|
Những điểm chính trong Hệ Thống Giáo
Dục Ðức
Viện nghiên cứu
PISA-Studie „Programme for Internationnal Student Assessmet /
Programm fuer Internationale Schueler Bewertung“ làm việc
giống như viện nghiên cứu OECD (Organisation fuer
wirtschaftliche Zusammenarbeit und Entwicklung) tham
khảo về hệ thống Giáo dục Ðức so sánh với 32 Quốc gia trên thế
giới và phê bình hệ thống Giáo dục Ðức tồi tệ „Miserable/lousy“.
Gây nhiều bàn cãi sôi nổi về việc cải tổ giáo dục cần phải mở
rộng Ðại học đào tạo nhiều nhân tài đáp ứng nhu cầu xã hội.
Cộng Hoà Liên Bang Ðức có
100 trường Ðại Học(university) và Ðại Học kỷ thuật
(technical university) và 141 trường Ðại Học chuyên nghiệp(Fachochschule/
higher education institution) 46 trường Ðại Học nghệ
thuật(Kunsthochschulen/college of art) 7Ðại Học tổng hợp
(Gesamthochschulen/ polytechnic) ngoài ra còn hai trường
Ðại Học quân sự tại Muenchen và Hamburg (1) Hiện nay vì nhu
cầu đời sống cũng có một số Đại học tư nhưng không nhiều lắm
Chương trình Giáo dục phổ thông
Hai năm đầu tiểu học (lớp
một và hai) không ghi điểm, đánh giá bài làm qua các ngôi sao **
hay hình tượng trưng cho khuôn mặt vui, buồn, nhiều trường trong
các tiểu bang vào năm lớp 2 học thêm giờ sinh ngữ Anh hay Pháp
văn.
Ðiểm tính từ lớp 3, nửa
niên khóa đầu của lớp 4, được cấp chứng chỉ xếp hạng gọi là (Ubertrittszeugniss/
defection certificare). Ðể Phụ huynh chọn lựa ghi danh cho
con theo các trường trung học khác nhau. Tùy theo kết qủa điểm
ghi trong chứng chỉ. Ðiểm 2,33 được ghi danh theo học Gymnasium
; từ 2,40 Realschule ; 3,5 Hauptschule số điểm từ 3 đến 3.5 có
thể ghi vào trường Gesamtschule.
Trường Gymnasium / Grammar school *
Thời gian học 13 năm, học
sinh từ lớp 4 đạt số điểm 2,3 ghi danh trực tiếp vào trường
Gymnasium. Lớp 5 đến lớp 10 (đệ nhất cấp) từ 11 đến 13 (nhị cấp)
hay gọi là Kollegstufe. Từ lớp 5 học sinh ngữ một, (học sinh có
thể chọn Anh hoặc Pháp văn làm sinh ngữ chính). Từ lớp 7 học
thêm sinh ngữ hai, Anh, Pháp văn, La Tinh, tùy ý học sinh chọn
lựa . Chương trình học nặng phần lý thuyết hơn thực hành, các
môn học như : khoa học tự nhiên, lịch sử, địa lý, sinh vật, hóa
học, vật lý, kinh tế chính trị, nhạc nghệ thuật, văn chương Ðức,
giáo lý. Ðược chia ra các ban : khoa học tự nhiên, toán lý hóa,
kinh tế sinh ngữ, tất cả các môn học phải đạt điểm như quy định,
học sinh phải học đều tất cả các môn dù 2 môn phụ điểm 5 cũng bị
ở lại lớp ( theo chương trình trao đổi học sinh lớp 11 ở Đức
sang Mỹ học lớp 11, nhưng có nhiều học sinh sang Mỹ học lớp 12
và thi đậu Tú Tài Mỹ, nhưng về Đức phải học lại lớp 12 và lớp
13 để thi lại Tú Tài Đức đôi khi không đậu). Năm 2005 chính phủ
Đức thay đổi hệ thống giáo dục rút ngắn 1 năm bỏ năm lớp 13.
nhưng chương trình G8 tăng thêm giờ học, bởi vì lớp 13 được chia
ra cho các năm học dưới
* (
is a secondary school which pupils attend for nine years and
which leads to ABITUR “ the A. level 2 The final two year at a
Gymnasium are known as the Kollegstufe.)
Realschule và
Fachoberschule / German Secondary school (*)
Thời gian học 12 năm từ lớp 5 đến lớp 10 (nhất cấp)
lớp 11 đến lớp12 (nhị cấp). Chương trình học có phần lý thuyết
,thực hành, như nấu ăn, đánh máy.. học một sinh ngữ, các môn học
cũng giống trường Gymnasium, tuy nhiên chương trình nhẹ hơn có
tiêu chuẩn điểm riêng. Sau lớp 10 chuyển sang trường
Fachoberschule học 2 năm thi lấy bằng tú tài
Nói
chung các học sinh học hai trường Gymnasium/ Realschule xong lớp
10 thi lấy bằng trung học đệ nhất cấp, có thể học nghề các ngành
cao như : ngân hàng, bảo hiểm.vv..Tốt nghiệp tú tài hệ 12 năm
học sinh ghi danh vào trường Fachhochschule (Ðại Học chuyên
nghiệp) học trình 4 năm ra trường Kỷ sư chuyên về thực dụng. Nếu
muốn ghi danh vào trường Ðại Học kỷ thuật (technical
university) phải qua kỳ thi.
*
(Is a type of German secondary school.)
Hauptschule/ Junior
high school. (*)
Trung
học hệ 5 năm, (Hauptshule) trường nầy dành cho các học sinh
không đủ điểm ghi danh tai 2 trường Gymnasiumschule và
Realschule . 70% học sinh người ngoại quốc, phụ huynh là khách
thợ ít chú ý đến con cái, hoặc muốn con sớm đi học nghề, để đỡ
gánh nặng gia đình ? Tuy nhiên nếu học sinh lớp 5 Hauptschule
đạt được số điểm cao (có thể ghi tên vào trường Gymnasium hay
Real- nhưng phải học lại lớp 5). Chương trình nặng về thực hành
hướng nghiệp, học một sinh ngữ, đến lớp 9 qua kỳ thi tốt nghiệp,
trung học đệ nhất cấp, từ đó học sinh đi học các nghề như thợ
điện, mộc, bán thịt heo..nếu học sinh có số điểm cao muốn tiếp
tục học, thi tú tài và vào Ðại Học, mất thời gian dài hơn.
*
(Hauptschule caters for the last five years of the compulsory
nine years at school in Germany. In Austria a Hauptschule covers
school years five to eight and also offers opportunities for
young people who wish to go on to higher education. In
Switerzland compulsory schooling is coverd by a Volksshule)
Gesamtschule/
comperhensive school
Trường tổng hợp cả 3 loại trường trên, để nâng đỡ
các học sinh không đủ tiêu chuẩn vào Gymnasium và Real, nhưng
không muốn vào trường Hauptschule, theo học trường nầy nếu đạt
điểm tốt có thể theo học các trường cao hơn như mong muốn. Mỗi
lớp tối đa khoảng 28 và ít nhất 14 học sinh. Tuỳ theo từng tiểu
bang, các sách Giáo khoa cũ ít nhất 10 năm chưa cập nhật hóa
theo chương trình về lịch sử và tiền tệ (2)
Ngoài ra còn có trường dành cho học sinh bị khuyết
tật bẩm sinh, là nguồn an ủi cho người bất hạnh, họ được ưu tiên
tìm việc làm theo khả năng được đào tạo, hưởng nhiều đặc ân
riêng của xã hội.Học sinh xong tú tài (Abitur) luôn có nhiều cơ
hội tiến thân, nếu đạt điểm cao được học bổng, hãng Siemens nhận
sinh viên cấp tiền học cho các niên học theo các hệ Bachelor hay
Ðại Học chuyên nghiệp các nơi như Berlin, Nuernberg, Paderbon.
ngoài thời gian học tại các trường và thực tập tại hãng ra
trường làm việc cho Siemens.
Ðại Học university /
Ðại Học kỷ thuật technical university
Sinh viên năm đầu thường ghi danh vào cá nguyệt mùa
Ðông, tùy thuộc điểm bằng tú tài, ghi danh theo ưu tiên tại các
Ðại Học.(thí dụ tại Munich nhận ưu tiên cho điểm cao vào các
phân khoa tự do hay thi tuyển, không đạt tiêu chuẩn sinh viên
phải chọn trường xa
Học sinh tốt nghiệp tú tài hệ 13 năm ghi danh Ðại
Học, tùy mỗi ngành phải thi tuyển hay chờ đợi. Chương trình học
chuyên về lý thuyết, thời gian dài 4 năm rưởi, (9 Semester) và
cần thêm thời gian vào các hãng xưởng thực tập. Các ngành kỷ
thuật phải làm các luận án cử nhân (Diplomsarbeit/ do ones
diploma), tuy nhiên nhiều sinh viên không thể xong học trình
như ấn định, thường kéo dài học trình trung bình 12, 13 Semester
hay dài hơn. (3)
Ngành luật thi ra trường không cần làm luận án,
nhưng phải trải qua thi viết và vấn đáp về hình luật, dân luật..
nếu làm luật sư cần thời gian thực tập. Sinh viên các ngành xong
cử nhân muốn làm luận án tiến sĩ phải mất hơn 3 năm, tuy nhiên
có trường hợp vừa đi làm vừa làm luận án tiến sĩ nếu được một
giáo sư Ðại Học đỡ đầu. Ngành Y Khoa học trình dài 7 năm (cả
thực tập) tốt nghiệp xong, phải làm luận án riêng để có danh
hiệu tiến sĩ Y khoa. ( Dr. Med) Muốn học chuyên môn, giải phẩu..
tiếp tục thêm một thời gian vài ba năm.
Hiện
nay Ðại Học kỷ thuật và chuyên nghiệp có thêm hệ Cao học
(Master, Magister) Bachelor, chương trình luôn được
thay đổi theo nhu cầu phát triển.
Fachhochschule /
higher education institution. (*)
Trường
Ðại Học (cao đẳng)* chuyên nghiệp nặng thực hành, chương trình
kéo 8 Semester, (gồm 6 lục cá nguyệt lý thuyết và 2 lục cá
nguyệt thực hành). Không tính thời gian (Diplomarbeit)
trường được thiết lập đầy đủ dụng cụ máy móc áp dụng thực tập
tại chổ. Sinh viên được chia từng toán để thực tập, bắt buộc
tham dự giờ giảng dạy. Ra trường kỷ sư chuyên nghiệp, (Diplom
FH) trường nầy đào tạo hơn 50% về kỷ thuật ứng dụng, hơn
26% về xã hội, công chức 11 %.
Sinh viên theo học các trường trên không thể tự rút
ngắn học trình, các giờ giảng dạy, thực tập chỉ được thực hiện
một lần trong lục cá nguyệt, nếu thi rớt hay bị bệnh phải chờ
đến lục cá nguyệt sau, sinh viên có thể lấy bài từ Internet, để
làm bài tập
(tạm
dịch là “Ðại Học chuyên nghiệp” nếu dịch “trường cao đẳng” e
không chỉnh bởi cao đẳng bên Việt Nam chỉ học 2 năm tức hệ Cán
sự không thể gọi là kỷ sư được) or FH for short, are higher
education institutions which generally offer relatively focused
and practical courses of study. they were set up principally to
cover the areas of technology, natural sciences, and
art....Austria and Switterland have similar systems)
Chương trình huấn
nghiệp và tu nghiệp / for an occupation
Huấn nghiệp (Berufsausbildung/ training) tốt
nghiệp trung học, học sinh chọn học các nghề theo khả năng thích
hợp, học trình kéo dài từ 2 đến 3 năm. Tất cả 400 ngành nghề
khác nhau, ngoài số giờ học lý thuyết, học sinh cần phải thực
tập tại các hãng xưởng, người thợ tốt nghiệp thường có kiến
thức sâu rộng, trên hai phương diện lý thuyết và thực hành .Sau
3 năm học thi ra trường lấy bằng tốt nghiệp, đi làm thời gian có
thể ghi tên học thêm vài ba năm lấy bằng thợ cả (Meister)
hoặc làm đơn xin sở Lao động (Arbeitsamt) đổi nghề người
nào siêng năng đi làm và học các trường ban đêm, để tiến thân..
Người
Việt đến Ðức định cư, nếu có bằng cấp phải dịch ra tiếng Ðức và
cả bản gốc gởi đến cơ quan chuyên môn để công nhận giá trị văn
bằng.(Zeugnisanerkennungsstelle) Tùy theo tú tài các ban
(A,B,C) tại Việt Nam để thẩm định có thể học ngành nào phù hợp
với khả năng. Tú tài trước 1975 được công nhận tương đương với
tú tài Pháp (Bakkalaureatzeugnis). Tùy theo văn bằng các
chứng chỉ Ðại Học, cử nhân, gởi cơ quan cộng nhận bổ túc cho
bằng tú tài, được chia làm hai nhóm 1 và 2 (nhóm 1 vào năm đầu
theo ngành qui định, nhóm 2 vào năm dự bị. Trình độ tiếng Ðức
trung cấp, nhưng phải qua kỳ thi tiếng Ðức để vào Ðại Học hay dự
bị, đủ khả năng tiếng Ðức có hai hướng chọn trường: Ðại Học, Ðại
Học kỷ thuật hoặc trường Ðại Học chuyên nghiệp . Tất cả văn bằng
tốt nghiệp các trường Ðại Học tại Việt Nam, có thể theo học từ
năm đầu, không cần học dự bị, (tuy nhiên tùy theo ngành, có tiểu
bang công nhận vài môn đã học ).
Tốt nghiệp phổ thông sau năm 1975 tại Việt Nam, bằng
nầy chỉ công nhận tương đương học trình lớp 10 hay 11 tại Ðức,
phải học ít nhất 3 năm thi lấy tú tài. Sau đó ghi danh vào Ðại
học kỷ thuật hay chuyên nghiệp. Nhiều trường hợp đã tốt nghiệp
và làm việc tại Việt Nam như : Bác sĩ giải phẩu nhiều kinh
nghiệm trên chiến trường, chỉ công nhận làm phụ tá Bác sĩ với
điều kiện thông hiểu Ðức ngữ. !! (trong thời gian qua nhờ sự
trao đổi văn hoá, giưã hai nước Việt-Đức, chính phủ Đức nhận một
số Sinh viên từ Việt Nam du học với đìều kiện dễ hơn.) thí dụ
tốt nghiệp kỷ sư có thể làm luận án tiến…, Nhưng trước đây người
Việt tị nạn dù tốt nghiệp kỷ sư cơ khí Phú Thọ sau năm 1975 nếu
tiếp tục học lại Ðại Học phải lấy lại cử nhân và tiến sĩ mất 9
năm.(không tính thời gian học tiếng Ðức).
Nghề
Linh mục, Tu sĩ và Y tá học xong Ðức ngữ thông thạo có thể tiếp
tục làm việc. Tuy nhiên các nước Á Châu sinh viên du học, tốt
nghiệp về nước, có tiêu chuẩn dễ hơn, nhiều Ðại Học nhận sinh
viên cho làm luận án tiến sỉ (Doctor/Doctoral degree) cao học
(Master / master degree). Luận án MA (Master) phải
làm bằng tiếng Anh, mỗi trường dành cho sinh viên ngoại quốc có
tỉ lệ %, trong mỗi học trình.
Người
tị nạn may mắn tìm đến vùng đất tự do, làm lại cuộc sống từ số
không và hội nhập vào xã hội mới. nhưng phải đánh đổi cả sinh
mệnh và nghề nghiệp.., đời cha mẹ không tiếp tục hành nghề kỷ
sư, bác sĩ, luật sư ... nhưng con cháu ảnh hưởng truyền thống
gia đình, theo học các Ðại Học nổi tiếng, rất thành công tại Ðức
.
Mỗi quốc gia có sinh hoạt về Giáo dục và điều kiện
khác nhau. Nước Ðức văn minh cường quốc tại Âu Châu, nhưng phần
lớn người lớn tuổi tị nạn, bị dậm chân tại chỗ dù có khả năng.
Nếu so sánh tại Hoa Kỳ, Úc, Canada, Pháp..Những người tốt nghiệp
Ðại Học Việt Nam có thể ghi danh học Ðại Học lấy lại bằng cao
học hay tiến sĩ. Bác sĩ tu nghiệp thời gian ngắn hành nghề tiếp
tục... Người tị nạn trước đây gốc từ các quốc gia Ðông Âu như:
Ba Lan, Tiệp, Nga.. giống như người Việt, dù tốt nghiệp Ðại Học
đến Ðức đều không công nhận .
Nước
Ðức thống nhất về lãnh thổ, nhưng chương trình giáo dục chưa
thống nhất, các tiểu bang như Thueringen và Sachsen trường
Gymnasium học 12 năm. (gây dư luận sôi nổi ngày 26 /4/2002 tại
trường trung học Gutenberg Gymnasium đang tổ chức kỳ thi tú tài
Học sinh Robert S. mang súng đến bắn chết 16 người trả thù, vì
bị đuổi học trước kỳ thi. 12 năm học không có mảnh giấy trên
tay, phải xuống lớp thi lại năm cuối Hauptschule vì tự ái bồng
bột không suy nghĩ đã gây ra án mạng khủng kiếp đó, lỗi đó do hệ
thống Giáo dục).
Các kỳ
thi tú tài học sinh được thi trong lớp, giáo viên dạy trong niên
học chấm bài thi viết và vấn đáp, (đề thi do bộ Giáo dục của mỗi
tiểu bang tự trị, không thi theo lối trắc nghiệm a, b , c của
Mỹ, hay tổ chức các trung tâm và bài thi cắt phách như Việt Nam
trước 1975 )
Chiến
tranh (1939-1945) sinh viên học các Ðại Học chỉ 3%. Niên khóa
2002 tổng số học sinh thi tú tài toàn quốc 213.754 người, 30 %
theo học Ðại Học, ngoài ra chọn các ngành nghề khác. Hamburg và
Berlin không đủ tiêu chuẩn; riêng Bayern (Bavaria) có hệ
thống Giáo dục tốt nhất, nếu so sánh với các tiểu bang khác. Các
niên học từ lớp 1 đến 9 tại Bayern học hơn 1000 giờ gần một năm
học. (4)
Bảng so
sánh học sinh tốt nghiệp tại 3 tiểu bang các trường
Bayern
Hamburg
Nordheim
Westfalen
Hauptschule
43,3 Hauptschule 25,3 Hauptschule
24,0
Realshule
38,3 Realshule 40,5
Realshule 48,9
Hochschulreife
28,7 Hochschulreife 49,6 Hochschulreife
44,0
Tỉ số thí sinh
đậu tú tài Hamburg 49,6 Westfalen 44%, Sachsen-Anhalt 32%..
Bayern 28,7% So sánh với các trường trung học của 15 tiểu bang
khác, Bayern đứng thứ nhất. (5) với thế giới đứng hàng thứ 9.
Bayern chương
trình học còn bảo thủ gạn lọc học sinh ngay từ năm lớp 4. Bởi
vậy số học sinh thường bị giới hạn vào Ðại Học hơn so với các
tiểu bang khác. Bayern chỉ đạt 35%
Oberschule/grammar
school; 20% Hochschullreife/academic standard required for
university entrance (6)
Tương lai đi về đâu
Chương trình
học tại Ðức quá rộng không thống nhất, có nhiều khác biệt, muốn
thống nhất trình độ. Nhiều chính trị gia dân biểu đòi hỏi thi tú
tài phải cùng một đề thi của bộ Giáo dục Liên Bang . Nền Giáo
dục bị ảnh hưởng nhiều vào đời sống phát triển về kinh tế,
chính trị của từng tiểu bang. Hệ thống Giáo dục khó khăn của
những thập niên về trước không được cải tổ, gạn lọc học sinh qua
các niên học. Nếu so sanh với Schweden (Thụy Ðiển) 2 học sinh có
một người theo Ðại học, trong lúc đó tại Ðức 30 học sinh có một
người vào Ðại học.
Vấn đề đặt ra
nên thay đổi hệ thống Giáo dục, mở rộng cửa Ðại Học, đào tạo
nhiều kỷ sư, chuyên viên, đáp ứng nhu cầu tiến bộ và phát triển
trên mọi lãnh vực. Học sinh lúc nhỏ chưa phát triển về trí tuệ,
nhưng lúc trưởng thành hay vào Ðại Học phát triển trên lãnh vực
khác. Nếu chú trọng vào các ngành nghề về tay chân, tránh được
tỉ lệ thất nghiệp nhưng thiếu thành phần trí thức.
Ðại Học Ðức
đào tạo kỷ sư ra trường có chất lượng cao, không phải người nào
tốt nghiệp đều là „thượng thặng“, lệ thuộc vào số lượng
ra trường không thể đáp ứng được nhu cầu phát triển về khoa học,
trở nên thiếu chuyên viên kỷ thuật ngành Ðiện toán, nên thời
gian qua thâu nhận 6000 chuyên viên ưu tú các nước như Ấn Ðộ vào
Ðức làm việc theo chương trình „Green Card„ Người Ðức
luôn tự hào về truyền thống đân tộc của họ, nhưng phải lấy „trí
thức“ các nước vào làm việc ? Trong lúc thế hệ trẻ vô tình
bị giới hạn trên đường vào Ðại Học, nếu đào tạo hàng ngàn kỷ sư
ra trường, ai giỏi thì làm việc giỏi sẽ không thiếu người làm
việc trong các lãnh vực khác.
Các quốc gia
trên thế giới theo hệ tú tài 12 năm, nhưng quốc gia họ phát
triển tiến bộ, sinh viên tốt nghiệp Ðại Học khoảng 22 tuổi, sinh
viên Ðức ra trường thường sau 25 tuổi Học trình đôi khi kéo dài
hơn 13 Semester !! Tuỳ theo mỗi Ðại Học có những số môn đòi hỏi
đào tạo khác nhau. Tuần Báo Time so sánh đại học Ludwig-
Maximilians Munich trình độ như Standfort university và Harvard
university (7) Hiện nay hơn 44000 sinh viên và chuyên viên
nghiên cứu, khoảng chừng 6335 sinh viên ngoại quốc theo học, hơn
810 giáo sư và giảng nghiệm viên.
Nếu so sánh
các Ðại Học tại Hoa Kỳ phải đóng học phí, phần lớn sinh viên
Việt Nam đều thành công, ra trường đi làm giữ chức vụ cao tại
các cơ quan .Tuần báo Der Spiegel phỏng vấn 2 giáo sư Ðại Học
người Ðức du học tại Hoa Kỳ ra trường dạy lại các Ðại Học tại
Hoa Kỳ cho biết trung bình học phí mỗi năm cho các Ðại Học tư có
tiếng khoảng từ 26000 Dollar trở lên, trường Standfort phải trả
khoảng 40.000 $. University of Colorado at Boukler 31.000$, tuy
nhiên có trường ít nhất 3500$, tiền học phí khá cao nhưng sinh
viên có học bổng, trả phần nửa hoặc chính phủ cho vay mượn sau
khi ra trường tả góp. Hệ Bachelor học trình 4 năm, sau đó có thể
đi làm hoặc tiếp tục làm luận án Master hay Doctor, vì vấn đề
tài chánh sinh viên có thể kéo dài học trình lâu hơn. Sinh viên
có thể tiếp xúc rộng rãi với giáo sư thăm hỏi đề tài hay có quà
biếu xén riêng, nhưng tại Ðức không được phép làm như vậy
(8).Tại Ðức hệ Bachelor thời gian học ngắn hơn Diplom
Ðại Học Ðức trước 2005 đều
miễn phí nhưng có dự luật mới đầu năm 2006 mỗi lục cá nguyệt
phải trả từ 500-1000 Euro, sinh viên chỉ được phép thi 2 lần,
nếu không đậu phải đổi ngành khác (Sinh Viên đến 26 tuổi được
hưởng theo bảo hiểm cuả cha mẹ, sau 26 tuổi phải tự trả tiền bảo
hiểm, giá đặc biệt cho Sinh Viên khoảng chừng 60 Euro 1 tháng).
Sinh viên
nghèo được mượn tiền Bafoeg/
Bundesausbildungsfoederungsgesetz (nếu cha mẹ lương thấp..)
ra trường đi làm sau 5 năm trả góp không lời, và hiện nay cũng
có một số Ðại Học tư các ngành.
Thông thường tại Ðức các
chức vụ chỉ huy dành cho người bản xứ ! tuy nhiên có ít người
Việt Nam là giáo sư tại các Ðại Học, làm việc quan trọng trong
các ngành kỷ thuật và nghiên cứu. Chương trình Giáo dục Ðức phức
tạp tốn kém, học lái xe phải vào trường học lý thuyết, thực
hành, với một số giờ bắt buộc, thi bị rớt 2 lần đến lần thứ 3
không đậu, bị đưa vào bệnh viện khám đầu có bình thường không ?
học nghề uốn tóc làm móng tay tại Hoa Kỳ thời gian ngắn từ 6
tháng đến 1 năm. Tại Ðức phải học 3 năm ? tất cả các ngành nghề
thời gian học quá dài. Thí dụ sinh viên ngành điện thi không ra
trường ! công trình học như „dã tràng xây cát biển đông“.
Không có hãng nào nhận làm nhân viên chuyên môn, phải đi làm
„thợ vịn“, một thời gian đổi nghề (xin học nghề nào đó được sở
Lao động trả tiền ) để có bằng chuyên môn .
Kỷ sư ra
trường thời gian dài không tìm được việc thất nghiệp, văn bằng
lâu ngày không ứng dụng, không được chú ý đến, phải đổi nghề
khác...vv.
Bài tham khảo
giới hạn nầy, không tránh những thiếu sót, chương trình Giáo dục
rộng hơn 1300 Fachbereiche/ faculty của các Ðại Học tại
Cộng Hòa Liên Bang Ðức nhiều danh từ không tương đương Việt
ngữ, để nguyên chữ gốc và thêm phần Anh ngữ đối chiếu
Vài so sánh sự khác biệt giữa Ðại
Học Ðức và Hoa kỳ.
(Theo chương
trình đài VOA) „Trong hai năm đầu tại Ðại học Hoa kỳ học những
môn học tổng quát, như Anh văn, lịch sử, toán, và khoa học. Hai
năm chót, các bạn sẽ học những môn học chuyên môn của ngành học
mà mình chọn.
Trong trường hợp các sinh
viên có bằng cử nhân, có thể ghi danh theo học tại các trường
graduate school, hay các chương trình hậu đại học. Thông thường,
các chương trình để lấy bằng master, tức bằng cao học hay thạc
sĩ, cần đến hai hoặc 3 năm. Và Các trường cao đẳng và đại học ở
Mỹ cấp phát nhiều loại văn bằng hay học vị khác nhau, đòi hỏi
học viên theo học trong khoảng thời gian từ một năm trở lên. Một
số trường có những chương trình cấp chứng chỉ học tập hay
certificate. Thông thường, những chương trình này dạy cho học
viên trong vòng một năm các môn học như công việc văn phòng, lập
trình điện toán, hoặc sửa chữa xe hơi.
Các bạn cũng có thể chọn
học ở các trường cao đẳng, còn được gọi là đại học hai năm, hoặc
đại học cộng đồng. Những trường này cấp phát văn bằng tiếng Anh
gọi là associate (tiếng Việt có nhiều cách gọi khác nhau như
bằng cán sự, hay bằng đại học trung cấp). Học phí ở các trường
đại học cộng đồng thấp hơn nhiều so với các trường đại học chính
qui hay đại học bốn năm, và đây chính là lý do mà trong vài năm
gần đây số sinh viên ngoại quốc ghi danh theo học tại các đại
học cộng đồng ngày càng gia tăng.
Nhiều trường đại học thừa
nhận các tín chỉ của các đại học cộng đồng, cho nên các sinh
viên ở đây sau khi tốt nghiệp có thể xin chuyển sang các đại học
để học tiếp hai năm nữa để lấy bằng cử nhân. Ðể có thể được cấp
bằng cử nhân, các bạn cần phải học nếu muốn hành nghề giáo sư
đại học, bác sĩ, hoặc luật sư, các bạn cần phải học xong những
chương trình hậu đại học. Thông thường, những học vị đặc biệt
này cần phải mất thêm từ 3 đến 6 năm học sau khi hoàn tất chương
trình bậc cử nhân.“
Tôi nhận thư
người bạn học Luật ở Úc sang Hoa kỳ đã học thi lại 3 ngày về
luật Tiểu bang, và đã đậu lấy bằng hành nghề Luật sư. (Hoa Kỳ
chỉ 2 tiểu Bang Cali và New York cho những người học Luật ngoại
quốc học luật liên bang nếu đậu được hành nghề) ? Nhưng ở Ðức
thì không bao giờ có cơ may quý giá nầy !!!
Hocschulausbildung =
College ; Beruffachschule bis zur Universitaet = Commnity
College
(1) Stern số
16/2002 Deutschlandsbeste Unis trang 56-60
(2) Der Spielgel
số 23/2002
(3) Focus số 24
/2002 serie Hochschufuehrer)
(4) Focus số 25
/2002 và; Stern số 4/2002
(5) Focus số
26/2002
(6) Der Spielgel
số 27/ 2002
(7) Time số
/2002
DerSpiegelNr30
7/02
Eltern for family
Schul-Guide
Tips zur Studien- und
Berufswahl
Superillu số 23
Trở về Trang Chính |