Tháng bảy mưa ngâu, làm chúng ta nhớ lại chuyện Ngưu Lan Chức Nữ
(1) chuyện tình lãng mạn, nhưng đời sống hôn nhân bị sông Ngân
Hà ngăn cách đôi bờ, hàng năm chỉ gặp nhau một lần qua nhịp cầu
Ô thước; ca dao còn lưu truyền trong dân gian :
Tục truyền tháng bảy mưa Ngâu
Con trời lấy chú chăn trâu cũng phiền
Nhớ ai như vợ chồng Ngâu
Một năm mới gặp mặt nhau một lần..
Tháng bảy là tháng mưa Ngâu
Bước sang tháng tám lại đầu trăng thu
Chuyện trên trời là vậy, còn chuyện dưới thế gian thì nhiều vô
số. Biến cố lịch sử năm 1954 chia đôi Nam-Bắc dòng sông Bến Hải
có cầu Hiền Lương nhưng ngăn cách giữa hai miền ! Đến 21 năm
sau, dù được nối liền nhưng tình người trở nên ngăn cách!
Dù năm 1975 đất nước thống nhất, nhưng xảy ra nhiều chuyện tang
thương. Tình yêu, vợ chồng, cha mẹ, anh em mỗi người một phương
trời, phần lớn Quan - Chức làm việc dưới chế độ VNCH, kể cả tu
sĩ đều bị chính quyền tập trung vào trại cải tạo, nhiều gia đình
bị đánh tư sản đuổi đi vùng kinh tế mới….Những người may mắn
chạy thoát trước khi miền Nam bị thất thủ, vì hoàn cảnh không
thể đem theo vợ hiền con thơ, cha mẹ già. Người ở lại nhiều năm
trong mong nhớ đợi chờ ….
Từ 30. 4.1975, nước mắt của người dân ở miền Nam
có thể nhiều hơn mưa ngâu tháng bảy.
Nhiều người vợ ở nhà phải đảm đang, gánh vác nuôi con, thay
chồng phụng dưỡng cha mẹ già, dành dụm tiền bạc mang quà đi thăm
chồng, vất vả xin giấy phép tìm đến trại cải tạo, bị cán bộ quản
giáo lạnh lùng canh gác nghe ngóng chuyện nhà, thân nhân tới
thăm nhìn nhau nức nở khóc, ngồi cách nhau một cái bàn…Tôi không
thể quên ngày Mẹ tôi đường xa lặn lội đến thăm, buổi chiều ngày
đó trời đổ mưa, mấy năm xa cách gặp lại Mẹ, Mẹ ôm tôi khóc thật
nhiều, tình thương của Mẹ như nước trên nguồn luôn chảy về biển
rộng bao la. Mẹ tôi nói chưa hết chuyện nhà, thì cán bộ ra lệnh
„hết giờ thăm“. Giỏ xách qùa bánh Mẹ cho, liền bị cán bộ chận
lại kiểm soát, và khiển trách :„uỷ mị khóc lóc ….“
Mẹ ra về mang theo thương nhớ lo âu, nhìn theo
Mẹ tôi nghẹn ngào nước mắt lưng tròng…. Hơn 3 năm trong trại cải
tạo, tôi phải trả giá quá đắt so với thời gian ra trường, làm
công chức của VNCH thâm niên 8 tháng !! Ngày được trả tự do, về
nhà bị quản chế, không có quyền công dân, mỗi tuần phải trình
diện công an Phường. Chính quyền địa phương gọi đi thủy lợi, hăm
dọa đuổi đi vùng kinh tế mới.. Mẹ tôi thao thức nhiều
đêm không ngủ, sau đó cho tôi mấy cây vàng và bảo :
-Con
cầm lấy tìm đường vượt biên, thế hệ con không thể sống với chế
độ mới
Tôi ra đi, may mắn đến được bến bờ tự do. Đường về quê hương đã
hơn 27 năm xa cách, ngày trở về với vợ con mái tóc đã bạc màu,
Cha Mẹ đã ra người thiên cổ, chúng tôi qùy trước những ngôi mộ
của ông bà, cha mẹ với tấm lòng thành thương nhớ, những giọt lệ
rơi….
Hàng năm ở Đức cũng như các nước Tây Phương tổ chức ngày vinh
danh Mẹ Mother´s day, ngày của Cha Father´s Day. Báo chí đăng
những bài viết về Mẹ rất thiết tha, những nhạc phẩm ca tụng Mẹ
tuyệt vời…. Hai ngày đó những người cha mẹ còn sống con cháu về
chúc mừng.. Chúng tôi nhận quà của 2 con, và mua hoa để trên
bàn thờ, đốt nhang đèn tưởng nhớ công sinh thành dưỡng dục,
trong Kinh Thánh Cựu ước và Tân Ước đều có rất nhiều đoạn nói
đến lòng hiếu thảo đối với Cha Mẹ, đến nhà thờ nghe bản thánh ca
cầu cho Cha Mẹ.
„ Xin Chúa chúc lành cho đời cha mẹ con. Công ơn Người như núi
non, dưỡng nuôi con bao ngày vuông tròn…Ai qua là bao chốn xa,
thấy đâu vui cho bằng mái nhà. Mai con lớn lên rồi, ra đi tung
cánh trong đời, dầu xa vô bờ, vẫn nhớ đến tình Mẹ…..“
Lần đầu về Việt Nam, nhằm tháng bảy âm lịch. Đời sống ở Sài
Gòn bon chen chạy đua theo thị trường…Nhưng người ta vẫn giữ
phong tục rằm tháng Bảy cúng cô hồn, cho những linh hồn lang
thang không người thờ cúng
„ Dấu người thập loại biết là đâu
Hồn phách mơ màng trải mấy thu
Cồn biển nghinh ngang bầu thế giới
Những mồ vô chủ thấy mà đau..“
Buổi tối trước sân, người ta cúng bánh kẹo, chuối, trái cây …
mùi nhang thơm thoang thoảng bay xa. Đám trẻ tinh nghịch trong
xóm đến đứng chờ ngoài ngõ mong nhận được bánh … sau khi gia chủ
cúng xong.. Các Chùa Phật Giáo tổ chức lễ Vu Lan còn gọi là lễ
Xá tội vong nhân. Sinh hoạt của Phật Giáo cũng có một vài khác
biệt, Phật giáo Bắc Tông (Ðại Thừa) tổ chức lễ Vu Lan; nhưng
Phật Giáo Nam Tông thì không
Lễ Vu Lan, khởi thủy tại Ấn Ðộ. Lễ Vu Lan theo đạo Phật vào
Trung Hoa, Ðại Hàn, Ðài Loan, Việt Nam, Nhật Bản. Ngoài các quốc
gia ảnh hưởng Phật giáo Nam Tông như : Miến Ðiện, Thái Lan, Cam
Bốt, Lào, Nam Dương.. mỗi ngày ăn hai buổi, 6 giờ sáng và 11 giờ
trưa, theo lối khất thực, Nam Tông đều không ăn cơm tối, nhưng
được phép ăn mặn, không tổ chức lễ Vu Lan. Danh từ Vu Lan nguồn
gốc từ tiếng Phạn Sanskrit "ullambana," được dịch là Vu Lan Bồn.
Ullam theo Hán tự có nghiã là đảo huyền, treo ngược. Người Việt
gọi là lễ Vu Lan, nghiã là giải thoát những khổ đau, cởi bỏ
những nghiệp chướng của con người ở thế gian….
Trong kinh Phật đã trình bày trường hợp của Ông Mandgalyayana
theo Sanskrit; Moggallana, Pali; tiếng Hán phiên là Mục Kiền
Liên, đọc tắt là Mục Liên, còn gọi là Ðại Mục Kiền Liên, quy y
theo Phật là người đệ tử "thần thông bậc nhất." đắc đạo, trở
thành La hán, ông có thể nhìn thấy dưới địa ngục và đã thấy mẹ
là bà Thanh Đề bị hình phạt, vì kiếp trước bà mẹ làm nhiều việc
ác. Ông xuống điạ ngục lấy bình bát đựng cơm dâng mẹ. Bà Thanh
Đề cầm lấy ăn, tức thời cơm hóa ra lửa hồng…không thể ăn được.
Ông đau đớn đến trình đức Phật, được Phật dạy là bà mẹ của ông
kiếp trước gây nghiệp chướng tội lỗi, phải chờ đến ngày Rằm
Tháng Bảy, làm đại lễ mời Phật và tăng giới mười phương, cùng
tụng kinh cầu nguyện phù trợ, mới có thể giúp mẹ ông giải tội.
Ông Mandgalyayana làm đúng theo lời Phật dạy, và mẹ của ông được
siêu thoát. Tín đồ Phật giáo noi theo gương Mục Kiện Liên và từ
đó lễ Vu Lan đi vào nghi lễ Phật Giáo Bắc Tông, lưu truyền cho
tới ngày nay. Vào tháng bảy cầu cho Cha Mẹ Tổ Tiên của chúng
sinh, nếu con cái hiếu thảo biết dâng lễ Vu Lan cầu xin chuộc
tội, cũng sẽ được xóa tội vong thân…
Chú em giao việc văn phòng Luật cho nhân viên, mời tôi đi Chùa
dự lễ Vu Lan báo hiếu. Chúng tôi đến Việt Nam Quốc Tự, xe đến
trước cổng đã có các em mời mua các con vật để phóng sanh.
Những con khỉ, chim bị nhốt trông thật tội nghiệp, chúng mong
được giải thoát, nhớ lại những năm trong trại cải tạo, tôi trả
tiền mở cửa lồng cho đàn chim bay. Trong cổng Chùa hai bên bán
nhang đèn, hoa sen để cúng Phật. Sân chùa đông người vội vã đến
và đi. Bên trong Chánh điện khói nhang bay lên mù một khoảng
không gian … tiếng chuông mõ đều đặng…Tôi muốn cảnh chùa thanh
tịnh hơn, chú em đưa tôi đến gần khu du lịch Đầm sen. Ngôi chùa
nhỏ tu theo phái Thiền (thờ Tổ Sư thiền). Thầy trụ trì là Hòa
Thượng Thích Minh Cảnh (?), chúng tôi đốt nhang đảnh lễ ở chánh
điện và cúng tịnh tài. Vườn chùa có cây lá xanh tươi yên tĩnh,
giếng nước trong mát vào buổi trưa „Ngọ trai“ phía sau chùa,
nhiều Phật tử đang tiếp tục nấu nồi cà ri vàng sôi sùng sục,
phòng bên cạnh đã đông người sinh hoạt, mặc áo dài màu lam...
Thức ăn không bán, ai muốn ăn gì thì tự chọn lấy. Tôi rất thích
phong cảnh thiên nhiên nơi nầy, Thầy Trụ trì mời chúng tôi vào
dùng „cơm trưa“, thật là hân hạnh được ăn chay ở chùa thấy lòng
mình thanh thản, an toàn không sợ ngộ độc!
Phía sau Chánh điện là phòng nhỏ kê dãy bàn dài, để nhiều
loại bánh chay, xôi, chè, trái cây đủ loại vừa cúng xong. Những
diã rau thơm giá trắng sắp thứ tự, chú Điệu đầu còn để chóp mang
2 tô bún tới mời… bình trà sen thơm ngát.
Lần đầu tiên, tôi được thưởng thức món ăn chay với bánh, xôi,
chè, cúng xong trên bàn Phật. Thức ăn có mùi hương đặc biệt, mùi
của trầm, hoa sen … Chúng tôi có dịp hầu chuyện với thầy trụ
trì, được biết thầy đã từng dạy môn Hán Văn, giảng dạy cho nhiều
sinh viên tu học đã lên chức Đại Đức, Thượng Toạ, vì đông người,
tôi ngại không hỏi nhiều về vấn đề tự do Tôn giáo… Thầy am hiểu
sinh hoạt của người Việt hải ngoại, đại đức Thích Đồng Văn trụ
trì chùa Tâm Giác Munich được tấn phong lên Thượng Toạ nhiều
người chưa biết, nhưng thầy đã biết… Trong nước các ngày lễ
lớn, tổ chức đúng ngày tháng theo âm lịch, nhưng ở hải ngoại
thường chọn ngày cuối tuần, vì trong tuần mọi người phải đi làm
việc. Sinh hoạt tôn giáo của cộng đồng người Việt tỵ nạn khắp
nơi trên thế giới, luôn phát huy và trường tồn, mang bản sắc văn
hoá Việt Nam hoàn toàn độc lập và tự do. Người Việt hải ngoại đã
đóng góp nhiều về việc từ thiện, gởi tiền về giúp tu sửa Chùa,
nhà Thờ bên quê nhà.
Thời gian ở Việt Nam tôi dành thì giờ đến các nơi mang dấu ấn
lịch sử, như nhà thờ cha Tam ở Chợ lớn, nơi cố TT ngô Đình Điệm
dự thánh lễ cuối cùng, Thánh Thất Cao Đài, Cồn Phụng của ông Đạo
Dừa (Vừa). Tôi muốn đến Thanh Minh Thiền Viện thăm Đạo Lão Hoà
thượng Thích Quảng Độ, nhưng có người khuyên đừng tới đó gây ảnh
hưởng người nhà. Ông bạn tôi làm nghề giáo trước 1975 được hoãn
dịch gia cảnh, nên được dạy học tiếp tục đã kể với tôi
-Đứa học trò lớp 9 con nhà nghèo cha mẹ mất sớm, ở với bà ngoại
đi học vì liên hệ buôn bán ma túy, bị bắt giam ở khám Chí Hoà,
vì tình thầy trò. Ông xin giấy phép tới thăm, sau đó ông gặp
người học trò khác làm công an cho biết, sở CA thành phố có lệnh
cho theo dõi thầy….vì đi thăm can phạm buôn bán ma tuý… ông
khuyên tôi, đừng để thân nhân bị ảnh hưởng trong lúc tôi ở trong
nhà, mà đến Thanh Minh Thiền Viện nơi đó ngày đêm có CA mặc
thường phục làm việc như làm xe ôm….
Có lần đến Cần Thơ, tôi muốn đến tòa Tổng Giám mục, thăm vị Linh
mục trước đây theo học thần học ở Roma, xong tiến sĩ về .. bị
chú em từ chối với lý do vì đi xe nhà, nếu đến đó bị CA ghi bản
số xe thì phiền phức…. ! Tôi cũng hỏi một vài Tu sĩ về vấn đề tự
do tôn giáo, đều được trả lời như nhau : theo lệnh của nhà nước
đi tu phải „đẹp đạo tốt đời „dù xuất gia đi tu, nhưng vẫn bị sự
quản lý của công an và nhà nước…Vấn đề nầy khác trước 1975 ai
muốn tu thì vào Chùa, Chùa có sinh hoạt độc lập và được tôn
trọng trong khuông viên của Chùa, Cảnh sát không được bước vào
kiểm soát ! Giáo Hội tự trị có nhiều cơ sở văn hoá riêng, các
trường Trung và Đại học…
Sau hơn 3 thập niên Việt nam hoà bình, đáng lẻ kinh tế phát
triển dân trí tiến bộ, nhưng không tiến được còn thụt lùi. Nhà
thờ Đức Bà phiá sau bức tường bị xâm thực, đổi màu vì thành phố
không có nhà vệ sinh công cộng, người ta quên sự trang nghiêm
của Giáo đường làm nơi ấy để đi tiểu. Dù mùa Vu lan nhưng không
thấy Đoàn thanh niên Phật tử áo lam mang huy hiệu hoa sen ?
Ngoài phố chỉ thấy xe cộ xuôi ngược vội vã, Chùa, nhà Thờ không
có cái nào được xây thêm (ngoại trừ ở Đà Lạt có thêm Thiền viện
Trúc Lâm của H.T Thích Thanh Từ ?
Tháng bảy mưa ngâu, muôn đời vẫn như vậy, nếu xã hội không có tự
do, thì con người vẫn ở cuối dòng sông, đời sống chậm tiến và
tình người thiếu chân thật.. Hình ảnh quê hương rất đẹp! lâu năm
sống ở hải ngoại, ai cũng muốn một lần về viếng mộ, tu sửa để
trả một phần công ơn cha mẹ, tổ tiên… Đối diện với cuộc sống
mới…nhiều đổi thay. Lúc giả từ Việt Nam, chúng ta mỗi người đều
mang theo một nỗi buồn nào đó chen vào hồn. Mùa xá tội vong
thân, xin cầu mong cho dân tộc Việt Nam cỡi bỏ nghiệp chướng hôm
nay .
(1)
Ngày xưa ngày xưa có
nàng Chức Nữ là con gái yêu của Thiên
Vương, Nàng thường dệt vải hay ngồi bên bờ sông Ngân may áo cho
các em.
Ngày
kia một chàng trai dắt trâu đến bờ sông , chàng tên là Ngưu
Lang đẹp trai thấy nàng chàng liền si mê , Riêng nàng cũng yêu
thương chàng Thiên Vương hiểu được mối tình của hai người nên
đã ưng thuận cho Chức Nữ và Ngưu Lang kết duyên vợ chồng.
Nhưng họ phải lo tiếp tục công việc sau khi cưới nhau
Hai người sống rất
hạnh phúc. Tuy nhiên suốt ngày bên nhau cho nên đã chểnh mãng
công việc Thiên Vương giao, khung cửi bỏ không, đàn trâu gầy
đói. Thiên Vương giận dữ đầy cả hai xuống bờ sông Ngâu, nhưng
bắt mỗi người ở một bên bờ. Mỗi năm Trời chỉ cho hai người gặp
nhau một lần vào ngày 1 tháng 7 Âm lịch. Vào ngày ấy, bao giờ
cũng mưa dầm dề, đó là nước mắt của cả Ngưu Lang lẫn Chức Nữ.
Nhân dân gọi đó là mưa Ngâu. Những vợ chồng trẻ vì nhiệm vụ hay
vì một hoàn cảnh nào đó mà luôn phải xa cách nhau thường được ví
là "như vợ chồng Ngâu".
Trở về Trang Chính