Thằng Cuội ngồi gốc cây đa
Thả trâu ăn lúa gọi cha ời ời
Cha còn cắt cỏ bên trời
Mẹ còn cỡi ngựa đi mời quan viên
Quan thì cầm bút cần nghiên
Quan thì cầm tiền đi chuộc lá đa

Tháng 9 thời
tiết mát, những cơn mưa giông nhỏ hạt, cỏ cây xanh lá sẽ đổi màu
cho muà Thu sắp đến. Có những đêm không mây mù bao phủ, bầu trời
đẹp quang đãng, ánh trăng vàng mát dịu, theo âm lịch rằm tháng 8
là tết Trung Thu. Cộng đồng người Việt tị nạn chuẩn bị tổ chức
Tết Trung Thu cho trẻ em, những tiệm thực phẩm Á Châu bán bánh
trung thu, lồng đền lộng lẫy. Những hộp bánh Trung thu màu đỏ
sậm, bánh dẻo, bánh nướng..
Những chiếc
lồng đèn gợi cho chúng ta nhớ thời ấu thơ, vào dịp Tết Trung Thu
theo mẹ ra chợ, mua những đồ chơi bằng giấy bồi, hoặc dán lên bộ
khung bằng tre nứa như lồng đèn hình ngôi sao, hình bánh ú ..
một số đồ chơi lớn như đèn kéo quân, tối thắp nến sáng các vòng
dán hình người, thú và cảnh vật từ chuyển động, từ ngoài nhìn
qua các lớp giấy bóng màu, các hoạt cảnh cứ liên tục diễn ra
nhịp nhàng, sống động như một màn hình, các lồng đèn với dạng
đầu sư tử, tiến sĩ giấy… Nguyễn Khuyến trong bài thơ Ông nghè
tháng tám đã viết
„Mấy chú Hoa Nam khéo vẽ trò,
cũng cờ cũng cũng biển cũng cân đai“
Ngày xưa ở phố hàng Mã Hà
Nội, người ta thường bày bán đủ các loại lồng đèn, nhiều kiểu đủ
màu, không thiếu hình các ông tiến sĩ giấy, Nhiều người thích
mua cho con chơi và mơ ước con cái sau nầy sẽ là những người
khoa bảng có điạ vị trong xã hội. Các phố hàng Đường, hàng Buồm
bán đủ các loại bánh Trung Thu. Ngày nay khắp nơi đều có bày bán
quà bánh Trung Thu, lồng đèn, theo văn minh phát triễn cuả khoa
học, thêm những đồ chơi bằng nhựa, những con bướn, chim bồ câu
bằng điện tử bay lượn quanh gian hàng, càng tăng phần hấp dẫn
hơn. Ở Sài gòn khắp nơi đều có bán bánh Trung Thu, rằm tháng 8
trở thành một lễ Hội lớn cho trẻ em, người lớn mua bánh để biếu
những người mình mang ơn
Hằng năm người
Việt ở hải ngoại thường tổ chức tết Trung Thu, để trẻ em có cơ
hội gặp nhau, tổ chức dự thi lồng đèn, có các mục như: thi ca
nhạc với quốc phục, thi vẽ với đề tài về Tết Trung Thu, đố vui
để học . vv. để nhớ lại kỷ niệm thời thơ ấu xa xưa ở quê nhà.
Chúng ta Tìm hiểu về Tết Trung Thu tại sao có lồng đèn ông sao?
tiến sĩ giấy..múa lân với tiếng trống vui nhộn khắp nơi từ thành
thị cho đến thôn quê.
Theo huyền
thoại thì Tết Trung thu bắt đầu từ đời nhà Đường; thời vua Duệ
Tôn, niên hiệu Văn Minh. Nguyên năm đó, vào đêm Rằm tháng tám
trăng tròn sáng tỏ, gió mát . Nhà vua ngự chơi ngoài thành tới
khuya. Bỗng xuất hiện ông già đầu bạc trắng chống gậy tới bên
nhà vua. Trông người và theo cử chỉ, nhà vua đoán ngay là một vị
thượng tiên giáng thế. Ông già kính cẩn chào nhà vua rồi hỏi:
-Bệ hạ có muốn lên thăm cung trăng không?
-Nhà vua liền trả lời “có”
Vị tiên liền
đưa chiếc gậy lên trời, hoá phép ra một chiếc cầu vồng, một đầu
giáp cung trăng, còn một đầu giáp mặt đất. Tiên ông đưa nhà vua
trèo lên cầu vồng, đến cung trăng. Phong cảnh nơi đây thật đẹp
với vẻ đẹp khác xa nơi trần thế. Có những nàng tiên nữ nhan sắc
xiêm y cực kỳ lộng lẫy, xinh như mộng, nhảy múa những điệu vô
cùng quyến rũ...Nhà vua đang say sưa với những cảnh đẹp thì tiên
ông lại đưa nhà vua trở lại cung điện. Về tới trần thế, nhà vua
còn luyến tiếc cảnh trên cung Quảng và những giờ phút đầy thơ
mộng nhà vua đã sống qua. Để kỷ niệm cái ngày du Nguyệt điện,
nhà vua đặt ra Tết Trung Thu.
Trong ngày Tết này, người ta uống rượu, uống trà thưởng trăng,
và vì vậy Tết này còn được gọi là Tết Trông Trăng. Vầng
trăng mở hội liên hoan, ngày rằm Trung thu nhằm vào tiết Thu
phân nên khí âm và dương điều hòa với đêm ngày bằng nhau. Bầu
trời quang đãng, khí hậu ôn hòa nên người ta cảm thấy dễ chịu
nhất trong năm. Hơn nữa, Thu là mùa lúa chín, nên việc đồng áng
rảnh rỗi.. Đây là dịp "ăn mừng vầng trăng tập thể "một cách cụ
thể của tục lệ xã hội trong cảnh liên hoan náo nhiệt với tục
rước đèn, múa lân . Nhiều gia đình nhân dịp làm nhiều thứ bánh
bày cổ trông trăng, làm lễ cúng tổ tiên ông bà, cỗ Trung Thu rất
phong phú nhiều trái cây, bánh kẹo.
Các vì sao trên trời cao, được bổ sung bằng lồng đèn hình ngôi
sao của các em như mời trăng, rước trăng về dự cỗ với các em,
trẻ em lũ lượt kéo nhau ra phố, mỗi đưá cầm chơi một cái lồng
đền thắp nến bên trong, càng tạo không khí huyền hoặc như cảnh
cung Quảng Hàn ở giữa trần gian, các em cùng nhau hát gọi trăng
những bài đồng dao. - Với nhi đồng là vầng trăng của bài ca "Ông
giẳng, Ông giăng ...", của những chuyện kể thần thoại về "Thằng
cuội", "Hằng Nga", "Thiềm thừ", "Cung Quảng", của những trò chơi
"Thả đỉa ba ba", " Rồng rắn Ông thầy", Phụ đồng chổi.. thổi lổi
mà lên" dưới ánh trăng vàng vằng vặc.
Ông Giăng ơi, xuống chơi với tôi
Nhà tôi có một bát cơm xôi
Có nồi cơm nếp, có nệp bánh chưng
Có lưng hũ rượu, có khướu đánh đu
Thằng cu giữ lại, mẹ đẻ bồng con
Cái lon múc nước, cái lược chải đầu
Con trâu cày chiêm, cái liềm hái lá
Con cá có vây, thợ rèn có buá
Nhà chuá có tàn, nhà quan có lọng..
Hết ngồi hát vỗ
tay, các em lại đứng lên nắm tay nhau thành vòng tròn xung quanh
mâm cỗ, vừa đi vừa hát:
Dung dăng dung dẻ, dắt trẻ đi chơi
Đến cửa nhà trời, tìm nơi gió mát
Cùng hát véo von, mời ông trăng tròn
Ra chơi với bé, xì xà xì xạp..
…
Sau đó các em đi
ngược lại và hát tiếp như điệp khúc:
Dung dăng dung dẻ, dắt trẻ đi chơi
Đến cửa nhà trời, lạy cậu lạy mợ
Cho cháu về quê, cho dê đi học
Cho cóc ở nhà, cho gà bới bếp
Ngồi xệp xuống đây…
Đôi khi trẻ em quây quần bên bà nội
hay mẹ nghe kể chuyện về trăng có Hằng Nga dịu dàng tươi trẻ,
hoặc về chú Cuội láu lỉnh “ngồi gốc cây đa, thả trâu ăn lúa, gọi
cha hời hời…” Các em nghe chuyện, ăn quà bánh trông trăng, người
lớn cũng vui với trăng hoà mình với thiên nhiên : Nói về trăng
như những luyến ái với nhân gian. Với lứa tuổi nam nữ yêu đương
là những vầng trăng thề, trăng chia phôi, trăng nhớ nhung, trăng
khắc khoải... trong truyện Kiều 3522 câu lục bát chỉ nhắc đến
hai ba chữ "nắng" nhưng đã nhắc đến 38 chữ "trăng" với bao nhiêu
sắc vẻ trữ tình như trăng bạc, trăng già, trăng gió, trăng hoa,
trăng khuyết, trăng mới, trăng tà, trăng tàn, trăng thâu, trăng
thề, trăng tròn ...
Vầng trăng rất quan hệ đến sinh hoạt, tính khí và sinh lý của
vạn vật trên mặt đất qua hiện tượng thủy triều và ảnh hưởng
huyền bí trên mùa màng cây cỏ. Về hình dáng và thời điểm xuất
hiện của vầng trăng trong tháng được nhà nông kể thuộc lòng theo
vần theo điệu như sau:
Mồng một lá trai,
Mồng hai lá lúa,
Mồng ba câu liêm,
Mồng bốn lưỡi liềm,
Mồng năm liềm giật,
Mồng sáu thật trăng,
Mười rằm trăng náu,
Mười sáu trăng treo,
Mười bảy sảy giường chiếu,
Mười tám trăng lẹm,
Mười chín dụn dịn,
Hai mươi giấc tốt,
Hăm mốt nửa đêm,
Hăm hai bằng tai,
Hăm ba bằng đầu,
Hăm bốn bằng râu,
Hăm lăm bằng cầm,
Hăm sáu đã vậy,
Hăm bảy làm sao,
Hăm tám thế nào,
Hăm chín thế ấy,
Ba mươi không trăng.
Qua những
kinh nghiệm theo nghề nông việt Nam còn có những câu sau để tiên
đoán việc nông
Muốn ăn lúa ré, xem trăng rằm tháng giêng,
Muốn ăn lúa tháng 5, xem trăng rằm tháng 8
Muốn ăn lúa tháng 10, xem trăng mồng tám tháng 4
Hay là
Trăng thanh vằng vặc giữa trời
Nhớ tình nhớ nghiã nhớ nơi hẹn hò
Trăng tròn chỉ có đêm rằm
Tình ta tháng tháng quanh năm vẫn tròn
Trăng bao
nhiêu tuổi trăng già
Núi bao nhiêu tuổi gọi là núi non……….
Tô Đông Pha trong hai bài Tiền
Xích bích phú và Hậu Xích bích bất hủ sáng tác vào mùa thu năm
Nhâm Tuất (năm 1082) đã tạo một ảnh hưởng sâu đậm cảnh sông nước
Trường giang dưới ánh trăng thu, Tô Đông Pha đã luận về thân
phận phù du của con người trong vũ trụ mênh mang bất diệt để kết
luận với cái triết lý hưởng lạc trước mắt trong kho tàng thiên
nhiên vô tận:
Nước kia vẫn xuôi giòng chẩy xiết,
Mà chưa từng đi hết chút nao!
Trăng kia có lúc đầy hao,
Mà ta chưa thấy khi nào bớt thêm
Cứ lúc biến mà xem trời đất,
Thì chẳng qua chớp mắt mà thôi.
Cứ khi không biến mà coi,
Thì ai ai cũng lâu dài như nhau
(Tiền Xích Bích Phú dịch nôm của Đào Nguyên Phổ)
Nói về Trăng là cả một nguồn thi hứng để sáng
tác. Các thi nhân ca tụng trăng khi nghe đờn hát, khi ngắm hoa,
khi lên núi cao, khi dong thuyền trên sông nước.... Những áng
văn nổi tiếng của những thi hào đều được sáng tác dưới trăng:
Trong bài Tương tiến tửu, thi bá Lý Bạch khuyến khích người ta:
Khôn nỡ để chén vàng trơ dưới nguyệt.
Nhân sinh khi đắc ý nên càng,
Trong Tỳ bà hành (mùa thu năm 816 CN), Bạch Cư Dị đã tả:
Thuyền không đậu bến mặc ai,
Quanh thuyền trăng giải, nước trôi lạnh lùng.
Những ngày xa quê
hương muốn có những đêm trăng để thưởng thức rất khó, vì thời
tiết ở Âu Châu vào thu trời không đẹp như ở bên quê nhà, ánh đèn
điện sáng khắp nơi làm mất đi một phấn nào vẽ đẹp cuả thiên
nhiên với ánh trăng vàng vào dịp tết Trung Thu! Tản Đà với thơ
ngông, chán đời đã gởi chị Hằng một phần tâm sự
Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi!
Trần giới em nay chán nửa rồi.
Cung Quế đã ai ngồi đó chửa?
Cành đa xin chị nhắc lên chơi
...
Ai đâu trở lại mùa thu trước,
Nhặt lấy cho tôi những lá vàng
Nhạc phẩm
Thằng Cuội (1)
của nhạc sĩ Lê Thương (mất năm 1996). Bài hát này không chỉ cuốn
hút thế giới tuổi thơ mà cả người lớn
"Bóng trăng trắng ngà,
có cây đa to, có thằng Cuội già, ôm một mối mơ. Lặng yên, ta nói
Cuội nghe: Ở cung trăng mãi làm chi? Bóng trăng trắng ngà. Có
cây đa to..."
Trăng qua thi ca thật hấp dẫn gợi tình, hình ảnh
các nàng tiên xinh đẹp với chi Hằng Nga ở cung quảng thơ mộng,
đã bị quấy rầy bởi chuyến bay Apollo 11 khởi hành ngày
16.7.1969 đã đáp xuống mặt trăng vào ngày 24.7.1969. Con người
đã khám phá cuộc sống bí mật của không gian, thiên thể. Hằng Nga
xinh đẹp và các nàng tiên đã bỏ đi nơi khác!!! cây đa của chú
Cuội (xem phần đìển tích trích dưới) chỉ trở về trong những ngày
rằm tháng Tám.
Kỷ niệm thời ấu thơ vui chơi mùa Trung Thu, với
những chiếc lồng đèn xinh đẹp, rước đèn trong đêm trăng rằm
tháng Tám, được ăn bánh Trung thu của gia đình hay trường học
phân phát, thưởng thức vui đùa hồn nhiên dưới ánh trăng vàng
diệu vợi. Kỷ niệm đó chỉ còn lại trong ký ức tuổi đời theo bóng
ngã chiều tà.
Sự tích chú Cuội
cung trăng
Ngày xưa ở một
miền nọ có một người tiều phu tên là Cuội. Một hôm, như lệ
thường, Cuội vác rìu vào rừng sâu tìm cây mà chặt. Khi đến gần
một con suối nhỏ, Cuội bỗng giật mình trông thấy một cái hang
cọp. Nhìn trước nhìn sau anh chỉ thấy có bốn con cọp con đang
vờn nhau. Cuội liền xông đến vung rìu bổ cho mỗi con một nhát
lăn quay trên mặt đất. Nhưng vừa lúc đó, cọp mẹ cũng về tới nơi.
Nghe tiếng gầm kinh hồn ở sau lưng, Cuội chỉ kịp quẳng rìu leo
thoắt lên ngọn một cây cao. Từ trên nhìn xuống, Cuội thấy cọp mẹ
lồng lộn trước đàn con đã chết. Nhưng chỉ một lát, cọp mẹ lẳng
lặng đi đến một gốc cây gần chỗ Cuội ẩn, đớp lấy một ít lá rồi
trở về nhai và mớm cho con, bốn con cọp con đã vẫy đuôi sống
lại, khiến cho Cuội vô cùng sửng sốt. Chờ cho cọp mẹ tha con đi
nơi khác, Cuội đến cây lạ kia đào gốc vác về nhà
Dọc đường gặp một
ông lão ăn mày nằm chết vật trên bãi cỏ, Cuội liền đặt gánh
xuống, không ngần ngại, bứt ngay mấy lá nhai và mớm cho ông già!
Mầu nhiệm làm sao, mớm vừa xong, ông lão đã mở mắt ngồi dậy.
Thấy có cây lạ, ông lão liền hỏi chuyện. Cuội kể lại đầu đuôi
câu chuyện, nghe xong ông lão nói
“Cây này chính là
cây có phép "cải tử hoàn sinh". Thật là trời cho con để cứu giúp
thiên hạ. Con hãy chăm sóc cho cây nhưng nhớ đừng tưới bằng nước
bẩn mà nó bay lên trời.” Nói rồi ông lão chống gậy đi. Còn Cuội
thì gánh cây về nhà trồng ở góc vườn phía đông, luôn luôn nhớ
lời ông lão dặn, ngày nào cũng tưới bằng nước giếng trong sạch
Từ ngày có cây thuốc quý, Cuội cứu
sống được rất nhiều người. Hễ nghe nói có ai nhắm mắt tắt hơi là
Cuội vui lòng mang lá cây đến tận nơi cứu chữa. Tiếng đồn Cuội
có phép bay đi khắp nơi, Một hôm Cuội lội qua sông gặp xác một
con chó chết trôi. Cuội vớt lên rồi giở lá trong mình ra cứu
chữa cho chó sống lại. Con chó quấn quít theo Cuội, tỏ lòng biết
ơn. Từ đấy, Cuội có thêm một con vật tinh làm bạn
Một lần khác, có lão nhà giàu ở
làng bên hớt hải chạy đến tìm Cuội, vật nài xin Cuội cứu cho con
gái mình vừa sẩy chân chết đuối. Cuội vui lòng theo về nhà, lấy
lá chữa cho. Chỉ một lát sau, mặt cô gái đang tái nhợt bỗng hồng
hào hẳn lên, rồi sống lại. Thấy Cuội là người cứu sống mình, cô
gái xin làm vợ chàng. Lão nhà giàu cũng vui lòng gả con gái cho
Cuội. Vợ chồng Cuội sống với nhau thuận hòa, êm ấm thì thốt
nhiên một hôm, trong khi Cuội đi vắng, có bọn giặc đi qua nhà
Cuội. Biết Cuội có phép cải tử hoàn sinh, chúng quyết tâm chơi
ác. Chúng bèn giết vợ Cuội, cố ý moi ruột người đàn bà vứt xuống
sông, rồi mới kéo nhau đi. Khi Cuội trở về thì vợ đã chết từ bao
giờ, mớm bao nhiêu lá vẫn không công hiệu, vì không có ruột thì
làm sao mà sống được !!
Thấy chủ khóc thảm thiết, con chó
lại gần xin hiến ruột mình thay vào ruột vợ chủ. Cuội chưa từng
làm thế bao giờ, nhưng cũng liều mượn ruột chó thay ruột người
xem sao. Quả nhiên người vợ sống lại và vẫn trẻ đẹp như xưa.
Thương con chó có nghĩa, Cuội bèn nặn thử một bộ ruột bằng đất,
rồi đặt vào bụng chó, chó cũng sống lại. Vỡ với chồng, người với
vật lại càng quấn quít nhau hơn, nhưng cũng từ đấy, tính nết vợ
Cuội tự nhiên thay đổi hẳn. Hễ nói đâu là quên đó, làm cho Cuội
lắm lúc bực mình. Ðã không biết mấy lần, chồng dặn vợ: "Có đái
thì đái bên Tây, chớ đái bên Ðông, cây dông lên trời!".
Nhưng vợ Cuội hình như lú ruột, lú
gan, vừa nghe dặn xong đã quên. Một buổi chiều, chồng còn đi
rừng kiếm củi chưa về, vợ ra vườn sau, không còn nhớ lời chồng
dặn, cứ nhằm vào gốc cây quý mà đái. Không ngờ chị ta vừa đái
xong thì mặt đất chuyển động, cây đảo mạnh, gió thổi ào ào. Cây
đa tự nhiên chuyển động bay lên trời. Vừa lúc đó thì Cuội về
đến nhà. Thấy thế, Cuội hốt hoảng vứt gánh củi, chạy đến níu cây
lại. Nhưng cây lúc ấy đã rời khỏi mặt đất lên quá đầu người.
Cuội chỉ kịp móc rìu vào rễ cây, định lôi cây xuống, nhưng cây
vẫn cứ bốc lên, không một sức nào cản nổi.
Cuội cũng nhất định không chịu
buông, thành thử cây kéo cả Cuội bay vút lên cung trăng. Từ đấy
Cuội ở luôn cung trăng với cả cái cây quý của mình. Nhìn lên mặt
trăng, người ta thấy một vết đen rõ hình một cây cổ thụ có người
ngồi dưới gốc, người ta gọi cái hình ấy là hình chú Cuội ngồi
gốc cây đa....
Trở về Trang Chính