHỔ |
DANH HIỆU KHÁC |
HẬU DUỆ&
ĐẠO HIỆU |
HOA SỬ |
|
1-Hùng triều thứ 1
Hùng Dương
|
Thái cao,vua Cả
Động- đình-quân |
Long nữ |
Thái cao ,Bào hy |
|
2-Hùng triều thứ 2
Hùng Hiển |
Thái viêm,Thần nông |
Hiền đức lang,Viêm đế |
Viêm đế,Cao tân |
|
3-Hùng triều thứ 3
Hùng Nghị
|
Thái khang
Bảo lang |
Xi vưu |
Thiếu Hạo,Kim thiên |
|
4-Hùng triều thứ 4
Hùng Diệp(Việp) |
Thái Tiết, Tiên đế,
Bà Vũ tiên
Quang lang |
Hoan đâu,con gái bà Vũ
Tiên |
Xuyên húc, cao dương |
|
5-Hùng triều thứ 5
Hùng Vũ
|
Thái Công,đế Minh
Hiền đức lang |
Vua cha ngọc hoàng
thượng đế |
Hiên viên ,Hoàng đ̣ế
|
|
6-Hùng triều thứ 6
Hùng Hy hay
Hùng anh |
Đế Nghi và Kinh dương
vương
Viêm lang |
|
Nghiêu đế(Đường nghiêu) |
|
7-Hùng triều thứ 7
Hùng Thuấn hay
Hùng Lạc |
Lộc tục –(Lạc tộc)
Lâm lang |
Nam triều thánh tổ
ngọc hoàng thượng đế |
Thuấn đế(Ngu thuấn) |
|
8-Hùng triều thứ 8
Hùng Việt |
Tuấn lang |
Tản viên sơn thánh
quốc chúa đại vương-Sơn tinh |
Triều Hạ,Đại vũ |
|
9-Hùng triều thứ 9
Hùng Hoa |
Lạc long quân
Hải lang |
Tam
|
Triều Hạ, Khải |
|
10-Hùng triều th 10
Hùng Huy |
Long tiên lang |
║
Toà ║ Ngũ vị |
Triều Thương
Thành thang |
|
11-Hùng triều th 11
Hùng UY hay
Hùng Vỹ |
Hoàng Hải lang |
║ tôn ông
Đức ║ nước
║
SÙNG
|
Triều Ân Thương |
|
12-Hùng triều th 12
Hùng Chiêu |
An dương vương
Sùng Lãm-Âu Cơ
Quốc tiên lang |
chúa
:
:
|
Tây bá xương
Chu Văn vương |
|
13-Hùng triều th 13
Hùng Ninh
|
Thục Phán(Phát)
Thừa Văn lang |
ông
:
tức vua
|
Triều Tây Chu
Cơ Phát,Ninh vương
Chu vũ vương |
|
14-Hùng triều th 14
Hùng Tạo
- Thời 12 xứ quân |
Quân lang hay
Tân lang |
(
Hạ-Thương-Chu)
|
Đông Chu
-Thời xuân thu –chiến
quốc |
|
15-Hùng triều th 15
Hùng Định |
Đinh tiên hoàng
Chân lang |
|
Triều Tần
Tần thủy hoàng |
|
16-Hùng triều th 16
Hùng Trịnh |
Lý Bôn
Hưng đức lang |
|
Triều tây Hán
Lưu Bang |
|
17-Hùng triều th 17
Hùng Triệu |
Cảnh triệu lang hay
Cảnh thiều lang |
|
Nam Việt Vũ
Triệu Đà hayTha |
|
18-Hùng triều th 18
Hùng Dụê |
Duệ lang |
|
Triều Tân
Vương Mãng
Châu hoàng đế |
|
THỜI |
MẤT NƯỚC |
NÔ LỆ HÃN TỘC |
|
d- Lịch sử Cổ và trung đại
|
Sử thuyết họ HÙNG |
Sử TRUNG- HOA |
|
1-Thời Sỹ nhiếp
-Bắc thuộc lần thứ
1 |
-Bọn giặc cỏ-lục lâm
thảo khấu
-Tây hãn quốc của đại
hãn Lưu Huyền và Đông hãn quốc của đại hãn Lưu
Tú làm chủ trung nguyên
|
|
2-Thời 2 xứ chống
giặc Giả(ngụy)
Lý Bí-Lý thiên
Bảo, Ngô quyền
Đánh Hoàng Tháo
-Trận: Bạch đằng
giang |
Thời tam quốc
Thục- Ngô- Ngụy
Lưu Bị-Lưu Biểu,Tôn
quyền
chống Tào Tháo-Trận
:Xích bích |
|
3- bắc thuộc lần thứ
2 |
Thời Hán, Ngụy ,Tấn
làm chủ Trung nguyên ; |
|
4- |
-Thời Nam –Bắc triều
,phân rã đế quốc man tộc là chủ Trung nguyên
- Các triều Đông Tấn
,Lưu tống ,Tề, Lương , Trần ra đời ở Hoa nam |
|
5-triều Đinh Hoàn ,
nước Đại cồ Việt |
Triều bắc Chu, Vũ văn
Giác |
|
6-Triều Lê Hoàn hay Lê
đại Hành |
Triều Tùy, Dương Kiên |
|
7- Triều Lý 1, Lý
công Uẩn |
Triều Đường, Lý Uyên |
|
8-Thời Khúc Hạo-Khúc
thừa Mỹ |
Triều hậu Lương |
|
9- Triều Lý 2 , Lý
công Uẩn
Nước Đại Việt |
- Thời Hoa nam thập
quốc
-Lý(Lưu) Cung, Lý(Lưu)
ẩn
lập Nước Đại Việt sau
Hoa sử đổi thành Nam Hải rồi Nam Hán |
|
10- |
Triều hậu CHU .Quách
Vu ở Hoa bắc |
|
11-Tam quốc họ HÙNG
Đại Việt-Đại
Lý-Đại Tống |
Triều Tống-Triệu
khuông Dận
-nước Đại lý ở Vân
nam |
|
12-Nùng trí Cao chiếm
phía nam Đại Việt lập nước
Đại Nam
-Đại Nam đánh Tống |
Tống chiếm Nam hải
tức Đại nam của Nùng trí Cao |
|
13-Triều Trần
-đại phá quân Mông
cổ |
-Kim chiếm bắc Tống
-Mông cổ diệt Kim, Đại
Tống và Đại Lý |
|
14-Họ HÙNG ;Đại Việt
độc lập- tự chủ |
Thời Nguyên- Mông làm
chủ trung nguyên; |
Tiền
nhân người Việt Nam đã truyền lại cho đời sau nhiều
chuyện cổ tích, đặc biệt là những truyện trước công
nguyên. Trong những câu chuyện trên có phần hư cấu, mới
đọc tưởng là chuyện tà ma, yêu thuật nhưng khi dùng chìa
khoá Dịch Lý để mở mới nhận ra chính là tâm huyết của
người xưa, khi đưa các mã tin của Dịch Lý vào các câu
chuyện cổ tích – kết hợp với cổ sử Trung Hoa và Việt
Nam đối chiếu với những khám phá của một số ngành khoa
học hiện đại ta có thể phục dựng lại nguyên bản của
lịch sử, đúng như những gì đã xảy ra, rửa sạch các
lớp sơn ô uế mà ai đó đã phủ lên lịch sử của con dân
Việt Nam – con dân Họ Hùng trong số đó quan trọng nhất
là Hùng triều ngọc phả.
e-
Hùng
triều ngọc phả :
Dựa
theo phả hệ Hùng Vương 18 đời được lưu truyền từ xa xưa
và con dân Việt coi như chính sử:
1 Hùng Dương Vương
2 Hùng Hiển Vương
3 Hùng Quốc Vương hay Thuấn Vương – Lâm
Lang
4 Hùng Nghi Vương – Bảo Lang ( dị bản: Tân
Lang)
5 Hùng Hy Vương – Viêm Lang ( dị bản: Hùng
Anh Vương)
6 Hùng Hoa Vương – Hải Lang̣
7 Hùng Huy Vương – Long Tiên Lang
8 Hùng Chiêu Vương – Quốc Tiên Lang
9. Hùng
Ninh Vương – Thừa Văn Lang
10.
Hùng Uy Vương – Hoàng Hải Lang ( dị bản: Hùng Vĩ Vương)
11. Hùng Trịnh Vương – Đức Hưng
Lang
12. Hùng Vũ Vương – Hiền Đức Lang
13.
Hùng Việt Vương – Tuấn Lang
14.
Hùng Định Vương – Chân Lang
15.
Hùng Triệu Vương – Cảnh Triệu Lang (dị bản: Cảnh Thiều)
16.
Hùng Tạo Vương – Đức Quân Lang (dị bản: Đức tân)
17.
Hùng Nghị Vương – Quang Lang
18.
Hùng Duệ Vương – Huệ lang (dị bản: Duệ Đức)
Riêng
tư liệu do Nguyễn Hồng Sinh sưu tầm có thêm Hùng Vương
thứ 19: Hùng Kính
Vương?
g-Tóm
tắt một số truyện cổ tích
Việt .
Để giúp bạn đọc đặc biệt là các bạn trẻ dễ dàng nắm
bắt ý trong bài viết xin tóm tắt một số truyện cổ
tích Việt được dùng làm tư liệu dẫn chứng cho cả loạt
bài viết về lịch sử họ HÙNG .
g .1. Sự tích
họ Hồng Bàng
Đế Minh là dòng dõi 3
đời của Viêm Đế Thần Nông, đi dạo chơi phương nam đến núi
Ngũ Lĩnh gặp và kết duyên cùng nàng Vụ Tiên (có dị
bản chép là con gái bà Vụ Tiên), sinh ra con trai đặt tên
là Lộc Tục. Đế Minh rất thương yêu và có ý định truyền
ngôi “đế” cho Lộc Tục, nhưng Lộc Tục quyết không dám
nhận vì còn anh trai lớn cùng cha khác mẹ là Đế Nghi.
Sau Đế Minh truyền ngôi cho Đế Nghi và phong là vua phương
bắc, Lộc Tục là vua phương nam. Lộc Tục lên ngôi lấy
hiệu là Kinh Dương Vương – đặt tên nước là Xích Quỉ. Kinh
Dương Vương kết duyên cùng Long Nữ (dị bản chép là Long
Mẫu, là nàng Áng Mây) con gái của Động Đình Quân, vua
vùng hồ Động Đình, hạ sinh một con trai đặt tên là Sùng
Lãm. Sùng Lãm nối ngôi cha xưng là Lạc Long Quân. Lạc
Long Quân kết duyên cùng Âu Cơ con gái của Đế Lại và là
cháu của Đế Nghi. Âu Cơ sinh ra một cái bọc trong có 100
quả trứng, sau nở ra 100 người con trai. Một hôm, Lạc Long
Quân nói với Âu Cơ, “Ta là dòng dõi rồng vốn sống ở
dưới nước, nàng là dòng dõi tiên sống trên cạn nên không
thể sống mãi cùng nhau được” rồi Lạc Long Quân đưa 50 con
xuống biển, Âu Cơ dẫn 50 con lên núi Phong Châu, các con
theo Âu Cơ tôn người con trưởng lên làm vua lấy hiệu Hùng
Vương – đặt tên nước là Văn Lang nước
Văn lang bắc giáp hồ Động đình, Đông giáp Nam hải, tây
giáp Ba thục và nam giáp nước Hồ tôn. Dòng
giống Việt được hình thành từ đấy.
g.2.
Truyện Sơn Tinh – Thủy Tinh
Sơn Tinh tên là Nguyễn Tuấn, sau còn các tên:
Nguyễn Huệ, Nguyễn Chiêu Dung, con của Nguyễn Cao Hạnh và
bà Đinh thị Dung, sau khi cha chết, mẹ con dẫn nhau lên ở
núi Ngọc Tãn. Ở đây Sơn Tinh được Ma Thị là chủ núi
nhận làm con nuôi, Nguyễn Tuấn được thần núi cho cây gậy
thần có đầu sinh đầu tử, do cứu được một con rắn (dùng
gậy đầu sinh) vốn là con vua thủy tề, được trao “sách
ước” đễ tạ ân, sách ước có 3 trang (không rõ 3 trang
gì).
Vua Hùng Vương thứ 18 mở hội kén chồng cho Mỵ
Nương Ngọc Hoa là con gái yêu của vua. Cả Sơn Tinh và
Thủy Tinh đều đến cầu hôn, vua Hùng phân vân không biết
chọn ai, vua quyết định ai đem sính lễ đến trước sẽ gả
công chúa cho. Sơn Tinh nhờ có sách ước (?) nên chuẩn bị
nhanh chóng lễ vật và đến trước, vua Hùng ưng ý và gả
công chúa Ngọc Hoa cho Sơn Tinh. Thủy Tinh đến sau nên không
lấy được vợ, nổi giận dâng nước lên đánh Sơn Tinh, nhưng
Sơn Tinh nhờ có sách ước, gậy thần làm phép hể nước
dâng lên thì núi cao lên thêm mãi, và nhờ gậy thần “đầu
sinh đầu tử” nên binh tôm tướng cá tan tành phúc chốc,
đất nước hưởng thanh bình, Thủy Tinh đành chịu thua và
rút lui. Sau Hùng Vương truyền ngôi cho con rể là Sơn Tinh
vẫn lấy hiệu là Hùng Vương.
g.3.
Chuyện bánh dày bánh chưng
Vua Hùng đã già bèn nghỉ ra cách để tìm
người kế vị. Vua bèn ra lệnh cho các hoàng tử (các
Lang) ai dâng lên cho vua được món ăn ngon nhất và ý nghĩa
nhất sẽ được vua truyền ngôi. Trong khi các anh em đổ đi
khắp nơi để tìm của ngon vật lạ thì hoàng tử Lang Liêu
vốn cảnh sống rất thanh bạch và không muốn dành ngôi vua
nhưng bản tính hiếu thảo nên vẫn băn khoăn không biết lấy
gì dâng cho vua cha, chợt tối ngủ Lang Liêu được một vị
thần hiện ra chỉ dẫn: Lấy gạo nếp tinh tuyền đã nấu
chín giã ra làm bánh màu trắng hình tròn, đặt tên là
bánh dày. Lấy gạo nếp đổ trên lá, giữa cho nhân đậu
xanh và thịt heo gói lại thành hình vuông đem luộc chín
gọi là bánh chưng. Khi dâng vua, vua cha cho các món ngon
vật lạ của các hoàng tử khác đều là tầm thường. Riêng
bánh dày và bánh chưng của Lang Liêu được vua khen ngon
và hỏi ý nghĩa thì Lang Liêu tâu: Bánh dày hình tròn
tượng trưng cho trời. Bánh chưng hình vuông tượng trưng cho
đất. Vua khen trời tròn đất vuông là trọn ý nghĩa của
đạo trời đất, và vua quyết định truyền ngôi cho Lang
Liêu.
g.4- Truyện
Thánh GIÓNG.
Giặc
Ân sang xâm chiếm nước ta, thế giặc mạnh mẽ lắm nhà vua
cho truyền rao khắp nơi kêu gọi người tài ra chống giặc
cứu nước.
Ở
làng Phù đổng tổng Võ ninh có 1 cậu bé đã 3 tuổi mà
chưa biết nói vậy mà khi thiên xứ của vua đến bỗng đứa
trẻ ấy lên tiếng xin nhà vua ban 1 con ngựa sắt và 1 cây
gậy sắt để đi chống giặc, rồi cậu dục cha mẹ thổi cơm
cho mình ăn để lên đường cho kịp lệnh vua, ăn hết nồi
này cậu lại đòi thêm nồi khác đến khi nhà hết gạo thì
cả dân làng tật trung nồi và gạo để thổi cơm cho cậu
ăn... khi đã no đứa bé đứng dậy vươn vai 3 lần biến
thành chàng thanh niên cao lớn khoẻ mạnh phi thường, vừa
kịp khi nhà vua cho mang ngựa sắt và roi sắt đến chàng
liền phóng lên ngựa cầm roi sắt phi ra trận tiền ,ngựa
đi đến đâu giặc tan tác đến đó hết lớp này đến lớp
khác đến nỗi gãy cả gậy sắt chàng liền nhổ tre vung
lên đánh giặc hết bụi này đến bụi khác. xác giặc và
tre vươn vãi khắp nơi nên về sau khắp nước ta đâu đâu cũng
có tre mọc.
Phá
xong giặc ngài cưỡi ngựa sắt bay về trời ở vùng núi
Sóc sơn,từ đó nước ta mãi mãi vua cho lập đền thờ và
phong là Phù Đổng Thiên Vương , dân gian gọi ngài là
thánh GIÓNG.
g.5.
Chuyện nỏ thần
Thục An Dương Vương xây thành ở đất Việt
Thường, nhưng thành xây mãi không xong, cứ xây rồi lại
đổ. Nhà vua lập đài cầu khấn thì thần Kim Qui hiện lên
xưng là Thanh Giang Sứ Giả chỉ cho vua cách trừ yêu quái
nên thành xây không đổ nữa. Thành xây 9 lớp và xoáy như
hình con ốc, vua đặt tên là Thành Cổ Loa. Trước khi giả
từ thần Kim Qui còn tặng vua một cái vuốt để làm vật
báu trấn quốc. An Dương Vương sai tướng quân Cao Lỗ dùng
vuốt rùa chế thành nỏ thần gọi là “Thần nỏ rùa
vàng”, khi giặc xâm lăng vua mang nỏ thần ra bắn thì quân
giặc tan tác ngay. Thấy vậy, Triệu Đà vua nước kế bên
vẫn có dã tâm thôn tính nước ta, lập kế cầu hòa, xin
cho con là Trọng Thủy lấy con gái An Dương Vương là Mỵ
Châu, ở rể tại Âu Lạc. Vốn sẵn âm mưu Trọng Thủy hỏi
dò vợ về nỏ thần; Mỵ Châu mất cảnh giác đem nỏ thần
cho xem, Trọng Thủy bèn tráo và trả lại cái nỏ giả,
rồi về nước báo tin cho cha. Được tin Triệu Đà cất quân
đánh An Dương Vương; vì đã mất nỏ thần nên An Dương Vương
thua chạy – cha con đến cửa biển Nghệ An khấn thần Kim
Qui, thần hiện lên bảo “Giặc đang ngồi sau lưng nhà vua
đấy”, nhà vua biết muôn sự do Mỵ Châu gây ra, nên tuốt
gươm chém con rồi cầm sừng Văn Tê 7 tấc đi vào biển.
g.6.
Sự tích trầu cau
Hai anh em trai tên là Tân và Lang giống nhau như
2 giọt nước, cha mẹ mất sớm nên 2 anh em vô cùng thương
yêu và đùm bọc lẫn nhau. Rồi người anh là Tân lấy vợ,
anh em vẫn ở chung nhà; vì 2 người giống nhau như 2 giọt
nước nên người chị dâu không thể phân biệt được chồng và
em, khiến Tân nhiều khi hiểu lầm nghi oan cho em. người em
bỏ nhà ra đi, đi mãi tới bên bờ suối kiệt sức ngồi
nghỉ rồi chết biến thành tảng đá. Người anh thấy mất
em, vô cùng ân hận và ra đi, quyết tìm cho được em, nhưng
đi mãi đi mãi vẫn không tìm được, thấy có tảng đá thì
ngồi đấy khóc mãi cho tới chết, và cạnh tảng đá mọc
lên một cây cau. Người vợ cũng ra đi tìm chồng và em. Khi
đến bờ suối thấy có tảng đá và cây cau liền ngồi nghỉ
và chết tại đấy, hồn biến thành dây trầu không mọc leo
từ tảng đá quấn lấy cây cau.
Vua Hùng tuần du đến đấy nghe kể chuyện thì
rất xót xa cho tình nghĩa anh em và vợ chồng bèn sai
nung đá thành vôi, ăn vôi với trầu và cau thì thấy có
hương vị đặc biệt và tạo nên chất nước đỏ thắm, mọi
người đi theo đều bắt chước vua. Từ đó có tục ăn trầu
ở nước ta, cũng do tích này trầu và cau trở thành của
sính lễ cầu hôn bắt buộc trong phong tục người nước
mình.
g.7.
Sự tích tục xâm mình
Thời vua Hùng, dân ở núi xuống nước đánh bắt
cá thường bị loài thuồng luồng làm hại, bèn cùng nhau
tâu lên vua, vua phán: “Các giống ở trên núi khác với
giống loài ở dưới nước. Các loài ở nước chỉ ưa những
gì giống với mình và ghét những gì khác mình vì vậy
dân ta mới bị gây hại.” Nói rồi vua ra lệnh cho những ai
xuống nước phải lấy màu xâm lên mình hình giống thủy
quái. Từ đó không bị thuồng luồng làm hại nữa. Tục vẽ
mình của dân Việt có từ đó.
h. Thơ
sử
Bài
thứ 1 là bài thơ treo ở điện Thái hoà hoàng cung Huế,
không rõ tác giả nhưng qua khẩu khí và bố cục bài thơ
có thể đoán đó cũng là bài thơ của Phạm-sư-Mạnh tác
giả của bài thứ 2 và thứ 3 ở thế kỷ 14 đời Trần.
Bài
thơ sử số :1
Văn hiến thiên niên quốc
Xa thư vạn lý đồ
Hồng bàng khai tịch hậu
Nam phục nhất Đường Ngu
Bài
thơ sử số :2
Nghỉ thuyền hà thạch tố
thanh ba
Lũng lại tranh nghênh xứ
Bái qua
Lô thủy phân ly Thao tục
Lạc
Văn lang nhật nguyệt Thục
sơn hà
Bài
thơ sử số :3
Thiên khai địa tịch lộ Tam
giang
Kỳ nguyệt tư du ngũ vị
tằng
Kiểu ngoài Bách Man hoàn Cổ lũy
Quốc Tây cự chấn tráng
Chân Đăng
Những vần thơ
ngắn ngủi này đã cô đọng cả lịch sử họ HÙNG thời
trước công nguyên , chúng ta sẽ tuần tự ‘giải’ từng câu
từng chữ trong phần sử thuyết .
(còn
tiếp...)
Bài đã đăng:
Sử
thuyết họ HÙNG (bài
1)
Trở về Trang Chính
|