|
Thần thoại
trung hoa
Nhân chủng học
xác định người họ Hùng thuộc chủng Monggoloit nhánh
phương nam.
- Tiểu chủng Mongoloit Sống ở Bắc Trung
Hoa, Mông Cổ, Siberia, và Eskimo. Riêng Triều Tiên và Nhật
Bản ít nhiều đã hỗn chủng với những chủng tộc khác.
- Tiểu chủng Mongoloit phương Nam quần tụ ở
bờ Nam Dương Tử và ĐôngNamÁ..
gồm có 2 nhánh:
+ Nam Á
+ Nam Đảo: hay Indonesien
Người Việt mang đặc trưng của cả 2 nhóm
Nam Á và Nam Đảo, ở bất cứ nơi nào trên đất nước đều
có mặt cả 2 nhóm trên. Sự kết hợp lâu đời và nhuần
nhuyễn tới độ khó có thể phân biệt, Ngay trong một gia
đình cũng có thể có mặt cả 2 loại hình Nam Á, và Nam
Đảo, chuyện anh da trắng tóc thẳng (đặc điểm Nam Á), em
da ngăm tóc quăn (đặc điểm Nam Đảo) là chuyện không hiếm
ở Việt Nam.
Nhóm Mongoloit Trung Hoa (tạm gọi như thế)
sống dọc theo Hoàng Hà, từ Tây sang Đông từ khoảng thời
gian cách đây từ 8.000 đến 6.000 năm, họ để lại các di
tích khảo cổ học gọi là văn hoá gốm đỏ, gốm đen và
sau cùng là gốm xám được phát hiện ở Hà Nam. Cách đây
khoảng 6.000 năm.
Phía Nam Trường Giang là nơi sinh sống của
2 nhánh thuộc tiểu chủng Nam Á và Nam Đảo, nhánh Nam
Đảo đã để lại dấu ấn văn hoá dọc duyên hải Hoa Nam,
nổi tiếng nhất là văn hoá khảo cổ Hà Mẫu Độ ở Phúc
Kiến – Chiết Giang.
Khảo cổ học đã tìm được nhiều hiện vật
còn tồn trong lòng đất của 5 nền văn hoá cổ lớn ở Đông
Dương và vùng liền kề mang dấu ấn niên đại từ khoảng
trước 10.000 năm đến 7.000 năm trước Công Nguyên.
1. Văn hoá khảo cổ Soi Nhụ – Cái Bèo là
tiền thân văn hoá Hạ Long.
2. Văn hoá Hòa Bình, nổi tiếng khắp thế
giới và được các nhà khảo cổ coi như tiêu biểu cho toàn
vùng Đông Nam Á.
3. Văn hóa Bắc Sơn và vùng núi phía Bắc
Việt Nam, nền văn hóa này đã để lại 2 mốc của lịch sử
tiến hóa của toàn vùng: đó là cái rìu bằng đá mài
đầu tiên, và những mảnh gốm đầu tiên.
4. Văn hóa cổ tiêu biểu cho Miền Trung và
Nam Việt bước đầu đã có những khám phá quan trọng, các
nhà khảo cổ đang tiếp tục đào bới tìm kiếm, kết quả
ban đầu tuy chưa nhiều lắm nhưng cũng đủ để khẳng định
một nền văn hóa cổ.
5. Nền văn hóa Trung và hạ Mekong hay sông
Cửu Long: chủ yếu ở vùng Đông Bắc Thái Lan và trung-nam
Lào
Vượt qua Sơn Vi lùi về quá khứ đến tận
thời đồ đá cũ ở Việt Nam có các di chỉ Núi Đọ nổi
tiếng và linh thiêng. Khi ấy con người ở chế độ thị tộc
mẫu hệ, loại hình xã hội đầu của con người khi vừa bỏ
qua loại hình bầy đàn và xa hơn nữa cũng có những vết
tích của con người… chứng tỏ con người đã có mặt ở
vùng đất này từ thời Thái cổ và liên tục phát triển
cho đến tận hôm nay. Từ những câu truyện truyền miệng sau
này được ghi lại ở Việt Nam và Trung Hoa, ta có thể
tổng hợp để viết truyền thuyết lịch sử tức là loại
hình nửa truyện nửa sử, nửa thực nửa hư . Chuyện thần
tiên và con người quấn chặt vào nhau nhưng nếu khéo gở
ta có thể thu lượm được những thông tin tương đối chính
xác, gọi là tương đối vì dù khoa học tiên tiến đi chăng
nữa thì cũng phải chấp nhận 1 sai số thời gian, chỉ
đến thời Lịch Sử thì sai số này mới bằng không.
Truyền thuyết lịch sử Việt Nam chủ yếu
dựa trên 2 tác phẩm “Lĩnh Nam Chích Quái” và Việt Điện
U Linh” được biên soạn từ thế kỷ 13 và 15 không nhắc tới
thần thoại, vì vua xa nhất được biết đến là Thần Nông,
mãi tới năm 2003 Nguyễn Hồng Sinh mới công bố trong cuốn
“Kinh Dịch Huyền Diệu và Ứng Nghiệm” 2 vì vua trước
Thần Nông: đó là Đế Hòa thường gọi Hy Thúc hay Hy Hòa,
vua của Lịch pháp … đáng chú ý là tổ bà tên là NỮ
HOÀNG ANH. Kế tiếp là Phục Hy hay Bào Hy có tên Việt là
Vua Cả – tổ của Hư không giáo, và tác giả cho Hư không
giáo chính là Dịch Lý. Đối chiếu với truyền thuyết
Trung Hoa có sự trùng khớp – trước Viêm Đế Thần Nông là
Bào Hy hay Phục Hy tổ của Dịch Lý. Thuyết Quái ghi:
“Ngày xưa họ Bào Hy ngẩng lên xem tượng trời, cúi xuống
xem nét đất, quan điểu thú chi văn, gần thì thấy chính
mình… để tác dịch” chữ Vua Cả đích thị là từ dịch
của Thái cao (Chữ Nho) . Trước Bào Hy là Đế Hòa hay Hy
Hòa, Đế Hy Hòa làm lịch đã được ca dao Việt Nam xác
nhận:
“Ai về
nhắn họ Hy Hòa
Nhuận đêm
sao chẳng nhuận vài trống canh”
Sự than thở của đôi trái gái mới cưới
tiếc đêm qua mau quá… 2 câu này rõ ràng nói Hy Hòa là
tổ của Lịch pháp. Ở phần mới công bố này ta có được
thông tin vô cùng quí giá: Tổ bà là Nữ Hoàng Anh trùng
tên với 2 bà vợ công chúa con Đế Nghiêu gả cho Đế Thuấn
là Nga Hoàng và Nữ Anh … cũng trùng hợp với thông tin
Vua Nghiêu lệnh cho Hy Thúc … Trạch Nam Giao … từ mắt xích
này ta lần ra một chuỗi sự kiện tiếp nối:
Bào Hy – Thần Nông –Cách 2 đời -Hoàng đế-
Đế Nghiêu – Đế Thuấn – Đại Vũ.
Nguyễn Hồng Sinh dựa vào tư liệu dân gian
có chút lầm lẫn, Đế Hòa tức Hy Hòa không thể có trước
Thần Nông và Bào Hy được, Qua 2 thông tin trên ta có thể
khẳng định: Hy Hòa hay Hy Thúc chính là Đế Thuấn hay Ngu
Thuấn là vị vua đã truyền ngôi cho ông Vũ, và đất Nam
Giao nơi Hy Thúc đến theo lệnh vua Nghiêu chính là đất
Quảng tây thuộc Lĩnh nam sau này.
Nam giao là một địa danh được viết theo
cấu trúc Việt văn nghĩa là vùng đất ở phía nam Giao
chỉ vì thời Nghiêu Thuấn cách nay khoảng 6000 năm
thì Trung hoa cổ ở tận Sơn tây không thể nào với tới
đất Giao chỉ để có một Giao chỉ ở phương nam
(nếu hiểu Nam giao theo cấu trúc Hán văn).
Đã có Nam giao tất phải có Giao chỉ vậy
Giao chỉ ở đâu ?
Thực ra Giao chỉ là từ chuyển ngữ từ
Việt sang Hán , nguyên gốc là Giữa hay vùng
đất ở giữa thiên hạ khi dịch sang hán ngữ buộc
phải tạo từ bằng cách ghép 2 chữ :giao
nghĩa là giao cắt,gặp gỡ và chỉ là ký
âm từ chỗ của tiếng Việt, trọn nghĩa từ ghép
này là : nơi hay chỗ bốn phương giao hội vậy đã
rõ Giao chỉ là 1 địa danh nên từ nay xin chấm dứt lối
giải thích vớ vẩn ....2 ngón chân cai bè ra nên khi đứng
chạm nhau ....,Giao chỉ hay đất Giữa là quốc thổ của
người Việt từ ngàn xưa tương đương với vùng bắc –trung
và bắc Việt ngày nay, người Hoa còn 1 cách gọi khác
:đất Việt là đất YUÊ thực ra Yuê chỉ là thổ âm của từ
Giữa mà thôi có điều lạ không hiểu tại sao Việt nho lại
đọc chữ Yuê thành Việt như hiện nay phải chăng đây là 1
kiểu đi tắt...nhấn mạnh Giao là Việt và Việt cũng là
Giao-Giữa....
Sử thuyết họ Hùng đặt chương thần thọai
lên đầu vì đấy là thời ông Bành tổ xa xưa lắm , chuyện
hoàn tòan do tưởng tượng nên ‘phi’ không và thời gian ,
vậy bạn đọc đừng bao giờ đặt câu hỏi ...ở đâu,lúc nào
...sẽ không có câu trả lời về nơi sinh trú của ông bàn
cổ cho đến đế Hữu sào vì chỉ là thần thoại ..., huyền
sử Việt không có phần này nhưng thực kỳ lạ nếu xét
danh hiệu các vua thái cổ của thần thoại Trung hoa theo
nghĩa trong Hoa ngữ thì chẳng có gì liên quan tới lịch
sử thâm chí ngớ ngẩn ... không lẽ thuỷ tổ Bàn cổ của
Trung hoa là ... cái bàn cũ ?...đế Hữu Sào là vị vua
phát minh ra cách làm nhà trên ngọn cây như loài
chim...?nhưng khi biên tập lại lấy Việt ngữ làm gốc như
đã trình bày thì đúng là những dòng sử sâu thăm thẳm
tương đương sách sáng thế ký của phương tây.
Tiếp nối thần thọai là phần dã sử, dã
sử được viết dựa trên truyền thuyết lịch sử tức đã có
1 phần sự thật làm nòng cốt từ đó mới hư cấu thành
truyện, thêm vào những nhân vật những địa danh những
tình tiết khiến câu truyện trở nên mạch lạc hấp dẫn và
có ý nghĩa.
Đặc biệt truyền thuyết lịch sử Việt ở
thời giáp công nguyên đã được xử dựng như một phương
thức đặc thù truyền lưu lịch sử đích thực cho hậu thế,
đấy là những bức thông điệp nhắn gửi cho con cháu về
những bất thường của lịch sử dân tộc được ngụy trang
dưới lớp vỏ bọc là những chuyện hoang đường trâu ma rắn
thần..., nay nếu chúng ta khéo chắt lọc sẽ thấy được
những lời nhắn nhủ đó, chắc chắn là những điều vô
cùng quan trọng vì nếu không thì tiền nhân chúng ta đâu
phải khổ công để truyền đời như vậy, đời cha học thuộc
lòng rồi kể cho đời con ... cứ như thế truyền đến ngàn
năm...mong mỏi rằng sẽ có ngày dân tộc qua cơn bĩ cực
con cháu sẽ giải mã được những thông điệp của quá khứ
tìm lại được nguồn gốc đích thực của dòng giống mình.
Trước khi đi vào phần dã sử cần thiết
phải minh định ý nghĩa 1 số từ.
Ở trên ta đã biết :Lãnh thổ của Hữu Hùng
quốc là đất GIỮA còn dân tộc ? , theo truyền thuyết họ
Hồng bàng thì Kinh dương vương đặt tên nước là “xích
qủy” nghĩa là nước... quỷ đỏ ?,thực ra đó chỉ là sản
phẩm của ...tam sao thất bản mà thôi, chữ quẻ đã biến
thành chữ quỷ nên mất hết ý nghĩa, ‘xích quẻ’ hay
‘xích quái’ nghĩa là quẻ màu đỏ tức quẻ Ly trong bát
quái của dịch lý , ly là biến âm của lửa tượng trưng
cho mặt trời, ánh sáng hay sự văn minh, ý nghĩa này
được kiện chứng ngay trong từ họ HỒNG bàng chính xác
là ‘Hồng bang’ , chữ hồng trong Việt ngữ ngoài sự đồng
nghĩa với đỏ còn có nghĩa là ngọn lửa đuốc ;cả 2
nghĩa đều có gốc từ quẻ LY. Đặc biệt người xưa đã
dành hẳn 1 truyền thuyết để chỉ bảo chúng ta về điều
này đó là sự tích trầu cau, 2 anh em tức 2 vạch
liền biến thành cây cau ở trên và hòn đá vôi ở dưới,
còn 1 nữ là vạch đứt ở giữa làm cây trầu không ..., đó
chính là hình tượng qủe LY, khi phối hợp cả 3 thì tạo
thành chất nước màu đỏ....trong tiếng Việt từ
nước ngoài nghĩa là 1 loại vật chất còn có
nghĩa là quốc gia, qủe LY và màu ĐỎ...ở đây là lần
nhấn mạnh thứ 3 cốt chỉ nói một điều : chúng ta là 1
quốc gia Văn minh hay quốc gia của những người văn minh.,
chính 2 thành tố : chính giữa và ngọn lửa
đã tạo nên từ TRUNG –HOA sau này, chính xác là
TRUNG_HOẢ, trung là dịch từ giữa ,còn hoả là lửa.
Đất là trung tâm của thiên hạ, và con
người là người văn minh , Dân tộc ta là ánh đuốc soi
đường cho thiên hạ, đấy là những gì tiền nhân nhắn bảo
chúng ta về qúa khứ dòng họ Hùng.
Trung hoa chỉ trở thành 1 quốc hiệu từ
cuộc cách mạng Tân hợi 1911 khi ông Tôn dật Tiên tuyên bố
lập nước ‘Trung hoa dân quốc’, trước đó trung hoa là từ
dịch của Giữa và Lửa dùng để chỉ nước do vua trực
tiếp cai trị tức nơi cầm đầu cả thiên hạ, ‘Trung hoa’ ở
đây là vế đối của ‘chư hầu’ để tạo thành thiên hạ vì
vậy với mỗi triều đại ta lại có 1 trung hoa khác, trung
hoa nhà Chu không phải là trung hoa thời nhà Thương.v.v.,
ở Việt nam các vua nhà Trần cũng có khi xưng mình là
Trung hoa (Việt nam sử lược- Trần trọng Kim) nên khi ta
dùng các từ như trung hoa xưa hay cổ sử Trung hoa... là
hoàn toàn do thói quen và không chính xác vì thời xưa
làm gì có nước Trung hoa và dân tộc Trung Hoa.
Ta đi vào phần dã sử của nước họ Hùng
dưới ánh sáng Dịch Lý.
Người họ Hùng lập quốc chính thức vào
đời Hùng vương thứ 5 , triều HÙNG VŨ tức vua HÙNG ,
người Hoa đã tạo ra từ kép VŨ_VƯƠNG để chuyển ngữ từ
VUA cuả Việt ngữ ; Vũ là mượn âm vương để chỉ ý .
Đã là người thì phải có tổ có tiên nên
Hùng sử có 4 triều đại tiền lập quốc tượng trưng cho
cả quãng thời gian từ khi thành người đến ngày trọng
đại ấy.
Trên vùng đất ngày nay là đông dương cách
nay 20.000 cho đến khoảng 6.000 năm là nơi sinh trú của 2
đại tộc :
-Đại tộc Khương sống ở Vùng trung
và hạ lưu sông mêkông hay Mễ cương.
Khương là biến âm
của khăng nghĩa là không đổi, đặc tính của
phương tây theo dịch học,
Khương→Cương.→cứng.
Khăng →cang→cứng.
- Đại tộc Mi sinh trú dọc theo ven
biển trung - bắc Việt nam và vùng biển liền kề .
Mi là biến âm của
Mơi-mai ; sớm mai là lúc mặt trời
mọc ở phương Đông.
Phương đông còn gọi là bên mục-hành
mộc người Hoa độc là mô; tất cả chỉ là biến âm
cùa từ gốc là mọc trong Việt ngữ đồng nghĩa
với lên hay thăng
Đại tộc Khương phân hoá thành tộc
Khương tây và Khương nam tức Cửu lê
và Tam miêu sau này .
Đại tộc Mi cũng chia thành Mi đông và
Mi bắc (bắc của dịch lý tức hướng xích đạo) tức
họ Thần long hay Động đình và họ Cơ
của Hoàng đế sau này .
Bốn tộc người thời xa xưa này được dã sử
Việt coi như tổ phụ thuộc 4 phương trời về sau hợp nhất
để thành dòng họ Hùng tức tổ tiên người Việt .
Có thể nói tất cả người Đông nam Á ngày
nay ;tùy theo sự đậm lạt của 4 dòng huyết thống kể trên
mà hình thành các sắc tộc với Hình sắc bên ngoài có
thể hơi khác nhau nhưng trong huyết quản thì chỉ là 1
giòng giống chung , Câu: thống nhất trong đa dạng dùng mô
tả cư dân Đông nam á là hoàn toàn chính xác .
**********
B - 18 Hùng triều .
- 4 Tổ phụ tiền lập quốc .

Hình
1 – Hùng triều thứ 1 - .Hùng Dương – Tổ
phụ phương Đông
Vua khai sáng:
Danh hiệu khác trong Việt sử :Động
đình quân – Vua Cả Phục hy
Danh hiệu khác trong Hoa sử : Thái
Cao thị –Bào Hy
Là thủ lãnh của tộc MY-ĐÔNG; (khoảng
20.000 – 17.000 trước CN) .
Dương là phương mặt trời mọc, nghĩa là đi
lên, ngược với phương thụt (ký âm sai thành Thục),
giống như trong đánh bài: dương (ngữa lên, đưa lên), thiệp
(úp xuống). Dương biến âm thành ‘dâng’ (như nước dâng lên,
dâng cúng…). Hùng Dương Vương là thủy tổ vì buổi bình
minh mang ý nghĩa sự khởi đầu, sự khai sinh ra dân tộc.
Đây là thời Cổ sử Trung hoa gọi là thời
Thái cao Bào hy hay Phục Hy, chữ Hy chính xác là Y, Bào
-Y hay Phục- Y , chỉ là ký âm từ bao- áo của
Việt ngữ, phục hy nếu viết lại là y- phục sẽ dễ dàng
nhận ra chỉ là áo quần hay vật che thân nói chung .Đây
là 1 bước trên đường văn minh của con người ; loài vật
có bộ lông tự nhiên che phủ, còn loài người phải sáng
tạo ra cách bảo vệ và điều hoà thân nhiệt bằng quần
áo, có lẽ ban đầu chỉ là dây và lá cây ,sau là da thú
..., tiến thêm 1 bước là dùng các cây có sợi . .Giải
quyết cái che thân là thành tựu khoa học kỹ thuật đầu
tiên của loài người nên dã sử Việt gọi là Dương coi như
là lúc mặt trời văn minh mới mọc.
Truyền
thuyết lập quốc người Việt gọi vị tổ phụ phương đông
là ĐỘNG ĐÌNH QUÂN vua vùng Động đình hồ. Mới đây các
nhà nghiên cứu Việt nam đã sưu tập được trong truyền
thuyết dân gian tên 4 vì vua đầu của họ HÙNG là : VUA
CẢ- THÁI CAO, THÁI VIÊM ( ĐẾ VIÊM) , THÁI KHANG VÀ THÁI
TIẾT;THÁI CAO chỉ là tên chữ nho của VUA CẢ mà thôi, ta
thấy đế hiệu này trùng khớp với THÁI CAO- BÀO HY của
cổ sử Trung hoa, theo 1 trật tự hợp lý thì THÁI CAO chỉ
là tên khác của ĐỘNG ĐÌNH QUÂN cả 2 đều mang tính biểu
thị cho phương đông; chính xác phải gọi là phương động
là tính chất của can BÍNH- BẤN tượng số (8) trong thập
can, còn Thái cao hay Vua cả chỉ sự khởi đầu của các
vua hay buổi bình minh của dân tộc.phương đông cũng là
phương của màu xanh và tình thương,sách Lã thị xuân thu
chép vua dựa vào mộc đức mà cai trị, số ứng là số 8
là số chỉ phương đông trong Hà thư, động vật tiêu biểu
là loài có vảy tức loài rồng –rắn , kỷ cuả ngài gọi
là mạnh xuân kỷ.
Động đình hồ ở
đâu ? phần lớn những nhà nghiên cứu sử đều bị mê hoặc
bởi đầm Vân mộng ở Hồ nam và xác định đấy là Động
đình hồ của cổ thư, trong sách cổ của Trung hoa nói
nhiều đến Chấn trạch hay Lôi trạch cả 2 đều có nghĩa
là cái hồ ở phương đông ta thấy đầm Vân mộng không đủ
các yếu tố theo chỉ định của ngôn ngữ vì nó nằm ở
khoảng giữa đất Trung hoa..;Đình hồ nghĩa là cái hồ
lớn có thể hiểu là biển nên động đình hồ phải dịch
sang Việt ngữ là Biển đông mới đúng, Động đình quân là
vua vùng biển đông, căn cứ vào năng lực con người vào
thời đại ấy thì biển đông chỉ có thể gom vào vùng
vịnh bắc bộ ngày nay là hợp lý, truyền thuyết Việt nam
nói Linh lang một vì vua được thờ rất nhiều đã hoá
tức chết ở hồ Tây và hồn suôi về Động đình hồ ,điều
này kiện chứng thêm cho sự ấn định trên vì đầm Vân mộng
ở quá xa và không có lý do để hồn Linh Lang suôi về
chốn ấy.
Sách Lã Thị Xuân Thu của Lã Bất Vi đã
trích ở trên cho ta biết:
Thời Thái Cao ứng với số 8 – mùa xuân,
Hành Mộc, thần tương ứng là Mộc Thần Câu Mang chính là
dùng mã tin của Dịch Lý. Sự tương ứng các vì tổ phụ
và các con số của Hà Thư, người xưa đã kết cấu thời
khởi thủy của dân tộc theo 2 ý chỉ định của Hà Thư.
Các số 6, 7, 8, 9 vừa chỉ 4 phương vừa chỉ 4 mùa, như
thế ta có 4 địa phương của 4 thủy tổ đồng thời cũng có
thứ tự thời gian 4 thủy tổ tiếp nối nhau; Thái Cao –
Bào Hy hay Hùng Dương Vương là thủy tổ đầu tiên và ở
phương Đông.
Sách cổ Trung Hoa viết “Mẹ Bào Hy sống ở
vùng đầm Hoa My, nhân đạp dấu chân người khổng lồ mà
sinh ra ông, lớn lên có thánh đức và khi ở ngôi lấy
Mộc Đức mà cai trị”: từ nơi ở là đầm Hoa My ta có
thể rút ra các thông tin: Hoa chính là tộc Hoa sau này.
My hay Mỵ theo cổ thư Trung Hoa là Họ của dân Việt và
Sở, Động cũng là Đông (đã dẫn ở phần trước) Đình là
to lớn. Động Đình Hồ là hồ lớn ở phương Đông như thể
Đầm Hoa My và Động đình Hồ chỉ là một , nơi có nền văn
hóa khảo cổ Soi Nhụ – Cái Bèo sau là Vịnh Hạ Long, vì
chỉ ở đấy mới có thể liên quan tới dân nước Việt (Bắc
Việt ngày nay) và dân Sở ở Hồ Nam Trung Hoa. Vòng cung –
bờ biển Việt Nam, bờ biển Quảng Đông và đảo Hải Nam cho
ta hình ảnh một cái hồ lớn ở phương Đông nước Việt.
Thủy tổ phương Đông là Hùng Dương, Bào Hy
Thái Cao Thị cũng là Động Đình Quân. Còn niên đại thời
Hùng Dương – Bào Hy? Chữ Bào cho ta 2 nghĩa:
- Bào là cái bọc nơi thai nghén 100 trứng
sau là 100 họ vì thế người Việt Nam thường gọi nhau là
‘đồng bào’.
- Bào biến âm là ‘Bầu’, bầu là khối
tròn, tiếng Việt chỉ sự mang thai, người có bầu thì
sinh con, còn Đế Bầu (Bào Hy) thì sinh ra dân tộc của
mình.
‘Bầu’ còn có nghĩa đặc biệt khi liên kết
với truyền thuyết quả bầu và cơn ‘hồng thủy’, truyền
thuyết lưu truyền ở hầu hết các dân tộc sinh sống ở
Đông nam Á, nhưng hoàn toàn vắng bóng ở cư dân Hoàng Hà.
Tuy có điểm khác biệt, nhưng thống nhất trong ý : cơn
hồng thủy tiêu diệt loài người, và loài người được tái
sinh từ quả bầu, sau thành các dòng tộc chia nhau đi
khắp 4 phương, về ý nghĩa cũng tương tự bọc 100 trứng
nhưng ở đây ta có được một thông tin quan trọng xác định
mốc thời gian mà câu chuyện tồn tại, đó là một cơn
hồng thủy, nước dâng lên tràn núi lấp gò. Trong quá khứ
ở Việt Nam khoa học ghi nhận có 2 đợt biển tiến:
- Đợt biển tiến Phlandrian cực đại vào
khoảng 20.000 năm trước.
- Đợt biển tiến Holocene, trung điểm cực
đại cách nay hơn 4.000 năm.
Đợt biển tiến Phladrian tức cơn đại hồng
thủy xãy ra ở Thời Đá giữa chính là niên đại của thủy
tổ phương Động Bào Hy. Ta có thể kết luận niên đại thời
Hùng Dương Bào Hy cách ngày nay khoảng 20.000 năm.
Cũng trong ý nghĩa “sự khởi đầu” như ban
sớm, mùa xuân; Hùng Dương Vương – Bào Hy được coi là tổ
của Dịch Lý hay rõ hơn là Dịch nút số (Hoàng Đế là
tổ của Dịch Lý Vạch Quẻ). Ở Trung hoa trước đời Tống
không ai biết gì về dịch học nút số, ngược lại ở Việt
nam chỉ với câu .”tam khoanh-tứ đốm” đủ xác định người
Việt từ xa xưa rất rành về dịch học nút số, rành tới
mức mà nó đã trở thành của dân gian ai cũng biết.
-Khoanh biến âm là khuyên là khoẻn ngày nay
là chiếc nhẫn đeo tay hay đôi vòng đeo tai ta có thể hình
dung ra ngay được đó chính là hình ảnh của nút trắng
trong các nút số của Hà lạc.O
-Đốm trong việt ngữ thường đi đôi thành từ
kép : “đốm đen” nghĩa rất rõ ràng chỉ các nút số đen
cuả Hà lạc.●
Tam và tứ là 2 số trấn phương đông và
phương tây của Hà thư.
Thành ngữ “đổi trắng thay đen” khiến ta
còn phải suy nghĩ nhiều lắm, chắc chắn đây là 1 lời
nhắn gửi của người xưa chỉ vẽ cho con cháu về hà
thư-lạc đồ nhưng chúng ta vẫn phải tìm hiểu suy nghĩ
thêm chưa vội kết luận về bất cứ điều gì.
Thời kỳ này là thời Homo sapien sapien tức
‘người hiện đại’; dưới ánh sáng Dịch Lý đúng nghĩa là
‘người văn minh’ và dịch cũng chính là ‘văn’, như đã
biết ở phần Dịch Lý, Thập can hay ‘chục con’ chính là
10 con số , là những dấu hiệu nguyên khởi của văn minh
khi người ta dùng nó như là một thứ văn tự.
Bài đã đăng:
Sử
thuyết họ HÙNG (bài
1)
Sử
thuyết họ HÙNG (bài
2)
Sử
thuyết họ HÙNG (bài
3)
Trở về Trang Chính
|