|

6 . Hùng
triều thứ 6 : Hùng Hy
Vua khai sáng : – Viêm Lang
hay Viên lang
Danh hiệu khác trong Việt sử : Hùng
anh vương – Đế Nghi
Danh hiệu khác trong Hoa sử : Nghiêu
đế, Đường Nghiêu
Quốc hiệu :Hồng bang
Niên đại (2879 năm trước CN)
Hùng Vũ – Đế Minh truyền ngôi vua cho con
trưởng là Đế Nghi và phong cho Lộc Tục là “vương” phương
Nam… đó là những thông tin của truyền thuyết lịch sử
Việt Nam:
Âm ‘Hy’ trong Hùng Hy xuất phát từ âm gốc
là số hai - 2 trấn phương Bắc của Hà thư.
Hai→ hải-hà-hạ-hè-hồ-hời-hoa-huy
Tương tự, âm ‘Lục’ là đất và số 6, cũng
có cả 1 hệ biến âm:
Lục→ lộc-lạc-lịch-nác-nước
.Triều đại Hùng Hy – Viêm Lang có 2 vương
được truyền thuyết lịch sử Việt Nam nói tới:
Đế Nghi – nối ngôi Đế Minh
Đế Lai – con của Đế Nghi, là cha của bà Âu
Cơ.
Ta có âm Lửa→ -La-ly-lý-lê-lô-lai-lão
Trong Hoa ngữ số 2 còn gọi là ƠN hay ÔN và
biến âm thành an,ân,yên,anh ... tiếng Việt là ấm
nên triều Hùng Hy còn được gọi là Hùng Anh vua khai sáng
là Viêm lang, các từ : hy-hai, anh-ấm, viêm-nhiệt ,ly –lai
đều liên quan tới chữ LỬA chỉ vùng nhiệt đới-xích đạo
tức phương bắc của Hà thư, đất ở đấy tên là đất Đào
và khi trung tâm quốc gia ở đất Đào thì quốc hiệu nước
ta là Hồng bang, tất cả các từ dùng cho triều Hùng Hy
đều là các đặc tính của quẻ LY như : lửa,sáng , nóng
bức, màu đỏ.v.v.; người Hời ngày nay là con
cháu chính dòng Hùng Hy.; nước lập trên đất ấy
thời xuân thu- chiến quốc là nước Yên, cổ sử
trung hoa thường gọi con cháu Hùng Hy là người Di-lão,
từ lão ta đã biết còn Di chỉ là biến âm của chữ
nhị-nhì hay số 2 mà thôi, loài thú làm biểu tượng dân
tộc là con HỔ, hổ cũng chỉ là biến âm của chữ hoả
nghĩa là lửa đúng theo điểu thú văn mà ta đ̣ã từng nói
đến.

Đế Lai được biết đến là cha của Âu Cơ,
trong truyền thuyết Âu Cơ – Sùng Lãm. Về niên đại thời
Hùng Hy Vương – Viêm Lang có thể ước đoán là thời kỳ
đầu của đợt biển tiến Holocen Trung vào khoảng sau 3.000
năm và trước 2.000 năm trước Công nguyên.
Truyền thuyết Việt nói Kinh dương vương
không lên ngôi đế vì nhường cho anh....nhưng cổ sử Trung
hoa lại nói khác : Sở dĩ đế Nghiêu có hiệu là Đường
Nghiêu vì trước khi lên ngôi vua có tước hiệu là Đường
vương hay vương đất Việt- thường, ta thấy Đường vương chỉ
là cách gọi khác của Kinh dương vương mà thôi...
Đế Nghi có công rất lớn khi cùng Thuấn đế
mở mang bờ cõi về phương nam...chỉ một câu ngắn gọn ...
“mệnh hy Thúc trạch Nam giao...” so ra bằng hàng mấy trăm
năm mồ hôi đổ và có thể là cả máu để tạo cho con cháu
mảnh đất Nam giao ...( ở đây phải thêm vào chữ “chỉ ”
mới trọn nghĩa cho câu) tức đất lĩnh nam ngày nay.,ở đây
là phương Nam xưa theo dịch lý ngược với hiện nay.
Người La như ta đã biết chính là
người Chàm hay Chăm còn gọi là Hời hiện
vẫn còn giữ cả 2 tập tục cổ xưa của con cháu Hùng
vương là nhuộm răng ̣đen và ăn trầu, ăn trầu là đặc điểm
rất quan trọng để nhân diện dòng giống khi xét theo ý
nghĩa của tập tục này mà ta đã nói đến ở phần trước
khi bàn về sự tích trầu cau : đấy là qủe Ly và Hồng
bang hay bàng và chính là những dấu tích của cộng đồng
người họ Hùng thuở ban sơ đã ghi trong sử sách.
Lưu ý : Lịch sử nước ta có 2 thời kỳ
khác biệt hẳn nhưng lại trộn lẫn nhiều chi tiết đôi khi
người đọc không hiểu nổi :
*- Thời dựng nước truyền thuyết lấy Hà
thư làm chuẩn trong đó số 2 trấn phương Bắc (xích đạo ),
số 6 trấn phương Nam . Do tính chất các dịch tượng nên :
-số 2 gắn liền với các thông tin :
qủe Ly, đất Đào, Hồng bang, triều Hùng Hy
-số 6 gắn liền với :
Quẻ khảm hay Cóng, đấ́t Việt thường hay
Đường, Nam bang, Kinh dương vương.
*- Thời Vương quốc cổ sử dùng Lạc đồ làm
chuẩn số 2 chuyển về góc đông –bắc xưa theo dịch lý còn
số 6 chuyển về góc đông –nam.

Nhưng các biểu thị của số 2 và 6 vẫn giữ
nguyên nên ta có tới 2 đất Đào, 2 Hồng bang, 2 đất Việt
thường hay Đường và 2 Kinh dương vương.
Khi gặp các thông tin trên phải cẩn thận
xem thuộc thời kỳ nào như :
- Hồng bang 1 là tên nước thời lập quốc
khi trung tâm quốc gia ở đất Đào , triều Hùng Hy.
-Hồng bang 2 là quốc hiệu thời triều Hạ
vương hay Hải lang- Linh lang , còn gọi là nước THAO.
- An dương vương xây thành ở đất Việt
thường thì đó là Việt thường 1 ở bắc Việt ngày nay.
- nước Việt thường cống chim trĩ cho nhà
Chu là Việt thường 2 ở vùng Trường giang.
Nếu không phân định được thì có những
tình tiết lịch sử đầy mâu thuẫn khiến ta không tài nào
hiểu nổi .
*****
7 . Hùng
triều thứ 7- Hùng Thuấn
Vua khai sáng : Lâm lang.
Danh hiệu khác trong Việt sử : Hùng
Quốc Vương –Hùng Lạc vương-Nam triều thánh tổ ngọc hoàng
thượng đế-Nam bang triệu tổ.
Danh hiệu khác trong Hoa sử : Thuấn
đế- Ngu thuấn
Quốc hiệu là : Nam bang ,Lạc quốc,
Bách Việt đại liên bang
Niên đại : hơn 2200 trước CN
Phương Nam (Nam của Dịch Lý là phương ngược
với Nam của thời nay), các mã tin Dịch Lý của phương Nam
là: màu đen, hành Thủy, phương 1 / 6 của Hà Thư.
Nguyễn Hồng Sinh đã viết trong “Kinh Dịch
Huyền diệu và Ứng nghiệm”: danh hiệu Hùng Thuấn Vương
còn trong ‘Hùng Vương Thập Bát Chi Thế Truyền’ và các tư
liệu khác thì ghi là Hùng Quốc Vương .
Trong Việt ngữ chữ Nước có 2 nghĩa :
- nước là loại chất lỏng nền tảng cấu
tạo nên mọi sinh vật.,dịch lý dùng chỉ phương nam đối
nghịch với phương lửa ở hướng xích đạo.
-nước là Quốc gia
Theo Hà thư : phương nước cũng là phương nam
như ngôn ngữ ta dùng ngày nay, Nam bang cũng là ‘Nước’
bang hay Lạc quốc.; lạc là biến âm của
:nước-nác-lạc.(nước vật chất).
Hùng quốc vương là chữ dịch lầm của từ
Hùng Lạc tức Hùng nước; người dịch đã lẫn lộn nghĩa
này sang nghĩa kia.
Như vậy từ “Nước” xưa là tên riêng của
nước ta khi trung tâm quốc gia chuyển về phương nam, quốc
gia Nước cũng là Nam bang hay Lạc quốc. Ban đầu là 1 danh
từ riêng về sau người Việt đã biến nước thành
danh từ chung đồng nghĩa với quốc gia , như vậy “Hùng
quốc vương “hay“Hùng Lạc Vương” nghĩa là vương của ‘quốc
gia Nước’ dòng họ Hùng ., ở Việt nam chỉ thấy có ông
Nguyễn Trãi nói đến nước Hùng Lạc này.
Ta tìm hiểu chữ ‘thuần’ để xác định danh
hiệu của vị vua này. Theo Hà Thư thì phương Nam (hướng
Bắc hiện nay) được biểu tượng bằng cặp số 1 / 6, số 1
này cho ta từ ‘thuần khiết’ hay ‘duy nhất’, như thế vua
Nam bang phải là Hùng Thuần không phải là Thuấn như sách
sử đã chép.. Hùng Thuần Vương còn được gọi là Lâm Lang;
lâm là biến âm của nam, phương Nam; nam
→
lam
→
lâm; Lâm Lang nghĩa là chúa đất phương Nam .
Chính sử Trung Hoa chép: “Kế vị Đế Nghiêu
là Đế Thuấn, Đế Thuấn còn được Đế Nghiêu gã 2 công
chúa là Nga Hoàng và Nữ Anh làm vợ. Tư liệu của Nguyễn
Hồng Sinh nêu tên vợ của Hy Thúc hay Hy Hòa là Nữ Hoàng
Anh, kết hợp 2 tư liệu này cho ta kết luận Đế Thuấn hay
Thuần (Hùng Thuần Vương) chính là Hy Thúc người đã vâng
mệnh vua Nghiêu “trạch Nam Giao” tức mở mang bờ cõi quốc
gia về phương Nam (Dịch Lý). Nhưng tại sao lại là Ngu
–Thuấn ? chỉ có dịch học mới mở được chữ Ngu này
:trong dịch học có cặp đối : con- thằng, cong- thẳng,
cong vòng – ngay thẳng, từ kép ngay thẳng biến âm ra:
-Thẳng→thàng→đàng→đường.
-Ngay→ngây→ngô→ngu.
Ta có 2 hình tròn và vuông là biểu tượng
của dịch lý, tròn tượng trưng cho trời, vuông tượng trưng
cho đất , tròn là nét cong vuông là nét thẳng, luôn luôn
tròn hoặc ở trên hoặc ở phương xích đạo tức phương bắc
, vuông ở dưới hoặc phương nam (xưa- theo dịch lý); từ Ngu
trong hiệu của Lâm lang là biến âm của Ngay trong ngay
thẳng chỉ phương Nam.
Đất giao nam hay đất Đường hợp với đất
mới khai phá là Nam giao (chỉ) thành đất LẠC hay LỤC=
số 6 phương nam của Hà thư.
Đất Nam giao về sau sử Trung hoa gọi là
đất Lâm (Nam→lam→lâm) có vị trí rất đặc biệt nằm giữa 4
vùng đất chính nên trong lịch sử đã nhiều lần bị tách
ghép:
- ghép với đất Đường hay Việt thường
thành “Đường lâm” quê của Ngô Quyền.
- ghép với đất Tượng ở phía tây thành
“Tượng lâm”.
- ghép với Qúy châu thành ra “Quế
lâm”.(Quý→Quế)
- ghép với Quảng đông thành “Nam hải”
(Nam=Lâm)
Trong ý nghĩa đất Nam giao (chỉ) ban đầu
chỉ là phần đất tây nam quảng tây về sau mở rộng thành
cả vùng lĩnh nam .
Thủ đô của Nam bang thời Hùng Lạc hay
Thuấn đế là Bồ bản ; từ Bản ở đây là danh từ chung
chính là chữ bản trong bản làng , Bồ bản đồng nghĩa
với làng Cả hay Đô ấp tất cả đều có nghĩa là thủ đô
hay kinh đô .
Quá tr̀inh mở nước hàng ngàn năm được tóm
gọn trong bài thơ 4 câu chưa rõ tác giả :
Văn hiến thiên niên quốc
Xa thư vạn lý đồ
Hồng bàng khai tịch hậu
Nam phục nhất Đường Ngu
Xin lược dịch :
Quốc gia văn hiến ngàn năm
Sách sử chở đầy xe,địa đồ vuông vạn
dặm
Sau thời Hồng bàng lập ngôi đế
Rộng mở nam cương ở triều Đường
Nghiêu-Ngu Thuấn.
Trong bài thơ này đặc biệt câu : Nam phục
nhất Đường Ngu ...nhiều bậc khoa bảng ̣đành chịu không
hiểu nổi....không lẽ các vua Đường Nhiêu Ngu Thuấn lại đi
mở nước về hướng nam cho người Việt ...? .Riêng chúng ta
trong sử thuyết họ Hùng này thì hiểu rất rõ ý nghía
câu thơ đó.
Đền Hùng là chốn linh thiêng bậc nhất của
người Việt tương truyền ngôi mộ ở đấy là mộ thật của
Hùng vương thứ sáu ; qua thiên khảo luận này có thể xác
định đấy là mộ của HÙNG LẠC VƯƠNG , người đời đã lầm
từ Lục là số 6 với từ LẠC là nác hay nước nên cho là
mộ của Hùng vương thứ sáu, chính câu “ Nam bang triệu
tổ” đã giúp ta khẳng ̣định ; triệu là biến âm của âm
gốc là “Chậu” tiếng Thái Lào nghĩa là ông hoàng hay
vương, đồng nghĩa với Chủ- chúa trong Việt ngữ., ‘Nam
bang Triệu tổ’ nghĩa là vua tổ của nước Nam cùng một ý
nghĩa với đạo hiệu :NAM TRIỀU THÁNH TỔ NGỌC HOÀNG
THƯỢNG ĐẾ của Hùng Thuần vương trong Hùng phả.
Thời Hùng Lạc có bộ lạc thuộc tộc Mun
bất phục bị Thuấn đế đuổi ra khỏi cõi Nam giao đày đến
miền Tam nguy từ đó gọi là Tam miêu , đất Tam nguy nay là
đông Qúy châu và tỉnh Hồ bắc Trung quốc.
Hán thư có 1 đoạn nói về Lạc Quốc như
sau: “ … con trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là
My Nương, quan văn gọi là Lạc Hầu, quan võ gọi là Lạc
Tướng, trăm quan gọi là Bồ Chính, dân khẩn ruộng lạc
theo nước triều lên xuống …” Do Hán văn không có dấu
chấm, phẩy nên nhiều người vẫn hiểu không đúng đoạn văn
này, nay ta thử nhìn theo hướng khác: không có ai là Quan
lang cả, giữa Quan và Lang phải có dấu phẩy, chính xác
phải hiểu là: con trai vua gọi là Quân, là Lang; Quân và
Lang là 2 từ thuộc 2 ngữ hệ nhưng cùng 1 nghĩa; tương tự
con gái vua gọi là Mẹ, là Nương chứ không phải là Mỵ
Nương. Lạc Hầu là quan văn của quốc gia “Nước”. Còn câu
“dân khẩn ruộng lạc …” nghĩa là ruộng nước, nhưng đây là
nước vật chất, 2 từ đồng âm nhưng dị nghĩa.
Dân tộc Việt tồn tại tới tận ngày nay,
vẫn gọi tổ quốc mình là “Nước” và nhận định mình là
người “Kinh” đủ thấy ấn tượng thời Hùng Lạc Vương in
đậm trong tâm thức con người đến chừng nào ,đã trên 4.000
năm trải qua bao cơn quốc nạn, sử sách bị tiêu hủy, bị
tráo đổi nhưng “bia miệng vẫn còn trơ trơ”. bất chấp
sự tàn độc và muôn vàn mưu ma chước qủy ta vẫn là ta
thuở nào
Dấu vết vật chất lưu tồn trong lòng đất
đã khai quật được từ núi rừng bắc Việt nam tới tận bờ
Châu giang và gọi là văn minh của người Tày cổ chính là
chứng tích thời Hùng Thuần hay Hùng Lạc này.
*****
8. Hùng triều
thứ : 8- Hùng Việt
Vua khai sáng :– Tuấn Lang
Danh hiệu khác trong Việt sử : Tản
Viên, Sơn tinh, Tản Viên sơn thánh quốc chúa đại vương,
Nguyễn Tuấn.
Danh hiệu khác trong Hoa sử : Đại
vũ, Hạ vũ
Niên đại : 2200 trước CN
Truyền thuyết về Sơn Tinh thì nhiều vô
vàn, nhưng rõ nhất là truyện Sơn Tinh – Thủy Tinh, tổng
kết ta có thông tin: Sơn Tinh là người đã chiến thắng
Thủy Tinh, ý nói đã thành công trong việc trấn áp cơn
hồng thủy khủng khiếp, tái tạo lại quốc gia, được Hùng
Vương gả con gái và truyền ngôi, Sơn Tinh Tản Viên lên ngôi
cũng lấy hiệu là Hùng Vương, đối chiếu với sử liệu
Trung Hoa ta nhận ra Sơn Tinh và ông Hạ Vũ là 1, cũng trị
thủy gian lao vất vả, cũng tận tâm tận lực đến 3 lần đi
qua nhà nghe tiếng con khóc mà không có thời giờ bước
vào nhà. Ngày nay, Sơn Tinh vẫn được dân chúng chung quanh
núi Ba Vì thờ với tên hiệu đầy đủ là: Tản Viên Sơn
Thánh Quốc Chúa Đại Vương. Trong dân gian, Sơn Tinh còn có
rất nhiều tên khác: Sơn Tinh – Tản Viên – Cao Sơn – Quí
Minh – Nguyễn Tuấn V. v… với các ‘thần tích’ khác nhau
đôi chút.
Danh hiệu Tản Viên là rõ nhất về ý nghĩa
nối dòng Hùng, dòng Tản Viên tiếp nối dòng
Hiên Viên, hay Hiền Vương chuyển tiếp sang Tuấn Vương
như thế rất rõ ràng trong việc liên tục quốc thống Họ
Hùng : Đế Minh
→
Đế Nghi
→
Đế Lai
→
dòng Tản Viên – Hạ Vũ .
Nguyễn Trãi có viết: “Hùng vương đặt tên
nước là Hùng Lạc là chỉ thời Hùng Vương thứ 8 này,
vương quyền nay chuyển sang con cháu Lộc Tục ở phương Nam
hay cõi Nam Giao…chỉ ” Nguyễn Hồng Sinh công bố trong “Kinh
Dịch Huyền diệu và Ứng nghiệm” một thông tin cũng rất
hay: “Kinh Dương Vương ở đây là Hùng Lạc Lâm lang được tôn
là ‘Nam Triều Thánh Tổ Ngọc Hoàng Thượng Đế’ và vợ
được tôn là ‘Đệ Nhị Thượng Ngàn Thánh Mẫu’.
Hùng Vũ Vương – Hiên Viên được tôn là “Vua
Cha Ngọc Hoàng Thượng Đế’
Hùng Việt Vương – Tản Viên được tôn là
“Tản viên sơn thánh quốc chúa đại vương” là sự tiếp nối
hợp lẽ dòng Hùng.
Truyền thuyết Sơn tinh Thuỷ tinh viết
:...nước càng dâng lên thì núi càng vượt cao hơn nữa...ta
chợt hiểu về ý nghĩa chữ Việt trong danh hiệu Hùng
Việt , Việt là ký âm từ Vượt của Việt ngữ , Vượt
lũ ...đợt biển tiến Holosen , một thảm họa khủng
khiếp mà cha ông ta đã kiên cường vượt qua sau cùng đã
chiến thắng tai trời ách nước tất cả những thông tin về
thời bi tráng ấy được cô lắng vào 1 nhân vật đó là
Hùng Việt – Tuấn lang; từ Tuấn là ký âm bằng chữ Nho
sai làm mất ý nghĩa chữ Tản trong Tản viên, Tản là tán
đồng âm với Tốn là 1 quẻ của bát quái nghĩa là gió
,Hoa ngữ là phong chỉ phương tây đối lập với phương động
- quẻ Chấn , Tản viên hay Tản vương đồng nghĩa với Tốn
lang (không phải Tuấn) nghĩa là vương của đất Phong hay
tây vương , Truyền thuyết Việt nói vua Hùng đóng đô ở
Phong châu chính là chữ Phong này,đất Phong hay phong kinh
của nhà Chu khi mới dựng nước cũng cùng một nghĩa ,
đất Phong cũng là nơi sinh trưởng của ông Lý Bôn- Lưu Bang
và 2000 năm sau nhà Đường lập Phong châu đô hộ phủ cũng
chính là chữ phong này.
Tóm lại Tốn lang là vương của đất Phong
tức đất phía tây của quốc gia tương tự như :
Viêm lang là vương phương bức (bắc).
Lâm lang là vương phương nam hay cõi Nam
giao.
Sau cùng kế nghiệp Tốn lang là Lung lang
hay Linh lang nghĩa là vương phương đông hay động mà ta sẽ
kể đến ở chương sau ; như thế đất nước đã trọn đủ 4
cõi.
Kinh Dương Vương chỉ nghĩa là vua hay Chúa
phương Nam hay phương Nước ngược với Viêm phương (phương
Dịch Lý) vì thế trong lịch sử có nhiều Kinh dương vương
như Lâm lang, Tuấn lang.v.v. trong truyền thuyết Đạo Giáo
Trung Hoa do không hiểu chữ ‘Hùng’ nghĩa là gì nên thời
gian tiếp nối người ta “bịa” ra điều rất ngộ nghĩnh …
sự kiện ông Vũ được truyền ngôi và trở thành Hùng Vương
… biến ra : ông Vũ hoá thành con gấu … theo Hán
ngữ ‘Hùng’ là con gấu; vợ của ông Vũ sợ quá chết hóa
ra hòn đá núi, chữ đá núi này chắc chắn có “gốc” là
chữ “Đồ Sơn”, tên vợ ông Vũ là “Đồ Sơn Thị”. ‘Đồ’ là
biến âm của từ đá, sơn là núi, qua 5, 7 lần dịch và sao
chép …. từ Đồ Sơn biến ra ‘Đá núi’ thì cũng không lạ
lắm.
Vua Vũ đã có lần hội chư hầu ở Côi kê...,
hầu hết các sách sử đều chép như thế chỉ riêng có ông
Trần trọng Kim trong Việt nam sử lược viết vua Vũ hội
chư hầu ở Đồ sơn ; xét kỹ ta thấy ông Trần trọng Kim
đúng vì lúc vua Vũ hội chư hầu làm gì đã có đất Cối
kê, cả hai ba trăm năm sau khi vua Vũ chết thì Thành vương
thời nhà Hạ trung hưng mới phong cho con thứ đất ấy làm
chốn riêng thờ vua tổ , sử còn chép rõ..: vua tôi cắt
tóc ngắn , xâm mình lội nước lao động cật lực khai phá
đất mới...., vì là đất dành riêng thờ vua Vũ hay Hùng
Việt nên gọi là nước Việt , thời Việt vương câu Tiễn
nước Việt đã hùng cứ cả 1 góc trời .
Khi hình thành nên tộc Kinh-Lạc dòng máu
người họ HÙNG đã là sự hòa huyết của 3 thị tộc gốc:
người dòng CẢ của phương bắc, người CỬU_LÊ của phương
tây, người MUN hay MIÊU của phương nước hay nam xưa tức
phương bắc ngày nay.
Truyền thuyết Việt nói : KINH DƯƠNG VƯƠNG
kết hôn cùng LONG _NỮ con ĐỘNG ĐÌNH QUÂN; thế là người
họ Hùng đã đi hết đoạn đường mà tạo hóa sắp đặt để
hòa thêm dòng máu thứ 4 vào huyết thống của mình dòng
máu của LONG tộc ở phương ĐÔNG, diễn biến này được
Truyền thuyết lịch sử Trung hoa viết :Vua ĐẠI VŨ lấy vợ
là ĐỒ SƠN THỊ, Đồ sơn thị là người con gái ở ĐỒ_SƠN ;
phải chăng chính là bãi biển Đồ sơn ở Hải phòng bắc
Việt hiện nay ? cổ thư trung hoa cũng nói họ KINH XUYÊN
và ĐỘNG ĐÌNH đời đời là thông gia..
Hùng Việt Vương – Tuấn Lang vẫn giữ quốc
hiệu là Nam bang hay Lạc quốc.
Ta nên chú ý về những từ đồng âm dị
nghĩa nếu không sẽ không thể hiểu khi đọc lịch sử Trung
Hoa vì trong cổ sử chứa rất nhiều Dịch tượng . Thí dụ:
cũng là từ Mun hay Man, khi dùng chỉ người Mông Cổ hay
Mãn thì có nghĩa là người phương Nam (phương của Dịch
Lý), vì phương Nam trong Ngũ Sắc là phương màu Đen là
Huyền Thiên. Còn khi dùng để chỉ định sự vật theo màu
sắc thật, thì ý nghĩa khác hẳn như gọi người Khmer là
người Miên, người Miến Điện là Môn ý nói họ có màu da
đen. Mun
→
Môn
→
Miên→Miến.
Núi thờ Tản Viên Sơn thánh là Núi Ba Vì,
truyền tích của Việt Nam theo các tư liệu dân gian mới
tìm được thì vua Hùng có 3 người con: Nguyễn Nghi Nhân,
Nguyễn Minh Khiết và Nguyễn Long Cảnh.
Trong bối cảnh cổ sử đó nhiều người cho
là:
Nguyễn Nghi Nhân là đế Nghi, Nguyễn Minh
Khiết là đế Minh như thế thì không ổn, gây ra sự lộn
xộn rối rắm vô cùng, Nguyễn Minh Khiết là vua Hùng lại
trở thành con vua Hùng …, đế Nghi là con cả vua Hùng lại
trở thành anh em sinh đôi của đế Minh tức vua Hùng
...thực không hiểu nổi. Ta có thể hiểu theo cách nhìn
mới hợp lý hơn: Nghi Nhân, Minh Khiết, Long Cảnh là 3
cộng động người đã tái lập quốc gia họ Hùng sau cơn
hồng thủy Holocene, 2.000 năm trước Công Nguyên.
·
Nghi Nhân tượng trưng cho cộng
đồng người Lửa là con cháu đế Nghi Hùng Hy Vương ở An
Ấp do ông Cao Giao lãnh đạo.
·
Minh Khiết chỉ cộng đồng
người Kinh-Lạc ở Lạc Ấp, do ông Vũ hay Sơn Tinh (cũng có
tên là Cao Sơn, Quí Minh Lãnh đạo).
·
Long Cảnh là cộng đồng người
ở Lương Ấp, là con cháu của Long Nữ – Đồ Sơn Thị là
vợ ông Vũ hay Tản Viên hậu duệ trực dòng là người Thái
(nói chung) ngày nay .
Như thế trong cơn nguy nan do giặc nước
gây ra, 3 cộng đồng đã đồng sinh đồng tử vượt thắng
thiên tai và Tản Viên được thờ cùng với 2 thủ lãnh dân
đất Đào và dân Lương Ấp thành ta có Núi Ba Vì.
. Cổ sử Trung Hoa rất coi trọng ông Hạ Vũ
vì ông là tổ của vương triều Trung hoa đầu tiên , thực ra
không có ông Hạ Vũ, Hạ Vũ nghĩa là Vua Hạ , chúa Hạ
chứ không phải là tên riêng, Khi về già Hạ vũ muốn
truyền ngôi cho ông Cao giao nhưng ông ta đã
chết , điều này cho thấy Hạ Vũ
nhận vương quyền từ họ Cơ, họ của Hoàng Đế, nay muốn
trao lại cho chính họ Cơ ; ông Cao Giao chết, ông Vũ
định truyền ngôi cho ông Ích là con ông Cao Giao nối tiếp
dòng Hùng Vũ (ông Hạ Vũ là con rể) theo đúng quan niệm
đạo đức truyền thống. Nhưng sự việc đã diễn biến khác
để sau đó họ Hùng có triều Hùng Hoa Vương .
Trong việc trị thủy của Hạ Vũ, cổ thư
Trung Hoa có nói đến một điển hình “khai sơn phá thạch”
đó là ông đã đục bạt cả một phần ngọn núi tên là Long
Môn Sơn để khai thông dòng nước chảy ra biển. Hán Thư
cũng có đoạn ngắn nhắc đến việc trị thủy: “Ở Giao Chỉ
trước Công Nguyên, người Giao Chỉ đã đắp đê ngăn không cho
nước sông Long Môn tràn bờ gây lụt lội…”
Để chỉ định chính xác Long Môn xưa, nay là
con sông nào thì các nhà khoa học còn phải mất nhiều
công sức, ở đây ta chỉ có thể liên kết 2 sự kiện: Núi
Long Môn chắn dòng sông Long Môn là nơi Hạ Vũ đã “khai sơn
phá thạch” khiến thông dòng nước chấm dứt cơn hồng thủy
để ức đoán chính là vùng sông Đà núi Tản nơi có đền
thờ Sơn tinh quốc chúa, với công trạng như thế đương nhiên
ông Vũ trở thành thủ lĩnh của tổ quốc thời phục hưng,
sử chép là ông được vua Hùng gả con gái và truyền ngôi
, đô ấp của ngài là Khang địch , chữ địch là biến âm
của chữ đoạt tên khác của quẻ Đoài cũng dùng chỉ
phương tây trong hậu thiên bát quái , Khang hay khăng là
phía tây theo Hà thư như vậy đô ấp Khang đoạt đồng nghĩa
với Tây đô.
Hùng Việt-Tuấn lang đã theo lệnh đế Thuấn
tiến đánh Tam miêu nhưng không thành công, sau vua không
đánh nữa mà lo mở mang “văn đức” để giáo hoá thiên hạ,
chúa Tam miêu đã đến chầu có nghĩa là xin thần phục .
Thời Hùng Việt Vương, Hạ Vũ đã gây ấn
tượng rất sâu sắc trong lòng người Việt không bao giờ
phai mờ và người Việt coi ông là tổ trực tiếp của quốc
gia – dòng giống mình. Trong dòng chảy liên tục của
lịch sử, triều Hùng Việt Vương – hay Tản Viên Quốc Chúa
cũng là thời điểm đặc biệt: là bản lề giữa ngàn năm
lập quốc, thời đúc kết các dòng tộc thành một dân tộc
thống nhất để sau đó chuyển mình trở thành 1 vương
quốc. Về mặt lịch sử cũng chấm dứt thời sơ sử đề bắt
đầu thời lịch sử.
Dấu tích thời Hùng Việt -Tuấn lang lưu
lại trong lòng đất đã được khảo cổ học Việt nam khám
phá - khai quật và đặt tên là nền văn hoá Phùng nguyên,
tuy còn đang tiếp tục nghiên cứu nhưng sơ bộ xác định
các hiện vật thu được có nhiều nét tương đồng với các
hiện vật cùng niên đại thuộc về nền văn minh tạm gọi
là của người Tày cổ phân bố rộng từ núi rừng bắc
Việt nam tới tận bờ Châu giang , như vậy là hoàn toàn
trùng khớp với đất Nam giao...(chỉ ) đúng như câu thơ :
Nam phục nhất Đường Ngu nghĩa là triều Đường Nghiêu – Ngu
Thuấn đã Mở mang bờ cõi về phương nam .
Bài đã đăng:
Sử
thuyết họ HÙNG (bài
1)
Sử
thuyết họ HÙNG (bài
2)
Sử
thuyết họ HÙNG (bài
3)
Sử
thuyết họ HÙNG (bài
4)
Sử
thuyết họ HÙNG (bài
5)
Sử
thuyết họ HÙNG (bài
6)
Trở về Trang Chính
|