|
LTS: Khoahoc.net tạm
thời chấm dứt đăng tải loạt bài "Sử Thuyết Họ Hùng",
bạn đọc muốn theo dõi tiếp
loạt bài
này xin mời vào:
http//www.donghohung.page.TL
* * *
9. Hùng triều thứ 9
- Hùng Hoa
Vua khai sáng : – Hải Lang
Danh hiệu khác trong Việt sử : Linh Lang
Dang hiệu khác trong Hoa sử : Khải , Hạ
vương
Quốc hiệu : Hồng bang 2, nước
Thao hay Đào.
Niên đại : cách nay 4.000 năm

Khi ông Hạ Vũ mất thì con ông
là Khải dựa vào những người ủng hộ mình làm cuộc lật
đổ để lên ngôi chúa, ông Bá Ích phải bỏ nước đi ẩn ở
Kỳ Sơn. Thực ra ông Khải mới chính là người lập ra
triều Hạ và ông tôn vinh vua cha coi như ông tổ triều đại
mới, chữ ‘Khải’ là biến âm của từ ‘khởi’ trong tiếng
Việt. Khi lịch sử đặt tên cho ông ta là ‘Khởi’ là ý nói
ông là người khởi đầu lập ra nhà Hạ; lịch sử không nói
nhưng chắc chắn đã có một cuộc tranh giành ngôi vương
giữa 3 cộng đồng trong Họ Hùng.
Ông Khải là con của Hạ Vũ và
Đồ Sơn Thị, (nghĩa là người đàn bà ở Đồ sơn), nay
thuộc Hải Phòng sát với Quảng Ninh, nhờ liên kết được 2
cộng đồng bên bố và bên mẹ nên ông Khải đã thắng và Ông
Ích phải đi ẩn nhưng thực ra là lưu vong ở Kỳ Sơn.
Truyền thuyết Việt nói: “Kinh Dương Vương (Tuấn lang ) kết
duyên cùng Long Nữ con gái Động Đình Quân, vua vùng Động
Đình Hồ … như ở phần trước ta đã khẳng định, Đồ Sơn
Thị và Long Nữ là tên của 1 người viết theo 2 dòng sử
khác nhau, ông Khải chính là Lạc Long Quân của truyền
thuyết Việt; Lạc là dòng Bố, Long là dòng mẹ, quân là
thủ lãnh. Nhiều thần tích, thần phả còn ghi lại:
Linh Lang hóa (chết) ở Hồ Tây, Hà Nội thì hồn theo dòng
nước ngầm xuôi về Động Đình Hồ … điều này giúp ta thêm
khẳng định, Động Đình Hồ trong truyền thuyết lịch sử
Việt Nam là biển Đông chứ không phải Động Đình Hồ của
Trung Quốc hiện nay, Linh là biến âm của Lung (Hoa) hay
Long (Hán Việt ) nghĩa là con rồng chỉ phương đông trong
dịch học, quẻ Chấn, số 3, con rồng ,màu xanh là những
dịch tượng chỉ phương đ̣ông . Truyền tích đạo giáo cho
biết quê mẹ của Linh Lang là xứ Bồng Lai , cụm từ “Bồng
Lai Tiên cảnh” gợi cho ta thắng cảnh Hạ Long ở Vịnh Bắc
bộ càng giúp khẳng định đấy chính là Động đình hồ,
nền văn hóa Hạ long mà khảo cổ học đã xác định được
giúp ta cả quyết hơn . Linh lang là vì vua được thờ
kính nhiều nhất tại Việt nam khắp nơi đều có đền thờ
nhưng tới nay vẫn chưa xác định được ngài là ai trong
lịch sử ?.
Từ Hạ người Hoa phát âm là
Xạ hay Xịa đồng âm với xà là con rắn bản gốc cuả thần
thú Rồng, tam xà cũng là chỉ nhà Hạ ở phương đông.
Con rồng là thần thú người
ta đã tạo ra để làm biểu tượng cho mối lương duyên Lạc
và Long tức sự phối hợp của 2 cộng đồng người sống ở
lãnh thổ phía nam (xưa) và phía đông, phương Nam loài thú
tượng trưng là con sấu , phương đông là con rắn hay xà...’vẽ
rắn thêm chân’ ra con rồng ,
cụ thể rồng là thần thú có đầu,chân và đuôi của cá
sấu nhưng mình lại là mình rắn..., chính xác tên là con
‘rung’ tức rung động sau biến âm ra rồng Hoa ngữ ký âm
thành ‘Lung’ Hán Việt đọc là ‘long’ sau này long đã thay
ngôi của Xà trong cương vị là biểu tượng cho phương đông
trong nền văn hóa Việt Hoa .
Cổ sử Trung Hoa viết: sau khi lên
ngôi ông Khải đã tiến đánh Hữu Hộ Thị vì bất phục lấy
đấ́t An ấp của họ làm kinh đô đày dân Hữu hộ thị đi
khắp nơi gọi là tứ Di ;nguyên nhân sự bất phục ở trên ta
đã biết, Hữu là họ Hộ thực ra là Hổ biến âm của từ
Hỏa nghĩa là lửa, vậy Hữu Hộ Thị chỉ nghĩa là tộc
họ Hỏa, hay Lửa chính là người La hay lửa còn gọi là
Di-lão . Đế Minh đã chia nước làm 2 miền: Bắc – Nam hay
Lửa – Nước, và truyền ngôi cho Đế Nghi là con trưởng,
phong Lộc Tục làm vương phương Nam hay phương Nước. Họ Lửa
chính là dân của Đế Nghi ở đất Giao-bắc hay đất Đào,
là Vùng Thanh – Nghệ – Tĩnh hiện nay, Cao Giao nghĩa là
thủ lãnh dân Giao (bắc), ông Cao Giao mất người kế nghiệp
ông là Bá Ích, Ích là biến âm của ất hay úp là Can số
2 trong Thập Can, chỉ phương bức (nóng), cùng vị trí với
Quẻ Lửa trong Hậu Thiên Bát Quái, và Hành Hỏa trong Ngũ
Hành ; La-Lê- Liêu và Lão đều nằm trong cụm từ có gốc
là âm Lửa.
Cổ sử Trung Hoa chép kinh đô thứ
2 của nhà Hạ là An ấp, an là biến âm của ôn nghĩa là
ấm cho biết đó là vùng nhiệt đới, rất có thể kinh đô
An ấp triều Hạ là động Hoa lư ở Ninh bình Việt
nam , Hoa là tên triều đại Hùng Hoa, lư là biến âm của
Ly-Lửa chỉ mặt trời cũng còn dùng chỉ ông vua trong văn
hoá Việt-Hoa.
Vì đô ấp lần nữa đặt ở đất
Đào nên tên nước trở lại gọi là Hồng bang, để dễ phân
biệt ta gọi là Hồng bang 2.,cổ sử Trung Hoa gọi là nước
Thao biến âm của Thiêu nghĩa là đốt –cháy.Lãnh thổ Hồng
bang 2 bao gồm : Bắc và bắc trung Việt hợp với Qủang
đông và Quảng tây sau gọi là Giao chỉ bộ rồi cải thành
Giao châu như thế rông hơn Hồng bang 1 nhiều .
Ông Ích lưu vong đến Kỳ Sơn. Cổ
sử Trung Hoa cũng chép: Ông Cổ Công Đản Phụ dẫn dân “ấp”
mình sau 5 lần tạm dừng bước, mới định cư hẳn ở Kỳ
Sơn, ông Cổ Công Đản Phụ là tổ nhà Chu; liên kết 2 biến
cố ta có thể kết luận: ông Cổ Công Đản Phụ chính là
Bá Ích, vì 1 vùng Kỳ Sơn không thể có 2 chúa trong lịch
sử, thêm bằng chứng nữa là qúy tộc ở vùng Kỳ Sơn mang
họ Cơ như Cơ Xương, Cơ Phát, mà họ Cơ phát xuất từ sông
Cơ, sông Cả đất Giao-bắc của người Lửa nơi khởi nguồn
của dân tộc Hùng , một học giả Trung hoa đã viết rõ hơn
trong phần thuyết minh Chu dịch : dân ‘Mân ấp’ đã lũ lượt
kéo nhau theo chúa của mình đến Kỳ sơn...sự ràng buộc
(giữa chúa và dân) chắc như cột bằng da bò vàng....,
Mân ấp khiến ta liên tưởng
tới đế Minh tên gọi khác của vua Hùng....cùng với dòng
đế Khai Minh của nước Thục sau này ; Mân ấ́p là cách
viết gỉan lược cuả ‘đô ấp Mân’ đồng nghĩa với kinh đô
Mân hay Mân đô –Minh đô , Kinh Thư nói đến 4 địa danh đánh
đấu lãnh thổ quốc gia thời vua Đại vũ là : Dương cốc,
Muội cốc , Minh đô và U đô...; có sự tương thông ngữ
nghĩa giữa Mân ấp và Minh đô hay không ?; thực ra cả 4
địa danh này đều có gốc là Việt ngữ được chuyển sang
Hoa văn hết sức kỳ lạ độc đáo..., 1 phần ký âm còn
phần kia dịch nghĩa :
-Cốc là biến âm từ Gốc –góc
của Việt ngữ tương tự :
Kà→gà
Cái→gái.
Dương cốc hay dương góc nghĩa là
‘góc mặt trời mọc’
Muội cốc là ‘góc mặt trời
khuất’ tức lặn .
Từ góc này đồng cách với ‘góc
trời’ cuả Việt ngữ ngày nay mà chúng ta thường dùng.
- Đô là biến âm của ‘đầu’.
Minh đô là đầu sáng, u đô là
đầu tối.
Đầu sáng chỉ hướng xích đạo ,
đầu tối chỉ hướng địa cực.
Rất có thể Dương cốc chính là
Dương thành tên xưa của Qủang châu, Muội cốc là Kiểu kinh
hay Cửu kinh thời Tây Chu , Minh đô là cố đô Hoa lư ở Ninh
bình Việt nam và U đô là kinh đô nước Thục ở Quý châu
hoặc giả cũng có thể là phần đất nào đó ở Quảng
tây, chữ U này chính là chữ Âu trong Âu cơ chỉ có nghĩa
là phương nam đồng nghĩa với huyền thiên mà thôi ; xét
như vậy ta thấy Kinh thư không thể có trước đời nhà Chu.
Triều Hùng Hoa Vương – Hải Lang,
sử Trung Hoa gọi là nhà Hạ hay triều đại Hạ, ta thấy
trong vương hiệu: Hùng Hoa – Hải lang đã thấp thoáng bóng
‘Hoa –Hạ’ rồi .. Đất Lạc Long của Lạc Long Quân gồm đất
Lạc là Bắc Việt Nam cộng đất Lâm tức Quảng tây ngày
nay, đất Long là Nam Quảng tây và Quảng Đông; sử Trung Hoa
ký âm sai thành đất ‘Lục Lương’. Những dòng sử trên cho
ta xác định: danh xưng Trung Quốc -Hoa Hạ xuất phát từ
triều Hùng Hoa này ; Hải Lang và Hạ Vương là biến từ
của nhau tạo nên 2 tên gọi khác nhau của cùng 1 triều
đại ; Hùng Hoa Vương được người Việt gọi là Linh Lang,
Linh là biến âm của Lung như ta đã biết; đất của Hải
Lang ký âm sai thành đất Hải Nam nay còn chứng tích là
Vịnh Hạ Long hay Hạ Lang và đảo Hải Nam , nước Nam hải
xưa .
Hải Nam là đất của Hải lang –
Hạ Vương.
Vân Nam là đất của Văn Lang – Văn
Vương.
Chu nam và Thiệu nam 2 vùng đất
nổi tiếng trong Kinh Thi cũng ở dạng ‘cố tình sai’ này ;
chính xác là ‘Chu lang’ và ‘ Thiệu lang’ tên thực ấp của
2 đại công thần nhà Chu là Chu công Đán và Thiệu công
Thích , Chu lang và Thiệu lang được người Tàu dịch thành
Chu công và Thiệu công vì Hoa ngữ không có chữ ‘lang’ còn
thực ấp thì đổi ‘lang’ thành ‘nam’, tương tự khi vua Mông
cổ gọi dân bắc Trường giang là người Hãn tức dân gọi
vua là Hãn, nam Trường giang là người LANG vì gọi vua là
Lang ai đó đã cố tình chuyển Hãn ra Hán, Lang ra nam
nhằm thủ tiêu những dấu tích lịch sử bất lợi cho ý đồ
của họ.
Ở phần trước ta đã minh định
về 2 thời kỳ: lập quốc và vương quốc
của lịch sử họ Hùng .Bước sang giai đoạn đã trở thành
vương quốc Cổ sử Trung Hoa viết : xưa Trung Hoa chỉ có 2
Châu: Châu Đào và Châu Đường, gọi tắt là đất Đào -
Đường hay Đào – Dương (2), dùng các dịch tượng của Dịch
Lý ta xác định: đất Đào 2 , màu đỏ là lãnh thổ nhà
Hạ, Đường 2 hay dương 2 là lãnh thổ nhà Thương.
Đất khởi phát của nhà Hạ là
lưu vực sông Hồng, hay Nhĩ hà, Hồng cũng là màu đỏ
người Thái gọi là ‘Nậm tao’.
Tao biến âm ra Đào và Thao.
*Chữ Hồng trong Hồng bang là
màu đỏ ↔ Đào.
*Hồng còn nghĩa là bó đuốc
→
đốt
→
thiêu
→
Thao, Thao là biến âm của thiêu nghĩa là đốt (cháy).
Ngày nay ở Việt Nam còn dấu vết: Có 1 khúc sông Hồng
vẫn được gọi là sông Thao.
Dấu tích của thời nhà Hạ hay
Hùng Hoa còn lưu lại ở 3 nền văn hoá cùng thời mà khảo
cổ học đã khám phá gọi là
Nền văn hóa Phùng Nguyên, hay
di chỉ khảo cổ Phùng Nguyên thuộc lưu vực sông Hồng, sơ
bộ khảo cổ học Việt Nam nhận định đấy là lưu tồn vật
chất của người tạm gọi Tày cổ mà phạm vi phân bố tới
tận lưu vực sông Tứ hay Châu Giang; trùng khớp với địa
bàn dòng Bách Lộc hay Lạc Tộc như đã biết .
Nền văn hóa Hạ long ở ven
vịnh bắc Việt ngày nay .
Và quan trọng hơn cả là nền
văn hóa Hoa lộc ở vùng Ninh bình Hoà bình và lưu vực
sông Mã ., các hiện vật thu được ở 3 nơi có sự đồng
nhất nhưng cũng có những sự khác biệt , điểm khác chỉ
ra là có 3 cộng đồng người khác nhau , điểm đồng nhất
cho thấy đã có sự hợp nhất để các bộ tộc trở thành
một dân tộc.
Thao và Đào đều là đồng
nghĩa của chữ Hồng chính vì vậy mà sau này ta mới có
tên vua Nam Việt là Triệu Đà hay Triệu Tha , Lịch sử
thời này được minh xác trong bài thơ sử của Phạm sư
Mạnh thế kỷ thứ 14 :
Nghỉ thuyền hà thạch tố
thanh ba
Lũng lại tranh nghênh sứ BÁI
qua
LÔ THỦY phân ly THAO tục LẠC
VĂN LANG nhật nguyệt THỤC sơn
hà.
câu : Lô thủy phân ly Thao tục
Lạc nghĩa là : Nước và Lửa , bắc và nam tức người Kanh
và người La trước là anh em một nhà nay tách biệt ;Lạc
liên kết với Long thành Lạc- Long hay Hoa mở ra chiến
cuộc Hoa-Di mà tàn cuộc chiến nước Thao ra đời thay cho
nước Lạc hay Lạc quốc.
Hồng Bàng Thị nghĩa là ‘thời
Hồng bang’,. Việt Thường Thị là ‘thời nhà Thương’, hay
Việt Thường, cũng là Đường quốc.
Đô ấp thứ 2
của nhà Hạ là An ấp, bị Hậu Nghệ cướp ngôi khi phục
quốc dời đô về vùng Nam Hải hay Hải Nam tức Quảng Đông
ngày nay, cổ sử ghi là Đô Ấp thứ 3 nhà Hạ là Dương
Thành, chính là thành phố Quảng Châu ngày nay.
Thời Hải Lang
-Hạ Vương, vương triều đầu tiên trong Tam Đại của Trung Hoa
là thời đã hoàn tất việc đúc kết dân tộc và kết tinh
văn hóa. Bốn dòng : Hồ Động Đình, sông Cả, sông Cương và
sông Hắc dần theo thời gian cộng sinh và cộng huyết đã
đúc nên hình nên dáng của dân tộc Việt ngày nay, đó
cũng là sự kết tinh văn hóa của 4 phương nên trong người
Việt hiện nay là tổng hoà các yếu tố văn hóa các dòng
ngôn ngữ : Môn-Khmer, Tày-Thái, Nam đ̣ảo và sau cùng là
sản phẩm của lịch sử người Việt thêm vào trong mình
dòng ngôn ngữ Hán -Tạng.
Ngày nay Đông
nam Á đã là một Hiệp hội ,tiến tới chắc hẳn có một
hiến ước và rồi tất phải có một ngôn ngữ Đông nam á ;
ứng cử viên sáng giá nhất cho chiếc ghế này là Việt
ngữ vì về ‘hình’ thì Việt ngữ đã cách tân dùng mẫu
tự Latinh là loại mẫu tự dễ dàng tiếp cận với nền
khoa học kỹ thuật tiên tiến của thế giới còn về ‘thanh’
thì bản thân tiếng Việt do qúa trình hình thành tự
nhiên đã là ‘tiếng’ Đông nam á từ mấy ngàn năm nay rồi.
Con cháu Viêm
Đế + con cháu Thiếu Hạo
Þ
con cháu Hiền Vương – Hiên Viên, Trên lãnh thổ tây bắc
Việt Nam, người La lại hòa huyết với người Miêu, con
cháu của tổ phụ Xuyên Húc (sông Hắc) hay Vũ Tiên thành
ra người Kanh -Lạc; Bước sau cùng của quá trình đúc kết
là thời Kinh Dương Vương kết duyên cùng Long Nữ hay ông Vũ
lấy vợ là Đồ Sơn Thị sinh ra Lạc Long Quân mở ra thời
kỳ lịch sử Việt Nam gọi là triều Hùng Hoa – Hải lang.
Hùng Hoa cho ta
dân tộc Hoa.
Hải Lang – Hạ
Vương cho ta vương triều Hạ.
Đất Đào hay
Thao cho ta tổ quốc “Thao” hay Hồng Bang (Hồng Bàng Thị).
Tiền nhân người Việt đã hao hơi tổn sức không biết bao
nhiêu để sáng tác và lưu truyền hàng ngàn năm truyện sự
tích trầu cau, cốt lõi chỉ nhằm giúp con cháu xác định
được dòng giống của mình. Trong sự tích trầu cau ta
thấy sự hiện diện của 2 ông, 1 bà; 1 ông biến thành cây
cau, chính xác là cao, trên cao là thiên, 1 ông biến thành
hòn đá là địa, có thiên có địa rồi còn ngôi “nhân” ở
giữa dành cho người nữ, đó chính là hình dạng quẻ Ly
theo Dịch Lý họ Hùng (ngược với Dịch Lý của Trung Hoa),
2 ông là 2 vạch liền, 1 bà ở giữa là vạch đứt: đấy
chính là ý nghĩa của nước “Xích Qủy” trong truyền
thuyết rồng tiên, Xích quẻ tức màu đỏ, quẻ Ly mà ai đó
đã cố công biến ‘quẻ” thành “qủy” để che mắt thiên hạ.
Khi nhai trầu thì biến ra thứ nước “màu đỏ’ trong tiếng
Việt ‘nước’ là 1 thứ vật chất nhưng cũng có nghĩa là
quốc gia, nước đỏ chính là “Đào quốc” hay “Hồng Bang”.
Ngành khảo cổ
học Việt Nam đã có đầy đủ các dữ kiện để xác định
trên lãnh thổ Bắc Việt hiện nay thời trước Công Nguyên
đã có mặt ít nhất 3 thành phần văn hóa chính thể hiện
trên những lưu tồn vật chất mà khảo cổ học đã khai
quật được; núi rừng Tây và Bắc mang đậm yếu tố “Tày
cổ” đồng dạng với văn minh Tây Giang cùng thời kỳ; chếch
về hướng Đông là các yếu tố văn hóa Hạ Long, đồng dạng
với các yếu tố văn hóa dọc bờ biển nam Trung Hoa; và
sau cùng là các yếu tố văn hóa của người “Thanh – Nghệ”
tiến ra khai phá Đồng bằng sông Hồng ..
Thời Lạc Long
Quân – Hùng Hoa : 2 thành tố Lạc và Long đã tạo ra thành
tố Hoa.
Thời Hùng Việt
→
người Việt, dân tộc Việt.
Thời Hùng Hoa
→
người Hoa, dân tộc Hoa.
Người Việt Nam
cũng rất tự hào về thời quá khứ Hồng Bàng Thị hay
Hồng Bang của dân tộc mình. Hồng Bang, đất Đào, quốc gia
Thao đều phát xuất từ mã tin Dịch Lý: Quẻ Ly tức ngọn
lửa biểu trưng cho ánh sáng và sức mạnh hay nguồn năng
lượng của mặt trời chiếu dọi xuống trái đất tạo nên
mầm sống.
Tương truyền là
ông Khải cho đúc 9 cái vạc đồng làm quốc bảo, như thế
vào đầu đời Hạ, Trung Hoa đã bước vào thời đồ đồng.
Nhà Hạ có 2 thời kỳ: thời lập triều và thời tái lập.
Sau ông Khải truyền đến Thái Khang thì bị Hậu Nghệ cướp
ngôi; cháu chắt Khải đế phải chạy đến vùng định cư của
con cháu ông Thuấn nhờ sự giúp đỡ và ủng hộ của họ
Thiếu Khang đã đánh bại Hàn Tróc dành lại ngôi vua,
lịch sử gọi là thời Thiếu Khang Trung Hưng.
Cổ sử Trung Hoa
chép nhà Hạ có 3 đô ấp:
- Thứ nhất là
Khang Địch nghĩa là đô ấp ở phía tây đất nước.
- Thứ hai là An
Ấp đã xác định ở trên.
-Đô ấp Thứ ba
là Dương Thành, Dương Thành nghĩa là thành phố phía
đông, còn gọi là Long Thành chính là thành phố Quảng
Châu ngày nay, Dương Thành đã có lịch sử trên 4.000 năm
và dứt khoát không phải là thành phố của dê (dương là
dê), như ai đó muốn bôi bác nó để chối bỏ lịch sử.
Chúng ta xếp
vương triều Hạ khởi đầu thời Lịch sử vì dù còn sơ xài
nhưng cũng đã có đủ thông tin về 17 đời vua và 3 kinh đô
của triều đại .
Vương triều Hạ
kể cả Hạ Vũ là 17 đời, lãnh đạo đất nước Đào hay Thao
trên 400 năm, vua sau cùng là hôn quân bạo chúa tên Kiệt
bị Thành Thang đánh bại và nhà Thương thay nhà Hạ. Các
vua nhà Hạ, Hồng bang 2 là:
1.Đại Vũ, 2. Khải, 3. Thái
Khang, 4. Trọng Khang, 5. Tượng, 6. Thiếu Khang, 7. Trữ, 8.
Hòe, 9. Mang, 10. Tiết, 11. Bất Hàng, 12. Quynh, 13. Cẩn,
14. Khổng Giáp, 15. Cảo, 16. Phát, 17. Kiệt.
Từ thời Thiếu Khang Trung Hưng,
trung tâm Thao Quốc chuyển về Quảng Đông không nằm trên
đất Việt nữa, tới thời Kiệt dân chúng thường nguyền
rủa: “Mặt trời ơi, hãy tắt đi chúng tao vui lòng chết
cùng mày.” Việc này chỉ ra: dân chúng nhà Hạ gọi chúa
là mặt trời hay Ly – Lửa (Quẻ Ly cũng chỉ mặt trời, hay
nguồn năng lượng), sau Ly biến thành họ Lý, họ Lê ;
Tử đất gốc là Quảng Châu –
Dương thành Con cháu nhà Hạ đã đông tiến khai phá vùng
Phúc Kiến-Triết giang lập nên nước “Việt” thời Chiến
Quốc vùng này cũng gọi là Mân Ấp – vùng đất dành riêng
để thờ cúng các vua nhà Hạ.
Trong triều đại
Hùng Hoa-Hải lang ; Hậu Nghệ là thủ lãnh tộc Di vì
Thái Khang là vua ngu tối không lo chính sự chỉ ham săn
bắn, có lần đi săn ở Nam Lạc Thủy cả 100 ngày không về,
Hậu Nghệ đem quân chặn ở Bắc (Dịch Lý) Lạc Thủy, thế
là Thái Khang đành sống lưu vong. hậu Nghệ tôn em Thái
Khang là Trọng Khang lên ngôi nhưng thực quyền đều nằm
trong tay Hậu Nghệ, sau khi Trọng Khang chết thì Hậu Nghệ
chính thức lên ngôi vua. Lạc Thủy nay chỉ còn là con sông
nhỏ chảy qua rừng quốc gia Cúc Phương, thuộc Ninh Bình –
Việt nam ngày nay.
Sử Trung Hoa viết, thời đó
trên trời có tới 10 mặt trời, nóng quá mặt đất khô khan
không còn giọt nước, dân chúng kêu than vang trời, Hậu
Nghệ dùng cung bắn 9 phát rụng liền 9 mặt trời chỉ để
lại 1 mặt trời như ngày nay; truyền thuyết là vậy, sự
thực ra sao? Đây chỉ là hiện tượng thời tiết tự nhiên
,qua cơn hồng thủy đến thời hạn hán , khi hạn hán mặt
ao đầm khô nước nứt nẻ thì thủy quái thuồng luồng làm
sao sống được , nhưng truyền thuyết chép là Hậu Nghệ
dùng tài bắn cung bách phát bách trúng diệt hết thủy
quái cứu dân; điều này chứng tỏ tâm tình của nhân dân
rất kính trọng Hậu Nghệ chứ không chê bai khinh thường
như 1 kẻ cướp ngôi … vô đạo. Hậu Nghệ là cấu trúc tiếng
Việt; còn cấu trúc Hán văn là Nghệ Hậu. Hậu Nghệ là
thủ lãnh tộc Di, tộc Di hay Di Lão chính là người La bị
Đế Khải đánh đuổi phải di cư lên phía Bắc đến núi Kỳ
Sơn; tộc Di Lão còn được gọi là Di Việt sau Hậu Nghệ
bị Hàn Tróc giết và cướp ngôi, Thiếu Khang con cháu nhà
Hạ được sự ủng hộ của bộ tộc Hữu Ngu tức họ Ngu- Ngay
dòng Đế Thuấn đã đánh bại hàn Tróc khôi phục vương
triều Hạ .
Chúng ta thấy truyền thuyết
lịch sử đã không công bằng với Hậu Nghệ tuy nói rõ vì
vua ngu tối ham hưởng lạc mới đưa đến việc soán ngôi ,
khi ở ngôi Hậu nghệ đã làm bao điều ićh quốc lợi dân
nhưng thời Hậu Nghệ vẫn không ̣đ̣ược coi là 1 triều đại
chính thống trong sử sách .
Bài đã đăng:
Sử
thuyết họ HÙNG (bài
1)
Sử
thuyết họ HÙNG (bài
2)
Sử
thuyết họ HÙNG (bài
3)
Sử
thuyết họ HÙNG (bài
4)
Sử
thuyết họ HÙNG (bài
5)
Sử
thuyết họ HÙNG (bài
6)
Sử
thuyết họ HÙNG (bài
7)
Trở về Trang Chính
|