|
Sai
lầm lớn nhất của các sử gia Hán tộc là kết cấu lịch
sử dân tộc – quốc gia mình một cách máy móc thiếu biện
chứng, bỏ quên yếu tố thời gian.
Lãnh thổ Trung Hoa tới điểm “hạn” khoảng đầu
công nguyên, tức là mốc thời gian mà lãnh thổ không thể
trương nở tự do được vì nó tiến đến một đường biên với
các dân tộc, quốc gia khác, từ điểm này sự xê dịch biên
giới luôn là kế quả của một cuộc chiến, với Trung Hoa
từ mốc lịch sử này các cuộc chiến tranh thôn tính lẫn
nhau giữa Hán tộc và lân bang đều được ghi vào sách sử.
Ta thử làm một con tính đơn giản, dân số Trung
Hoa đời Tần khoảng 20 triệu người, 2000 năm sau là 1.200
triệu người tức tăng 60 lần, lấy tỉ lệ này ước tính
dân số nhà Hạ trước Tần 2.000 năm, vương triều đầu tiên
trong Tam Đại của Trung Hoa, thì dân số cao lắm cũng chỉ
dưới 500.000 người; với số dân như vậy dàn trải trên
diện tích gần bằng diện tích Trung Hoa ngày nay là điều
không thể có. Lý do rất đơn giản là điều kiện vật chất
kỹ thuật không cho phép, với phương tiện lưu thông chính
là đôi chân thì không thể có một nhà nước mà lãnh thổ
rộng tới vài triệu ki-lô mét vuông bao gồm 9 châu: Duyện,
Ký, Thanh, Từ, Dự, Kinh, Dương, Lương, U như đã ấn định
trên bản đồ Trung Hoa cổ; các sử gia Hán tộc đều thành
thực tin rằng lãnh thổ Trung Hoa to lớn như thế vì cổ
sử Trung Hoa từ thời vua Chuyên Húc (2513 –n 2345 trước
CN), đời vua Nghiêu (2357 trước CN) thậm chí cả đến đời
Thần Nông, một vì vua của truyền thuyêt xa xôi lắm, lãnh
thổ Trung Hoa đã tiếp giáp với Giao Chỉ hay Giao Châu,
cũng có sách chép là Nam Giao tức lãnh thổ Việt Nam
ngày nay.
Sử gia Hán tộc đã sai lầm khi tạo nên một
lịch sử không có sự phát triển, quốc gia cũng chỉ là
một cơ thể sống, có sinh ra, có lớn lên rồi tới điểm
dừng hay hạn. Cũng như con người sinh ra chỉ khoảng 2 – 3
kg lớn lên tới độ 23 – 25 tuổi là điểm dừng thì nặng
khoảng 50 – 60 kg, còn “Hán Quốc” mới khai sinh đã to
bằng tuổi 20 – 25, đã có 9 châu mênh mông thiên địa ….
đúng là thần nhân trong thần thoại….
Như vậy làm sao ta có thể lý giải một việc
rất nhất quán trong cổ sử Trung Hoa. Liên tiếp từ thời
Thần Nông tới Chuyên Húc và sau là vua Nghiêu …, kinh Thư,
Thiên Nghiêu Điển viết: “vua Nghiêu mệnh hy thúc trạch Nam
Giao…” Nam Giao, Giao Chỉ là một địa danh, một vùng đất
đã có từ thời Thái cổ trong lịch sử Trung Hoa và liên
tục cho đến đời Tống; vua Tống vẫn phong cho vua Đại
Việt là: “Giao Chỉ Quận Vương” trước khi nâng cấp lên “An
Nam Quốc Vương”, sự việc đó chỉ cách nay một ngàn năm
và được ghi chép rõ ràng trong sách sử. Tìm lời giải
đáp cho câu hỏi hóc búa nhưng kỳ thú này dẫn dắt đến
một sử thuyết, và khi sử thuyết này được minh chứng sẽ
làm đảo lộn toàn bộ lịch sử Trung Hoa, Việt Nam và Đông
Nam Á.
Chính sử Trung Hoa đều cho rằng thủy tổ dân
tộc mình là Bào Hy, Thần Nông. Thần Nông là kết cấu
ngôn ngữ Việt, nếu theo Hán ngữ phải viết là Nông Thần;
đây không phải là trường hợp duy nhất vì ta gặp nhiều
trường hợp như thế trong Ngũ Kinh, như: Đế Ất, Hậu Tắc,…
Hậu Nghệ, V.v… Vậy các vua này là vua Việt hay vua Hán?
Thêm vào đó các địa danh của Trung Hoa đầy dẫy ngôn ngữ
Việt, như: Hồ Nam, Hồ Bắc, Sơn Đông, Sơn Tây, … Hán tự
dùng ‘sơn hà’ là ‘núi’ và ‘sông’ để chỉ lãnh thổ quốc
gia, như sông phương bắc, sông phương nam, núi phương tây,
núi phương đông, … vậy theo Hán ngữ phải ghi là Bắc Hà,
Nam Hà, Đông Sơn, Tây Sơn …, còn Hà Bắc, Hà Nam, Sơn Đông,
Sơn Tây là kết cấu theo Việt ngữ?
Lịch sử về văn minh
Trung Hoa cũng có một số điểm mà ta không hiểu nỗi.
“Thời nhà Hạ (2200 trước CN) người dân đã
biết ‘tát nước vào ruộng’…” rõ ràng câu này chỉ sự
canh tác lúa nước; nước là điều kiện đầu tiên trong:
“nước, phân, cần, giống” mà nền khoa học nông nghiệp
Việt Nam đã tổng kết từ xa xưa; nước quan trọng đến nỗi
“việc dẫn thủy nhập điền” được coi như một thành tựu
khoa học, phản ánh trình độ văn minh của một dân tộc.
Sự việc này khó hiểu ở chỗ: lãnh thổ nhà Hạ ở vùng
Hoàng Hà (theo chính sử Trung Hoa) đâu có trồng được lúa
nước … cây được trồng chính ở miền Bắc Trung Hoa là kê
và lúa mì. Các chứng cứ về khảo cổ học và các ngành
khoa học khác như nông học, thổ nhưỡng đã xác định như
vậy.
Ngày nay qua các di chỉ trong lòng đất, ngành
khảo cổ học đã xác định được nơi sinh tụ thời cổ xưa
của Hán tộc là bờ sông Hoàng Hà. Hán tộc là tộc
người xây dựng được nền văn minh rất sớm, họ đã bước
vào thời gọi là văn hóa gốm đỏ cách đây khoảng 8.000
năm, địa bàn của họ dịch chuyển từ tây sang đông dọc
theo sông Hoàng Hà với các nền văn hoá gốm đỏ, gốm đen,
rồi gốm xám. Vùng đất từ Thiểm Tây tới Hà Nam ngày
nay. Vào đời Thương lãnh thổ Trung Hoa là vùng đất nằm
ởgiữa
4 tỉnh: Hà Nam – Hà Bắc – Sơn Đông – Sơn Tây. Qua đời Chu
thì chuyển về vùng Sơn Tây ngày nay, theo đó ta có thể
xác định Hán Quốc cổ là quốc gia lục địa chưa tiến
đến bờ biển; nhưng sử Trung Hoa lại ghi: “Từ đời Thương
dân Trung Hoa đã biết dùng vỏ sò làm tiền để trao đổi
hàng hóa…”, nên trong Hán tự đã cấu thành bộ ‘bối’
nghĩa là ‘vỏ sò’, ‘vỏ hến’ để tạo nên các từ liên quan
đến việc giao thương, buôn bán … nhưng dân sinh sống sâu
trong lục địa thì lấy vỏ hến, vỏ sò ở đâu ra?
Sử Trung Hoa cũng ghi là vào đời Thương đã
biết dùng voi trong chiến trận …, nhưng lãnh thổ nhà
Thương ở vùng sông Hoàng Hà thì làm gì có voi, voi Á
Châu chỉ sống ở miền xích đạo và nhiệt đới, … không lẽ
sử Trung Hoa sai lầm lớn đến thế?
Hai loại “vật liệu” nền tảng của văn hóa Trung Hoa là
mai rùa và tre đều không phải là sản vật tự nhiên của
miền Bắc Hoàng Hà. Người ta đã đào được ở An Dương
thuộc phần Bắc Hoàng Hà thuộc tỉnh Hà Nam, hàng vạn
mai rùa và xương thú có khắc “Hoa tự” cổ và coi đây là
căn cứ để xác định trung tâm văn minh Trung Hoa … nhưng ở
miền Bắc Hoàng Hà không hề có loại rùa lớn đó sinh
sống, khoa học đã chỉ rõ như thế; loại rùa có mai lớn
để khắc chữ chỉ sinh sống ở sông Dương Tử hay Trường
Giang. Lại nữa, Dịch Lý vào đời nhà Thương được gọi là
Qui Tàng Dịch là sách dịch được khắc trên mai rùa (qui =
rùa; tàng = chứa). ta có thể giải thích hợp lý sự
việc trên là nhà Thương trước khi chuyển về lưu vực
Hoàng Hà đã có thời gian sinh tụ ở lưu vực Dương Tử hay
Trường Giang và chính là ở đấy đã phát minh ra “kỹ
thuật” khắc chữ trên mai rùa; sau này dù di chuyển đến
địa điểm mới vẫn về chốn cũ đem mai rùa đi để sử
dụng. Tương tự, tre có hàng trăm loại khác nhau; nhưng tre
lớn, bản đủ rộng làm thành các thẻ để viết chữ và
kết thành sách chỉ có ở vùng xích đạo và nhiệt đới,
ngay cả ở Tứ Xuyên nằm trong vùng bình đới, cũng chỉ
có loại tre lớn nhất gọi là tre đực hay tầm vông; thì
nhà Chu ở Sơn Tây làm gì có tre lớn để làm sách, viết
chữ? Đối chiếu sinh cảnh thực sự cộng thêm nghiên cứu
qua ghi chép trong Kinh Thư, Kinh Thi, và Kinh Dịch ta thấy
không thể xaỊ̃y
ra được. Thí dụ: Đại Tượng Truyện của Quẻ Dự trong
Kinh Dịch chép: “Sấm nổ trên đất, Tiên Vương dĩ tác
nhạc, Sùng Đức ân tiến chi Thượng Đế dĩ phối tổ khảo…”
Quẻ Dự là Quẻ Chấn chồng trên Quẻ Khôn trong quẻ gọi
là Địa; Quẻ Chấn là sấm, sấm nổ trên đất là chỉ dẫn
Chấn trên Khôn, nhưng cũng giúp ta hình dung cảnh đánh
trống đồng. Trống đồng còn gọi là trống sấm, Quẻ Lôi,
khi đánh úp trên mặt đất là Địa, âm thanh trống đồng là
nhạc tế lễ, ở đây nói rõ là tế Thượng đế và sùng
kính tổ tiên. Một quẻ nữa là Quẻ Tiệm nói đến ‘vũ
nghi”, một nghi thức mà người tham gia lễ hội hóa trang
bằng lông chim, một cảnh được khắc hoạ rõ nét trên
trống đồng. Dựa trên chính sử thì chắc chắn nhà Chu
chưa hề biết đến trống đồng, vì trống đồng chỉ tìm
thấy ở Việt Nam và 2 tỉnh Vân Nam – Quảng Châu của Trung
Hoa, cách Sơn Tây xa lắm. Hiện nay cách nhà nghiên cứu
Trung Hoa đã phải công nhận trống đồng là vật phẩm văn
hoá phi Hán, vậy tại sao hơn 2.000 năm Kinh Dịch đã biết
về trống đồng, chỉ dẫn cho ta về mục đích sử dụng
trống đồng (tế Thượng đế)? Cũng như đề cập đến tục
hoá trang được khắc trên trống đồng?
Dù vua
Càn Long nhà Thanh đã tốn không biết bao nhiêu tiền để
mua sách và bản đồ, mất bao công sức để tịch thu sách
và bản đồ trong thiên hạ và hơn 300 quan “bác sĩ” cạo
sửa suốt 10 năm trời, sửa không nỗi thì đốt cho phi tang
tích, nhưng vẫn bị lọt sổ:
Sách
Ngự phê Thông giám Tập Lãm và Thiếu vi Thông giám, quyển
Chu Ngoại Kỷ có đoạn chép (Lê Văn Siêu dịch – Việt Nam
Văn Minh Sử) như sau: “Cách 1.000 năm, đến năm Tân Mão là
năm thứ 6 đời vua Thành Vương nhà Chu, phía nam Giao Chỉ
có người ‘Việt Thường’ sang Trung Hoa dâng bạch trĩ, qua
2, 3 lần thông ngôn nói rằng ‘đường xá xa xôi, non sông
cách trở sợ rằng một lần thông sứ không hiểu tiếng nhau
cho nên phải qua 3 lần thông ngôn để sang chầu’. Chu Công
đáp lời: ‘Đức trạch không khắp tới nơi, người quân tử
không nhận lễ sơ kiến, chính lịch không khắp tới nơi,
người quân tử không nhận người ấy xưng thần.’ Người thông
ngôn nói: ‘Tôi vâng mệnh những ông già (bô lão) nước tôi
bảo: ‘Trời không gió dữ, mưa dầm, bể không sóng nổi đã
3 năm, hẳn là Trung Hoa có thánh nhân, sao không sang
chầu.’ Chu Công đem dâng cho vua nhà Chu, để dâng lên thần
linh của tiên vương, rồi đem dâng Cung điều. Đến khi sứ
giả về, quên mất đường, Chu Công cho 5 cỗ biền xa, bốn
mặt có diềm che đều làm cách thức chỉ nam, sứ giả đi
xe ấy từ đường bể (sau này) là nước Phù Nam ở cõi đất
Cao Miên, thời xưa là Lâm Ấp, đầy năm trời mới về đến
nước (Việt Thường)”.
Sách
Thiếu Vi Thống Giám, chú giải: “Việt Thường là ‘Nam
phương quốc danh, tại Giao Chỉ nam’”, có thể dịch là “tên
nước nam phương, (một nước) ở phiá nam Giao Chỉ” Trong
đoạn trích dẫn trên có nhiều điều phải bàn như tên
nước, phương hướng nhưng điểm chính yếu thứ nhất ta cần
xem xét: nhà Chu ở đâu mà sứ lại xuống thuyền về nước
ở biển (sau này là) Phù Nam, Cao Miên? Rõ ràng là nhà
Chu không thể ở Sơn Tây cách xa biển Phù Nam ít nhất
3.000 km. Thứ hai ta xét: nước Việt Thường không thể ở
gần Cao Miên mà ở rất xa vì đi thuyền một năm mới tới.
(Sách sử hiện nay cho là miền Trung Việt Nam trước đây
là Việt Thường). Tới đây ta lại phải thêm một câu hỏi:
Việt Thường là nước nào và ở đâu?
Thêm một vấn đề nữa:
Sử
Trung Hoa viết về nhà Tần như sau: Nhà Tần chọn cho mình
đức Thủy là đức đã thắng nhà Chu đức Hoả, màu đỏ, và
nhà Tần chọn cho mình màu đen, từ ngựa tới cờ quạt
đều màu đen.
- Số
6: cái gì cũng số 6, trục xe 6 tấc, xe vua do 6 ngựa
kéo.
Tháng
chọn là tháng 10, bắt đầu mùa đông, ở đây rõ ràng sử
gia Trung Hoa đã vận dụng Dịch Lý vào sử, ta hãy xem:
Nếu
nhà Tần chọn Hành Thủy, màu đen, số 6, mà ở Thiểm Tây,
Tứ Xuyên, nhà Chu không thể ở nơi nào khác ngoài Vân Nam
– Quí Châu – Quảng Tây (xin xem bản đồ) tức là ở phía
nam Tứ Xuyên, Thiểm Tây vì sử ghi rõ nhà Chu: đức Hoả,
màu đỏ (Thực ra thì nhà Chu không phải đức Hoả và màu
đỏ; sử học Trung Hoa đã cố gán ép các nguyên lý của
Dịch học vào lịch sử đời Tần để phục vụ cho mục đích
của họ, về mục đích của họ sẽ có phần xem xét ở
phần sau; còn về nhà Chu thì đích thực ở phương Tây nên
thuộc hành Kim, màu trắng).
Bản đồ Trung Hoa thời Xuân Thu Chiến Quốc chắc
chắn không phải do người Trung Hoa lập, lý do đơn giản
trong bản đồ thời này ngoài: Vị Thủy, Hoài Thủy, Kỳ
Thủy, V.v…(tức là Sông Vị, Sông Hoài, Sông Kỳ, V.v…) lại
còn có cả: Hà Thủy và Giang Thủy … 2 con sông chính của
Trung Hoa. Hà và Giang là gì? Không lẽ người Trung Hoa
không biết điều rất ư là đơn giản đó mà còn thêm chử
Thủy vào; chỉ có người không phải là người Trung Hoa
tưởng là tên riêng nên mới thêm chữ Thủy vào để chỉ con
sông, hay do bởi không phải là tiếng mẹ đẻ của mình nên
họ mới sơ xuất do quán tính và cẩu thả khi định danh
nên mới có tên 2 con sông kỳ khôi là: “Sông …… Sông” (Giang
= sông và Hà = sông).
Còn một thực tế khó giải thích nữa: Sông
Dương Tử hay Trường Giang được coi là mốc phân ranh Bắc –
Nam của Trung Hoa, theo chính sử thì trước thời Xuân Thu
Chiến Quốc Trung Hoa chưa biết đến miền Nam, khảo cổ học
đã xác định dân miền Hoa Bắc thuộc về chủng Mongoloit,
còn Hoa Nam thuộc ngành Mongoloit phương Nam, cứ theo lịch
sử thì từ Bào Hy, Thần Nông, Hoàng Đế, Hạ Vũ, Thành
Thang … tất cả là người Mongoloit cùng chủng với Mãn,
Mông, Kim, Liêu V.v… Như thế sẽ có một hệ quả là: những
người mang đặc điểm nhân chủng nam Mongoloit không
phải là người Trung Hoa? hay, họ bị diệt quốc và bị
đồng hoá thành người Trung Hoa? Điều này thật khó nói
vì chính họ lại là dân “đa số” ở Trung Hoa hiện nay, và
đối với người Trung Hoa huyết thống là điều cực kỳ quan
trọng, không có chuyện họ gọi người khác giống là tổ
tiên được; ở đây cũng không thể có sự lầm lẫn, sự thực
này không thể lý giải cách nào khác hơn là lịch sử
Trung Hoa hiện nay là sai.
Đọc sử Trung Hoa ta thấy
còn nhiều bất hợp lý:
Sau khi thống nhất Trung Hoa và lên ngôi, Tần
Thủy Hoàng phái đại tướng Mông Điềm đem 30 vạn quân vượt
Hoàng Hà chiếm vùng Hà Sáo lập thành 44 huyện; Hà Sáo
là phương bắc của Hoàng Hà, sáo
biến âm của siu nghĩa là nước, phương nước của dich lý
là phương bắc ngày nay theo chính
sử là đất của 2 nước Yên và Triệu, mà Yên và Triệu đã
bị Tần diệt quốc có nghĩa là đất của Tần; thì Hung Nô
đi lối nào mà vào tận Hà Nam. Thời Chiến Quốc không có
một dòng sử nào nói đến việc có chiến tranh giữa
Triệu và Yên hay Tần với Hung Nô, có một chi tiết nhỏ
nữa trong sử ký của Tư Mã Thiên là tướng Mông Điềm sau
khi chiếm được Hà Sáo đã cấm dân ở đấy thờ ….. (1 chữ
đã bị xóa), dù chữ bị xóa là chữ “Phật” hay là gì đi
nữa thì cũng nói đến một điều: dân ở Hà Sáo có tôn
giáo khác với dân Trung Hoa nên Mông Điềm cấm; như thế họ
không thể là dân nước Yên hay nước Triệu được, hay nói
khác đi họ là ngoại nhân, hay là vùng bắc Hoàng Hà mà
Tư Mã Thiên gọi là Hà Sáo đó không phải là đất của
Yên, Triệu; suy rộng ra là trước thời Chiến Quốc, bắc
Hoàng Hà không thuộc về Trung Hoa.[trừ
1 vùng đất nhỏ gọi là HÀ NỘI ở bắc hà nam]
Sử ký của Tư Mã Thiên
còn ghi một việc nữa khiến người đọc không hiểu được:
“Tần
Thủy Hoàng sai làm một con đường từ ‘Cửu Nguyên’ chạy
suốt đến ‘Vân Dương’ … sau đó sai đắp đá ở đất ‘Cử ’
thuộc Đông Hải làm cửa phía đông của Tần. Kinh đô của
Tần ở tận Thiểm Tây bên bờ sông Vị gần với sa mạc tây
bắc Trung Hoa, thì lấy biển ở đâu ra mà đắp đá làm cửa
biển phía đông?
Liên quan đến lãnh thổ Việt Nam sử ký cũng
có một đoạn không thể hiểu nỗi: Lãnh thổ của Tần khi
thống nhất Lục Quốc thì phía Nam đã đến miền “Bắc
Hộ”… tức là miền nhà có cửa quay về hướng Bắc ý nói
đã vượt qua xích đạo quá về phương Nam nên nhà mở cửa
quay về hướng Bắc để đón ánh mặt trời. Các nhà nghiên
cứu đều đồng nhận: miền “Bắc Hộ” là miền Trung Việt
Nam ngày nay; như thế Việt Nam đã nằm trong lãnh thổ của
Tần, vậy sao còn phái tới 50 vạn quân … đánh chiếm và
lập thành 3 quận: Nam Hải, Quế Lâm, và Tượng Quận?
Qua rất nhiều sự việc trên đã đến lúc ta
mượn kết luận của những nhà nghiên cứu khoa học lịch
sử và khảo cổ học Trung Hoa đưa ra một hướng nhìn mới
rất táo bạo về đất nước và dân tộc Trung Hoa.
Những hình khắc cảnh lễ hội, sinh hoạt trên
trống đồng hoàn toàn đồng nhất với những gì mô tả
trong Cửu Ca, có nghĩa là dân tộc có cảnh lễ hội
được khắc trên trống đồng và được mô tả trong Cửu Ca
là 1,
nếu Cửu Ca, Sở Từ của dân “trống đồng” thì đương nhiên
Kinh Thi và Ngũ Kinh cũng của dân “trống đồng”. Và cũng
chính những nhà khoa học Trung Hoa này đã xác định:
“Trống đồng là vật phẩm văn hoá phi Hoa (Hán) và là
sản phẩm của những dân tộc ít người ở cực nam Trung
Hoa”, đó là các dân tộc Tày, Thái, Liêu, hay Di Lão và
vài dân khác… như vậy là đã thừa nhận chính những dân
tộc ít người này mới là chủ nhân của Kinh Thi, mà đã
là chủ nhân của Kinh Thi thì dĩ nhiên cũng là chủ nhân
của Ngũ Kinh đồng nghĩa là chủ nhân của toàn bộ văn
minh cổ của Trung Hoa.
Chúng ta ai cũng biết Việt Nam là 1 trong 3
trung tâm của nền văn minh trống đồng, thậm chí có thể
là trung tâm lớn nhất nữa. kết luận như vậy có quá vội
vã không? Không đâu, cách đây vài chục năm học giả Henre
Maspréso khi
nghiên cứu về sinh hoạt lễ hội và phong tục tập quán
của người Thái ở Việt Nam phải thốt lên: chắc chắn tổ
tiên người Thái và người Trung Hoa cổ là một. Chỉ tiếc
là nhận định của ông không được quan tâm và đào sâu thêm.
Trước năm 1975, có một người
dũng cảm lội ngược dòng đó là Linh mục Giáo sư Lương
Kim Định, bằng kiến thức uyên bác và trực giác vô cùng
bén nhạy ông đã dày công nghiên cứu và xuất bản cả một
tủ sách về văn minh và nguồn gốc người Việt Nam… nhưng
cũng chỉ là tiếng kêu trong hoang mạc… Thực may mắn
trong 10 năm gần đây ngày càng nhiều người can đảm làm
việc “đội đá vá trời” đó là Nguyễn Hồng Sinh với “Kinh
Dịch Phục Hy huyền diệu và ứng nghiệm” xuất bản năm
2003, là Nguyễn Vũ Tuấn Anh với “Tìm về cội nguồn Kinh
Dịch” xuất bản năm 2002, là Nguyễn Thiếu Dũng, là Trương
Thái Du với hàng loạt bài viết ngắn …,ở
ngoài nước cũng có nhiều nhà nghiên cứu đang chú ý
tới vấn đề này Tất cả nhằm tìm
ra nguồn gốc đích thực của người Việt Nam và văn minh
Việt Nam, dù còn nhiều nhận định, kiến giải khác nhau,
nhiều chứng lý chưa đủ trọng lượng, kết luận chưa hiển
nhiên, chưa đủ sức thuyết phục, nhưng ít nhất công sức
của các vị trên cũng đã có kết quả, tạo nên sự khởi
động để nhiều người vào cuộc, số người tham gia việc
“đội đá vá trời” ngày càng tăng, cứ như thế tăng lên
mãi thì chắc chắn có ngày “vá được trời”.
Trở về Trang Chính
|