|
Bình Định nằm
dọc theo các tỉnh duyên hải. Quốc lộ 1 chạy ngang qua và quốc lộ
19 nối Qui Nhơn với các tỉnh Tây Nguyên. Bình Định nơi còn nhiều
di tích văn hoá lâu đời của dân tộc Chiêm Thành, những ngọn tháp
Chàm nguy nga, cao vời vợi còn tồn tại đến ngày nay. Ở huyện Phù
Cát có tháp Phúc Lộc tục gọi là Phốc Lốc. An Nhơn có tháp Cánh
Tiên. Tuy Phước có chùm tháp Bánh Ít, tháp Thanh Trúc ở Bình
Lâm, tháp Long Triều ở Xuân Mỹ. Qui Nhơn có tháp Ðôi. Bình khê
có tháp Thủ Thiện và chùm tháp Dương Long.
Bình Định có
núi Vọng phu
Có đầm Thị Mại,
có cù lao Xanh
Có Cân, có Cỏ,
có Gành
Có non, có
nước, có mình có ta
Ca
dao
Sự ảnh hưởng văn hoá
Việt-Chiêm, từ năm bính ngọ 1306, vua Chiêm Thành là Chế Mân
(Jaya Simhavarman III trị vì năm 1288-1307) cưới Huyền Trân công
chúa, sính lễ là hai châu Ô và Lý (Rí) vua Trần Anh Tông (trị vì
2393-1314) là anh của Huyền Trân công chúa thâu nhận 2 châu trên
đổi thành Thuận Châu và Hoá Châu và sai Đoàn Nhữ Hài vào kinh lý
đặt quan cai trị. Khi nhà Trần suy vi, vua Chiêm là Chế Bồng Nga
(Pô Bin swor trị vì 1360-1390) đã nhiều lần đánh chiếm lại đất
từ Nghệ An trở vào Nam, và tiến quân cướp phá các vùng phiá bắc
cho đến năm 1390 đánh phá tới sông Hoàng Giang, Chế Bồng Nga bị
bắn chết. Từ đó quân Chiêm Thành suy yếu, năm nhâm ngọ 1402 vua
Hồ Hán Thương (trị vì 1401-1407) sai Đỗ Mãn đem quân đánh Chiêm
Thành vua Chiêm Ba Đích Lại (Virabhadravarman) xin nhường đất
Thăng Bình, nhưng Thượng hoàng Hồ Quý Ly đòi thêm vùng Cổ Luỹ
Động (Quảng Ngãi)
Năm Canh Thìn (1470),
Hồng Ðức vua Chiêm là Trà Toàn đem quân đánh phá Hóa Châu, và
sai người sang Tàu cầu viện nhà Minh. Vua Lê Thánh Tôn tự cầm
quân, đem đại binh 20 vạn quân đánh Chiêm Thành, phá được kinh
đô là thành Ðồ Bàn (Vijara) và chiếm đất đến đèo Cù mông. Từ
đấy, miền nầy được sát nhập vào Đạo Quảng Nam, đặt tên là phủ
Hoài nhơn (có nghiã ôm ấp tình người) gồm ba huyện là Bồng sơn,
Phù ly và Tuy viễn.(1) Di dân người Việt đến lập nghiệp, người
Chiêm Thành đã rút về phía Nam. Để đề phòng việc Chiêm Thành đòi
hoặc cướp lại đất, nên các vua Đại Việt đã đưa quân tinh nhuệ
đến đây trấn thủ, đó là những tinh binh võ nghệ cao cường...
Những người lính này về sau ở lại lập nghiệp và họ cũng như con
cháu không quên giữ gìn truyền thống thượng võ.. vì sinh tồn của
lưu dân, họ đã có căn bản võ từng chiến đấu trong cuộc Nam tiến,
học thêm các thế võ của người Chiêm, Trung Hoa, xem gà đá sáng
chế ra Hùng Kê quyền ..phát triển ngành võ thuật
Từ cuối năm Mậu Ngọ
(1558), Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận hoá, lập nên xứ Nam Hà,
cho đến năm Năm Tân Mão (1771), Nguyễn Nhạc (? .1793) khoảng 29
tuổi cùng em, Nguyễn Huệ (1753-1792) 19 tuổi và Nguyễn Lữ
(?-1788) người làng Kiên Mỹ đất Tây sơn, sau này là thôn Kiên
Mỹ, xã Bình Thành, huyện Bình Khê nay là huyện Tây Sơn.. Thấy
được sự lợi hại của võ Bình Định, anh em Nguyễn Huệ đã áp dụng
võ vào chiến thuật trong cuộc khởi nghĩa ở Gò Tô đất Tây Sơn và
phát huy võ học Bình Định. Trong binh đội Tây Sơn, mỗi chiến sĩ
là một võ sĩ. Sự huấn luyện quân đội, căn bản là tập võ dựng cờ,
võ Bình Định đã tiến một bước dài, phát triển đầy đủ các môn
binh khí và đi vào nề nếp. Đặc điểm của võ Tây Sơn là mỗi thế võ
đều có bài thiệu đi kèm, tức là phần lý thuyết được diễn thành
thơ có vần, có điệu cho dễ đọc, dễ nhớ. Người học võ, phải thuộc
lòng bài thiệu, đọc đến đâu múa đến đó, lý thuyết ăn khớp với
thực hành. Lối học võ này rất tiện cho việc luyện tập nhiều
người cùng một lúc, được áp dụng trong trường huấn luyện quân
đội của Tây Sơn, còn sáng chế ra điệu trống trận Tây Sơn. Người
đánh, cùng một lúc sử dụng nhiều trống, tối đa 12 cái, và phải
dùng thế võ côn quyền mới đánh được. Ðánh bằng dùi cả hai đầu,
gọi là roi trống, vừa đánh cả hai bàn tay, cổ tay, cùi chỏ,
vai... làm cho tiếng trống phát ra những âm thanh khác nhau,
nghe rất hùng tráng. Lúc ra trận, dùng hai trống lớn, đánh theo
võ nhạc trận, âm thanh vang xa, dồn dập, khích động. (2)
Sự kiện chàng Lía tên
thật là Võ Văn Đoan, còn lưu lại một bài vè dài 1400 câu, lưu
truyền trong dân gian, đã phản ảnh phần nào tình trạng võ nghệ ở
Bình Định. Bình Định là vùng đất kết hợp giữa Văn và Võ. Ngành
võ thuật ở Bình Định đã nẩy sinh những thiên tài quân sự như nữ
tướng Bùi Thị Xuân ( ?- mất 1802) Tăng Bạc Hổ (1858-1906), Mai
Xuân Thưởng (1860-1887) và nhiều danh tài lỗi lạc khác…Võ Bình
Định lấy nhu thắng cương, các quyền cước biến hóa rất ngoại mục
và nguy hiểm, Quyền đánh bằng tay chân còn gọi là thảo bộ như :
thảo bộ Phượng Hoàng, Tứ Hải, Thiền Sư, Ngọc Trản, Thần Đồng,
Lão Mai Độc Thọ...
Roi : lối đánh võ bằng
gậy, còn gọi là côn. Roi phải vừa cỡ tay nắm người sử dụng thì
đường roi mới mạnh và nhanh. Có hai loại : roi
trường và roi đoản. Roi trường là roi trận, dài khoảng 2,50 mét,
đầu lớn là đốc roi, đầu nhỏ là ngọn roi, bài roi như Tấn Nhất Ô
Du
Ai về Bình Định mà coi
Con gái Bình Định múa roi đi quyền
Ca dao
Trong một
bài quyền hay trong một chiêu thức, võ sinh có thể kết hợp chiêu
thức của các bài quyền khác nhau để tạo ra chiêu thức mới, “kẻ
khéo thắng cốt ở chỗ thật mền dẻo, chứ không phải lấy nhiều hiếp
ít, lấy mạnh đề yếu”. Võ Bình Định đã bị thất truyền vì thời từ
thời vua Gia Long (trị vì từ 1802-1820) thống nhất sơn hà, đã
cấm đến 60 năm sau, Năm 1858, liên quân Pháp và Tây Ban Nha đánh
chiếm bán đảo Sơn trà, Ðà nẵng. Năm 1859, thành Gia định thất
thủ. Năm 1861, mất Ðịnh tường, đảo Côn lôn và Biên hòa. Năm
1867, Pháp chiếm nốt ba tỉnh miền Tây Nam kỳ là Vĩnh long, An
giang, Hà tiên.
Trước tình
thế khẩn trương, cần tăng cường quân đội để bảo vệ những phần
đất còn lại, phải chống lại giặc Pháp xâm lăng, vua Tự Đức trị
vì từ (1848-1883), năm 1867 nhà vua cho thành lập trung tâm
tuyển chọn võ quan ngay trên miền đất võ. Ðó là trường thi Hương
võ Bình Định tại phủ An Nhơn, nay là thôn An thành xã Nhơn lộc
huyện An Nhơn. Mở trường thi tuyển chọn nhân tài, từ đó các lò
võ ở Bình Định được phép công khai hoạt động
Thời thực
dân Pháp đô hộ, từng tổ chức thi đấu võ đài, lúc giao đấu có
chiếc quan tài để sẳn, hai người giỏi phải có một người chết,
dụng ý bọn Tây để tiêu diệt người tài có võ nghệ cao cường, làm
chia rẻ trong môn phái tránh việc nổi dậy chống Tây.. nhưng võ
Bình Định vẫn duy trì nhờ ”nghề cha truyền con nối”. nhiều võ sư
ý thức được thâm độc của thực dân, không vì danh lợi để giết
nhau nên họ không tham dự thi đấu võ đài.
Sau khi
đánh đuổi thực dân ra khỏi đất nước. Môn võ Bình Định đã được
phục hồi và phát triển, năm 1972 Hội võ thuật Bình Định được
thành lập với đầy đủ các môn võ của Bình Định. Trước đó chỉ có
Phân cuộc Quyền thuật Bình Định được thành lập và trực thuộc vào
Tổng Cục Quyền thuật Sài Gòn (Việt Nam Cộng Hòa) Ngày càng ngày
hoàn thiện hơn, nhiều võ đường mở khắp nơi ở miền Nam và thế
giới như Võ Tây Sơn, Sa Long Cương, ....
Sinh hoạt
văn hoá của người Việt khác nhau theo từng địa phương, hàng năm
vào những dịp đầu năm thường có lễ hội. miền Bắc có Hội Liêm,
hội Gióng, hát quan họ ở Bắc Ninh, hát trống quân, hát chèo, hát
ả đào... Nghệ Tĩnh hát Phường Vải, Huế hát Cung Đình, Quảng Nam
hát vè, hò Khoang. Các tỉnh miền Nam hát vọng cổ, cải lương...
riêng Bình Định cũng là cái nôi văn hoá của nghệ thuật tuồng
Hát Bội và Bài Chòi. Người viết tuồng hát bội ở Bình Định đó là
cụ Đào Tấn (1845-1907) lúc 19 tuổi đã soạn tuồng cổ, Tân Dã Đồn
nổi tiếng. Năm 22 tuổi đỗ cử nhân làm Tổng Đốc Nghệ An và thăng
quan đến Hiệp Tá Đại học sĩ, Thượng thư bộ Công làm quan trải
qua ba triều Tự Đức, Đồng Khánh, Thành Thái . Vì chống lại tay
sai Nguyễn Thân bị cách chức về hưu. Cụ lập ra trường học Bộ
Đình Vinh Thạnh (nay thuộc huyện Tuy Phước, Bình Định), dạy kịch
nghệ, cụ Đào Tấn để lại một kho tàng tuồng cổ giá trị và nhiều
người đã tiếp tục biên soạn tuồng hát cho đến ngày nay. Ngành
hát bội bắt đầu xuất hiện ở Bình Định, kết hợp từ lối hát ả đào
ở miền Bắc, dân ca, người Bình Định đã sáng tạo ra Hát bội, ảnh
hưởng đến các tỉnh ở Quảng Nam, các xã, quận, những gánh hát nầy
thường do anh em bà con dòng họ, lập gánh để hát trong những dịp
xuân về, họ dựng rạp hát nơi sân đình rộng, sân khấu có màn
phông cảnh đẹp. Thời chưa có điện, người ta dùng đèn, “đèn
măng-sông” (lampe à manchon). Thành phố lớn, gánh hát chuyên
nghiệp trình diễn trong những rạp lớn, bán vé vào cửa, ở Hội an,
Đà Nẵng có rạp hát tuồng Hoà Bình ở đường Phan Châu Trinh một
thời rất thịnh hành. Hát bội là một nghệ thuật sân khấu thu hút
khán giả thời chưa có cải lương, kịch nói, tân nhạc và phim
Nghệ
thuật Hát bội, có 2 yếu tố căn bản diễn xuất điêu luyện là hát
và múa theo điệu bộ, hát hay mà múa không đẹp thì không thể trở
thành một nghệ sĩ Hát bội đúng nghĩa. Mà muốn múa đẹp thì phải
học võ.. Không có yếu tố võ thuật thì sân khấu Hát bội không thể
linh động. “ Má ơi đừng đánh con đau. Để con hát bội làm tuồng
má coi “
Năm 1972
tôi tham dự buổi diễn thuyết của nhà văn Nguyễn Văn Xuân ở Hội
Khuyến Học Đà Nẵng, chủ đề nói về Nghệ Thuật Hát Bội, ông đã đưa
nhiều chi tiết của từng đào kép, Người nghệ sĩ tự vẻ mặt, hoá
trang sao cho phù hợp với vai của mình đóng. Đi đứng điệu bộ
phải oi hùng...Khán giả danh dự được mời cầm chầu, phải là người
biết rõ nghệ thuật Hát bội để đánh trống . Khi gió nhẹ phải đánh
thùng, rùng, rùng... run rẩy êm ái, lúc dông gió bão tố thì phải
gõ tung tung mạnh bạo, dứt khoát. Mỗi gánh hát đều phải có người
đánh trống hiểu sâu về ưu điểm, nhược điểm từng diễn viên để
dùng tiếng trống phát huy hoặc hạn chế... Chuyện cầm chầu cũng
là một nghệ thuật, người cầm chầu cần phải có trình độ thưởng
thức, phê bình vở diễn.. Nhà văn Nguyễn Văn Xuân đã mời các đào
kép nổi tiếng diễn những vai tuồng và phân tích cho khán giả
hiểu thế nào gọi là nghệ thuật Hát bội. Xã hội càng văn minh,
sân khấu kịch nghệ không ngừng phát triển, nhưng bộ môn Hát bội
những tuồng cổ điển tích như : Thoại Khanh Châu Tuấn, Lữ Bố hí
Điêu Thuyền ....dần dần bị quên lãng,
Bài chòi,
không ai biết chính xác hội Bài chòi
xuất hiện vào thời điểm nào?. Tuy nhiên, theo tác giả Hoàng
Chương-Nguyễn Có trong tác phẩm Bài Chòi và Dân ca Bình Định
viết những năm gần đây, Bình Định đã phục hồi lại trò chơi “đánh
bài Chòi” thu hút đông đảo người tham dự trong những lễ hội muà
xuân. Thời gian trước đây hội Bài
chòi không còn phổ biến
sâu rộng. Bài chòi thường tổ chức ở ngoài trời, như sân đình
hoặc một nơi thoáng rộng. Người ta dựng chín hay mười cái chòi
bằng tre chia làm hai dãy. Ở giữa là chòi của “anh hiệu” là
người có tài hô bài chòi từ những bài văn vần lục bát, theo điệu
hô thai độc xướng. Những bài văn này có khi là truyền khẩu, song
cũng có khi người hô ứng tác. Ngoài ra, một ban tổ chức chơi Bài
chòi gồm ba người chạy hiệu thu cờ, phát cờ; một thủ quỹ và ban
nhạc gồm nhiều nhạc cụ: trống cơm, trống cái, đờn cò, trống
chầu....Trong dân gian thường truyền khẩu
Cờ bạc là bác thằng bần
Cưả nhà bán hết, ra thân ăn mày
Nhưng Bài
chòi là hình thức vui chơi dễ dàng và đơn giản, dựa vào sự may
rủi, hên xuôi đầu năm. Bộ bài chòi gồm 27 hoặc 30 cặp, chia làm
3 pho: Văn, Vạn, Sách. Mỗi pho có 9 hoặc 10 cặp bài có tên gọi
riêng. Tùy theo mỗi tỉnh, tên gọi các con bài thay đổi, mỗi pho
có chín cặp và ba cặp yêu. Trên những con bài chỉ có tượng hình,
không ghi một chữ nào cả
1.
Pho văn gồm chín cặp: Chín gối, Nhì bánh, Ba bụng,
Tứ tượng, Ngũ rốn, Sáu tiền,, Bảy liểu,
Tám miếu, Chín Cu.
2.
Pho vạn gồm chín cặp: Nhất trò, Nhì bí, Tam quăng,
Tứ cẳng, Ngũ trợt, Lục trạng, Thất vung, Bát bồng, Cửu chùa.
3.
Pho sách gồm chín cặp :
Nhất Nọc, Nhì Nghèo, Ba Gà, Tứ Xách, Ngũ Dụm, Sáu
Hường, Bảy Thưa, Tám Dây và Cửu Ðiều.
Ngoài 3
pho 27 cặp, còn có 3 cặp yêu màu đỏ là Lão-Thang-Chi. Ðôi khi
người ta rút 3 cặp bài bất kỳ, mỗi pho rút một cặp, thế vào đó 3
cặp Yêu. Lão thì gọi Ông Ầm, Thang gọi là Thái Tử và Chi gọi là
Bạch Huê. Miễn sao bộ thẻ Bài chòi vẫn giữ y số ấn định là 27
cặp, chia đều mỗi pho 9 cặp. Người ta dán 27 con bài lên thẻ tre
ngắn đều nhau bỏ vào ống, chân thẻ bài tròn nằm hướng miệng ống.
Ngoài ra còn 27 con bài cũng y như vậy, dán vào thẻ lớn. Cứ 3
con bất kỳ dán chung vào một thẻ. Có 9 thẻ phát mỗi chòi một
thẻ, nên thẻ lớn còn gọi là thẻ chòi. Người tham dự mua đủ chín
thẻ thì cuộc chơi bắt đầu, anh Hiệu hai tay ôm ống đựng thẻ lắc
mạnh nhiều lần, khi các con bài đã trộn lẫn vào nhau, anh Hiệu
đưa ống cao hơn tầm mắt của anh ta, để có sự công bình và rút
một con bài. (nhiều nơi người ta đóng hay cột cái ống bài trên
cột nhà cao hơn đầu người). Mọi người hồi hộp chờ đợi tên con
bài đang nằm trong tay Hiệu. Lúc ấy tiếng trống chầu thúc liên
hồi, dàn nhạc cũng dồn dập tưng bừng, kích thích lòng mong đợi
của mọi người. Nhưng Hiệu chưa vội đọc tên con bài. Anh ta múa
may, vái chào mọi người rồi mới cất giọng hô điệu bài chòi bằng
hai câu thơ hay cả bài lục bát tùy thích.
Hiệu phát bài
đã đủ
Cho hiệu thủ bài tỳ
Hiu hiu gió thổi ngọn
tre,
Chín chòi lẳng lặng mà
nghe con... bài chường.
Sau con
“bài chường” là những con bài kế tiếp khác. Hiệu lại tiếp tục
lắc ống rồi rút con bài khác. Và cũng theo thủ tục hô bài như đã
nói trên. Ban đầu trong ống có 27 thẻ bài, nhưng bớt dần theo
mỗi lần rút thẻ cho đến khi có một chòi nào trúng được ba lần,
tức là bài đã tới thì mới chấm dứt ván bài. Khi Hiệu hô xong con
bài, nếu có chòi trúng lần thứ ba, thì gõ mõ lên ba tiếng, hoặc
trống đánh lên ba tiếng, có chòi lại kêu lên “tới ! tới !”. Nghe
tiếng ấy, người chạy hiệu liền đem một cây cờ chạy đến giao cho
người chơi. Chòi “tới” lãnh cờ, cắm lên mái chòi cho mọi người
chiêm ngưỡng “vận hên đầu năm” của mình. Trống đánh lên ầm vang,
tạo nên không khí ngày hội khá vui. Khi bài tới, đến ván thứ tám
thì xong một hội. Lẽ ra phải chín ván vì có chín chòi đóng tiền,
nhưng phải dành tiền ván thứ chín để ban tổ chức chi phí cuộc
chơi và trả tiền công cho gánh bài chòi. Vậy khi vãn một hội thì
ban tổ chức được một khoản tiền bằng số tiền cáp của một chòi;
và cứ xong một hội thì ít nhất cũng phải có một chòi thua. Xong
một hội, trống chầu vang lên một hồi rất dài. Ban nhạc cũng tạm
nghỉ giải lao, chuẩn bị cho hội khác. Người đánh bài nếu muốn
chơi tiếp thì vẫn ngồi trên chòi của mình; nếu không thì xuống
để chòi trống cho người khác lên thaỵ. Ở Quảng Nam Bài chòi thời
xa xưa là trò chơi rộm rả vào dịp tết, có nơi kéo dài cả tháng,
nhưng không bắt buộc phải dựng chòi, người ta tụ tập ở các đình
làng, ngồi từng nhóm với nhau trên những dãy ghế dài vui chơi
thỏa mái. Người Việt sống phần lớn về Nông nghiệp, ở nông thôn
đầu xuân thường rảnh rỗi, nên Tết thường kéo dài hơn các nước kỷ
nghệ Tây Phương, họ chỉ mừng Tết một vài ngày.
Tháng giêng là tháng ăn chơi
Tháng hai cờ bạc tháng ba rượu chè
Ca dao
Bài chòi
là một trò chơi giản dị và lành mạnh. Mặc dù có ăn thua,
nhưng không ai coi đây là dịp để ăn tiền người khác. Cái thú vị
của trò chơi bài chòi được thưởng thức sinh hoạt văn nghệ.
Anh Hiệu là diễn viên chính. Anh hô những bài
lục bát trên nền nhạc của giàn nhạc tấu. Các câu lục bát anh hô
lên có thể là những câu cũ đã quen tai từ những lần chơi trước ở
đâu đó và cũng có những câu mới mẻ đầy thú vị, hay những câu rất
dí dỏm
Khi người
hô, đã sử dụng các câu hát gọi trực tiếp tên quân cờ để người
chơi dễ theo dõi. Dù đã có đôi chút biến đổi song hội Bài
chòi vẫn giữ được đặc
thù riêng, là một sinh hoạt văn hóa trong những dịp xuân. Các
câu thai là những ca dao được sử dụng nói về tình yêu quê hương
đất nước, ca ngợi tình phụ mẫu, tình phu thê, đề cao những đức
tính, phẩm chất tốt đẹp của con người, phê phán những tệ nạn xã
hội, những tập tục lỗi thời, lạc hậu...
Một
hai bậu nói rằng không,
Dấu chân ai đứng bờ sông
hai người.
hay
Một hai họ nói rằng không
Dấu chân ai đứng bờ sông hai người
Tứ cẳng
Chú giỏi sao chú hổng đi
thi,
Cứ ăn xó bếp, lại ngủ khì
chuồng trâu.
Chú ơi, tui chẳng ưng
đâu,
Trạng không xứng trạng,
có hầu cũng uổng công.
Lục trạng !
Ngoài ra, tên con bài cũng
được gọi trại đi hoặc đổi khác để ứng vào một câu thơ hoặc câu
ca dao nào đó. Gọi khác chữ, chẳng hạn Bảy thưa thành Bảy hột.
Gặp con bài này, Hiệu sử dụng một trong hai câu thơ sau đây làm
câu thai:
Ước gì em chửa
có chồng.
Anh về thưa với
cha mẹ, mang rượu nồng đón em.
hoặc:
Còn duyên mua
thị bán hồng,
Hết duyên buôn
mít cho chồng gặm xơ.
Gặm xơ rồi lại
gặm cùi,
Còn ba, bảy hột
để lùi cho con.
Nói trại, chẳng hạn Ngũ
rốn thành Ngũ rún rồi thành Ngũ ruột:
Rủ nhau đi đánh
bài chòi
Để cho con khóc
đến lòi rún ra.
hay:
Thò tay vào
ngắt ngọn ngò,
Thương em đứt
ruột, giả đò ngó lơ
Có khi dùng câu đố làm câu
thai, trường hợp này thì nội dung của câu đố đã diễn tả tên con
bài nên câu chót không cần phải trùng chữ với tên con bài nữa.
Chẳng hạn, gặp con bài Ba gà, Hiệu có thể hô các câu thai:
Mình vàng bận
áo mã tiên
Ngày ba bốn vợ
tối nằm riêng một mình.
Ba gà
Chiều chiều con quạ lợp nhà,
Con Cu chẻ lạt, con gà
đưa tranh
Ai làm cho em bén duyên
anh
Cho mây lầy núi, cho
trăng lấy gió ngàn
Ba gà
Khôn ngoan đối đáp người ngoài
Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”.
Ba gà
Có trường hợp
không cần nêu tên con bài mà chỉ giải nghĩa đầy đủ là được. Gặp
con bài Thái tử, có thể dùng câu:
Thuyền ai thấp
thoáng bên bờ,
Hay thuyền ông
Lữ đợi chờ con vua.
Thái tử
Thỉnh thoảng
còn dùng những câu thai mơ hồ, người xem khó đoán được tên con
bài Nhì bánh mà Hiệu đang nắm trong tay:
Biết rằng ai có mong ai
Sao trời lại nỡ xé hai thế này
Có sao hôm mà chẳng có sao mai
Hai đàng hai đứa tình phai hoa tàn.
Nhì bánh
Cũng có lúc, cả bốn câu đều nhắc đến tên con bài.
Gặp con bài Chín cu thì câu thai sau đây điển hình cho trường
hợp này:
Tiếc công bỏ mẳn cho cu,
Cu ăn, cu lớn, cu gù, cu bay.
Cu say mủ cả, áo dài,
Cu chê nhà khó, phụ hoài duyên anh!
Như con
bài Bạch huê dùng những câu thai sau đây tuyệt hay, từ thứ dân
cho đến vua cũng cần..con người từ đó sinh ra.
Ong qua muốn đậu, bướm vào muốn bu
Bốn muà xuân hạ thu đông
Khi búp khi nở, khi xù, khi tươi
Quá xuân ngó thấy mỉn cười
Sắc hay vương vấn mấy người tài danh
Có bông, có cuống, không cành
Ổ trong có mẹ, bốn vành có tua
Nhà dân cho chí nhà vua
Ai ai có của cũng mua để dành
Tử tôn do thử nhà sanh
Bạch huê mỹ hiệu xin phành ra coi
Hay
Con vợ tui tốt tợ tiên sa,
Coi trong thiên hạ ai mà dám bì (sánh)
Lưng khòm rồi lại da đen
Còn hai con mắt tợ khoen trống chầu.
Giò cao đít lớn to đầu,
Lại thêm cái mặt cô sầu bắt ghê.
Việc làm trăm việc tui chê,
Chỉ thương có chút cái "Bạch Huê" nó tròn.
Con bài
Bạch Huê biểu tượng cho Yoni, phải có con bài Nhất Nọc cho
Linghe đúng theo tạo hoá đã sắp đặc,
Đàn ông ta có cái nêm
Đàn bà sinh nhuỵ lại thêm mẽ đèn
Đàn bà sáng tựa hoa sen
Đàn ông giữa cửa, nọc chèn hai bên
Nhất
nọc
Đi đâu mang sách đi hoài
Cử nhơn chẳng thấy, tú tài cũng không
Nhứt
trò
Còn duyên làm cách làm liêu
Hết duyên bí thúu, bầu thiu ai thèm
Nhì bí
Vợ đôi, chồng một ra gi
Mỗi người mổi bụng ở thì sao nên
Ba
bụng
Lòng thương chị bán thịt heo
Hai vai gánh nặng, còn đèo móc cân
Tứ móc
Tới đây giả gạo ăn chè
Ai mà không giã, ngồi hè trợt ăn
Hay
Chiều chiều vác
cuốc đào lươn
Bùn trơn, lươn trợt, người thương đâu rồi
Ngũ trợt
Chú giỏi sao chú chẳng đi thi
Cứ ăn ở xó bếp lại ngủ khi chuồng trậu
Chú ơi ! tôi chẳng ưng đâu
Trạng không xứng trạng, có hầu cũng uổng công
Lục trạng
Có thương, có nhớ không em
Sao em chẳng lại, để anh mong đêm nhớ ngày
Nhất gối
Ngồi buồn nghĩ chuyện đời nay
Trai tài, gái sắc sao tày ngày xưa
Đời nay ăn sớm, ngủ trưa
Ngồi lê đôi mách bỏ thưa việc nhà
Bảy thưa
Đôi ta như đũa trong so
Không chọn mà gắp, không đo mà đều
Đôi ta đã quyết thì liều
Tỉ như con trẻ thả diều đứt dây
Tám dây
Em nghe anh tỏ lời nầy
Em đòi để bỏ chuyện rày sao nên
Tào khang nghiã ở cho bền
Liễu mai hoà hợp, đôi bên thuận hoà
Bảy liễu
Lúc rày đã có trăng non
Để tôi lên xuống có con em bồng
Bát bồng
Xưa kia ai biết ai đâu
Bởi chung miếng thuốc, miếng trầu nên thương
Vì tình cho dạ vấn vương
Bốn phương, tám hướng, nàng nương miếu nào
Tám miếu
Em thương anh, cha mẹ cũng phải theo
Chiếc ghe buồm đang chạy, quẳng neo cũng ngừng
Tam quăng
Một cây làm chẳng nên non
Ba cây dụm lại thành hòn núi cao”.
Ngũ Dụm:
Nghĩ duyên lận đận mà buồn
Thương nhau vàng võ, má hường kém tươi”.
Sáu Hường
Gió đưa trăng thì trăng đưa gió
Quạt nọ đưa đèn, đèn có đưa ai
Trăm năm đá nát vàng phai
Ðá nát mặc đá, vàng phai mặc vàng
Trông cho én nhạn một lòng
Lồng đèn thiếp xách, mâm tơ hồng chàng bưng”.
Tứ Sách
Nội dung
câu thai cũng luôn thay đổi. Như con bài Nhì nghèo, anh Hiệu
phải hô mỗi lần khác nhau, gây thêm chú ý và hấp dẫn người chơi
Bài chòi
Một, anh để em ra,
Hai, anh để em ra.
Về em buôn, em bán
Trả nợ bánh tráng, trả nợ bánh xèo.
Còn dư trả nợ thịt heo,
Anh đừng lầm em nữa, kẻo mang nghèo vì em.
***
Chắp tay với
chẳng tới kèo
Cha mẹ anh
nghèo chẳng cưới được em!
***
Cây khô tưới
nước cũng khô,
Vận nghèo đi
tới xứ mô cũng nghèo!
***
Nhiều quan thêm
khổ thằng dân,
Nhiều giầu thì
lại chết trân thằng nghèo.
***
Thấy anh, em cũng muốn theo
Chỉ sợ anh
nghèo, anh bán em đi.
***
Buồn từ trong
dạ buồn ra.
Buồn anh ở bạc,
buồn cha mẹ nghèo.
***
Ngày thường
thiếu áo thiếu cơm
Đêm nằm không
chiếu lấy rơm làm giường.
Dù dơi dép bướm
chật đường,
Màn loan gối
phụng ai thương thằng nghèo.
Vì vậy, hình thức vui chơi
này không chỉ có ý nghĩa giải trí đơn thuần. Đồng thời, còn có
thể xem hội Bài
chòi chính là một sân
khấu trình diễn của làn điệu dân ca. Người tới bài có máu văn
nghệ, hỏi đố bằng thơ, anh Hiệu cũng phải biết đáp bằng thơ.
Chẳng hạn như câu hỏi đố:
Cái gì có trái không hoa?
Cái gì không rễ cho ta tìm tòi?
Cái gì vừa thơm vừa thỏ
Kẻ yêu người chuộng, kẻ dò tình nhân.
Cái gì mà chẳng có chân?
Cái gì không vú xây vần lắm con?
Cái gì vừa trơn vừa tròn?
Mười hai tháng chẵn không mòn chút nao.
Cái gì mà ở trên cao?
Làm mưa làm gió làm sao được vầy.
Cái gì mà ở trên cây?
Trèo lên tụt xuống khen ai là tài.
Cái gì chỉ có một tai?
Cái gì một mặt cái gì ngẳng lưng?
Cái gì anh gảy từng tưng...
Nếu
không nhanh trí, có tài ứng đối, thuộc nhiều ca dao, câu đố...
Hiệu khó mà vượt qua nổi. Hiệu thưa...
Cây súng có
trái không hoa.
Tơ hồng không
rễ cho ta tìm tòi.
Quế ăn vừa thơm
vừa tho,
Kẻ yêu người
chuộng, kẻ dò tình nhân.
Cái ốc ma không
có chân.
Con gà không vú
xây vần lắm con.
Sợi chỉ vừa
trơn vừa tròn,
Mười hai tháng
chẵn chẳng mòn chút nao.
Ông trời mà ở
trên cao,
Làm mưa làm gió
làm sao được vầy.
Con vượn mà ở
trên cây
Trèo lên tụt
xuống khen ai là tài
Cối xay đậu có
một tai,
Trống mảng một
mặt, mâm bồng ngẳng lưng.
Đàn bầu anh gảy
từng tưng...
Sinh hoạt và phong tục mỗi
điạ phương đều có những đặc thù riêng, nhưng không tách khỏi
dòng văn hoá chung của dân tộc Việt. Các tỉnh miền Nam thích hát
vọng cổ, cải lương. Xuân về có nhiều trường đá gà, sòng me ..
Nhưng về Hát bội hay chơi Bài chòi thì không được phổ biến sâu
rộng như các tỉnh miền Trung. Ngày nay người Việt ở hải ngoại
đời sống vật chất đầy đủ, nhưng chúng ta khó tìm được lại những
kỷ niệm một thời đã đi qua. Tiếc rằng nghệ thuật Hát bội hay
chơi Bài chòi là trò chơi truyền thống đã mai một dần, đến nay
hầu như đã lãng quên
Tài liệu tham khảo:
(1) Những câu chuyện Lịch
Sử của Trần Gia Phụng Toronto 1999
( 2) Ðào Ðức Chương Giai
phẩm Xuân Tây Sơn Mậu Dần 1998)
(3) Bài
chòi dân ca Bình Định Hoàng Chương - Nguyễn Có nhà xuầt bản
Sân Khấu
(4) Tục
Ngữ Ca dao dân ca Việt Nam Vũ ngọc Phan nhà bản khoa học Hà Nội
(5) Nhà Tây Sơn Trần Gia Phụng nhà xuất bản
Non Nước Toronto 2005
Trở về Trang Chính |