|
Đôi lúc cảm nhận lại kỷ niệm của những ngày xa lắc bỗng thức
dậy, thời gian trôi qua đã ¼ thế kỷ nhưng tôi vẫn nhớ mãi những
ngày ra khơi.
Thuở ấy đi đâu cũng phải
có giấy phép đi đường, gần 3 năm trong trại cải tạo, được tha về
chưa được phép phục hồi quyến công dân! Tôi mua giấy phép đến
Long Xuyên, nơi đó là điểm hẹn được mua bãi để vượt biên. Từ Bắc
Vòm Cống, ghe nhỏ đầy người chật như nêm chạy chậm đến Cần Thơ
rồi Bến Tre chờ đêm tối vượt cửa Bình Đại trốn ra khơi. Nước
sông Hậu giang đục ngầu, những cánh hoa lục bình tím nhạt, lênh
đênh trôi hai bên mạn thuyền, người ngồi trong ghe đều băn khoăn
cuộc đời phó thác theo dòng nước không biết đời mình sẽ đi về
đâu? Ghe loại “cà vom“ cũ mái lợp bằng lá, dài khoảng chừng 12
m, ngang 2,5 m dùng di chuyển trên sông rạch miền Nam, “đổi đời“
nó mang sứ mạng mới chở 78 người vượt đại dương tròng trành như
chiếc lá đang trôi giữa dòng, thật mong manh trên lượn sóng… Ghe
ra khơi 4 ngày 3 đêm, đã thiếu lương thực ..., nước biển vào
dưới khoang phải thay phiên nhau tát nước, nhiều người nôn mửa,
nước tiểu đã bốc mùi … Về đêm, chân trời và biển hiện lên một
vạch sáng mờ ảo, ghe nhỏ như chiếc lá cô đơn, ngoài khơi chúng
tôi nghe hát cải lương và tiếng gọi cầu cứu vọng lại. Người ngồi
phiá trên cố gắng tìm kẻ đồng hành nhưng không thấy ai, anh Tài
công đốt nhang, vãi muối, gạo xuống biển đọc kinh cầu nguyện và
nói có thể đó là “hồn ma những người gặp nạn chưa siêu thoát!“.
Nếu ghe chúng tôi không được tàu Cap Anamur vớt, chắc chắn 78
sinh mạng sẽ nằm vĩnh viễn dưới lòng đại dương.!
Chúng tôi tạm cư trại tị
nạn Sembawang Singapore, tối ngủ viả hè nhìn trăng sao nhưng
hạnh phúc vô cùng, đời sống từ đó có tự do không lo sợ bị đưa đi
kinh tế mới, đi thủy lợi đắp đập, trồng thơm …Sau 30.4.1975,
chính quyền mới dựa vào khối cộng sản Nga Tàu gây ra nhiều lỗi
lầm chính trị, quân sự và kinh tế. CSVN đã đày đọa những người
làm việc thời VNCH vào những trại cải tạo và kỳ thị những gia
đình liên quan đến chế độ miền Nam. Đây là thời ăn bo bo, mặc
quần áo nâu sồng, đi xe đò chạy bằng than, đường phố Saigon toàn
màu đỏ, cờ đỏ, khẩu hiệu đỏ .. đời sống trở nên khốn cùng, ai có
khả năng thì thường mơ ước vượt biên. Hàng triệu người đã bỏ
nước ra đi. Một số lớn đã bị bão tố vùi dập trong biển cả, bị
hải tặc hiếp dâm, hãm hại, bơ vơ trong trại tị nạn, đã đánh động
đến lương tâm của thế giới, sự kiện xảy ra ở Việt Nam hơn 30 năm
về trước. Ngày nay Việt Nam dù có đổi thay theo nhu cầu của thế
giới, nhưng người Việt tị nạn ai còn nhớ hay đã quên ngày mình
âm thầm đổi mạng để rời bỏ quê hương?
Những ghe được Cap Anamur
vớt vào Singapore tạm trú làm thủ tục định cư Đức hay các nước
khác mau chóng, (các đợt sau, Cap Anamur vớt đưa sang đảo Galang
). Đến Đức, đời sống người tị nạn được lo chu đáo, vì người Đức
từng trải qua khổ đau của Thế chiến II.
Người Việt tị nạn học xong
các khoá Đức ngữ từ 8 tháng đến 1 năm sau khi rời trại tị nạn,
chính phủ cấp nhà xã hội (trả tiền mướn rẻ hơn), giới thiệu việc
làm hay đi học tiếp. Mời độc giả đọc hai bài viết về Người Việt
ở Đức và Vấn đề Giáo dục, để hiểu thêm về đời sống tại Đức trước
và sau khi thống nhất hai miền Đông Đức và Tây Đức.
http://www.phanchautrinhdanang.com/BAIVO2005/nguoivietoDucNQD.htm
http://www.khoahoc.net/baivo/nguyenquydai/130106-vandegiaoductaiduc.htm
Người Việt ở rải rác các
tiểu bang, rất ít có cơ hội gặp nhau, ngoại trừ những ngày biểu
tình tranh đấu cho tự do và nhân quyền cho Việt Nam. Người Việt
tị nạn dần dần được ổn định về vật chất và hội nhập, vượt qua
khó khăn “an cư lạc nghiệp“. Tết âm lịch, các thành phố lớn có
người Việt tị nạn đều tổ chức văn nghệ Tết giống như bên quê
nhà, cũng có bánh chưng, bánh tét. Thời gian đó, tiệm thực phẩm
Á châu rất hiếm, (lá chuối, lá dong mua đắt hơn nếp thịt, đôi
khi không có) phải dùng giấy bạc gói bánh, không có cành mai
thật thì làm mai vàng bằng giấy cũng đẹp mắt, cờ vàng ngạo nghễ
tung bay trong mùa đông tuyết trắng.
Người Việt tỵ nạn được cấp
thông hành “Reise Pass“, và đổi bằng lái xe, chúng tôi dành tiền
trợ cấp, thuê xe sang Pháp. Nhớ thời học Pháp văn cuốn Cours de
Langue de Civilisation (tác giả Mauger) giới thiệu về văn hoá
Pháp, tháp Eiffell là một kỳ quan thế giới, Lần đầu tiên leo lên
tháp nhìn kinh thành ánh sáng Paris và nói tiếng Pháp với dân
bản xứ, nhớ các thầy cô đã dạy mình học Pháp văn như : thầy Trần
Tấn, thầy Huỳnh Ấn và cô Đặng thị Vân (xin tri ân hai thầy dù đã
ra người thiên cổ) .
Kỷ niệm khó quên đến
Paris. Chúng tôi phải ngủ đêm trên hè phố, trời tháng tư mùa
Phục Sinh còn khá lạnh. Dù tôi đã gởi thư cho người bạn báo
trước sẽ đến thăm, nhưng không viết rõ giờ, người bạn cho số
phone của tiệm thực phẩm Á Châu, buổi tối đóng cửa về nhà riêng,
tôi đến trễ vì kẹt xe chưa kinh nghiệm lái xe ở cái thành phố
hoa lệ, phức tạp lưu thông... Ngủ Hotel loại thường, ở Paris năm
1980 một đêm hơn $100 cũng không thể tìm phòng trống, nên chấp
nhận bụi đời theo kiểu An Nam. Người Việt tị nạn giấy tờ ổn
định, nhiều người đi Hoa Kỳ, Úc, Canada… thăm thân nhân, bạn bè…
việc liên hệ với thế giới càng rộng rãi hơn. Sau này nhờ kỹ
nghệ điện tử phát triển, truyền thông và thương mại dẫn đến
việc thành lập nền văn hoá thế giới “World culture“.
Hệ thống internet
Information superhighway là một xa lộ thông tin nhanh chóng thu
hẹp thời gian và không gian (1). Xuân Tân Tỵ năm 2001, tôi nhận
Đặc San đất Ngũ Phụng của Hội Ái Hữu Quảng Nam Đà Nẵng tại
Houston và V.P.C có bài của thầy Trần gia Phụng. Tôi gởi mail
mua sách và gọi phone thăm hỏi. Thầy Phụng cho địa chỉ Website
Xứ Quảng (www.xuquang.com)
do nhà văn Trần Trung Đạo và họa sĩ La Vĩnh Lương biên tập, từ
đó tôi viết bài cộng tác. Nhà văn Phù Vân Nguyễn Hòa chủ bút
Nguyệt San Viên Giác Đức, cũng khuyến khích tôi viết văn là lối
giải trí lành mạnh, nếu được độc giả thương mến là một niềm vui
muôn thuở. Cảm ơn Quỳnh Thi chủ bút Nhật Báo Việt Nam ở San
Jose, hàng năm gởi tặng Đặc san xuân và kèm theo Check tiền
nhuận bút, những bài đã đăng báo trong năm.
Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh
Phan Châu Trinh Đà Nẵng thực hiện Đặc San kỷ niệm 50 năm thành
lập trường trung học PCT ở Little Saigon California năm 2002.
Anh Huỳnh Tuấn đã gởi mail kêu gọi góp bài, thực hiện Đặc san
trang nhã, cỡ 13,5 x 21 cm, dày 246 trang, hình bìa màu đẹp có
hiệu đoàn trường xưa, nhiều tác giả viết bài là thầy cô và học
trò, nhờ Đặc san nên tôi biết người còn, người mất! Sau biến cố
lịch sử 30.4.1975 tan hàng rã đám! Từ đó tôi có cơ hội liên lạc
với thầy Tạ Quốc Bảo, cô Mộng Hoàn…và nhiều cựu học sinh PCT.
Tình cờ tôi nhận mail ký
tên Phan Mai đã chọn bài “Phan Châu Trinh và cuộc đời cách
mạng“, chuyển đến cho website Một Thời Phan Châu Trinh
www.phanchautrinhdanang.com. Cảm ơn anh Phan Mai lần
đầu tiên đã cho tôi nhịp cầu trở về mái nhà xưa. Anh Mai là
người tị nạn như chúng ta, nhưng cuộc đời của anh đã trải qua
nhiều thương đau, nghe qua phải rơi nước mắt cho hoàn cảnh của
anh, dù anh không nói cho nhiều người biết nhưng xin phép anh,
tôi viết đoạn này để chia sẻ với anh và để con cháu biết tại sao
mình bỏ nước ra đi, đến Mỹ trong cô đơn mất mác… anh đã vượt qua
mọi khó khăn làm lại cuộc đời thành công, hữu ích cho xã hội.
Hoàn cảnh gia đình thời niên thiếu của anh Mai thật bi đát, thân
phụ anh bị chết trong trại tù Cộng Sản.. Mẹ sống trong khổ đau
và tuyệt vọng, không thể tiếp tục ở lại với chế độ mới nên phải
chọn con đường ra đi tìm tự do. Mẹ đưa anh Mai vượt biên trên
một con tàu nhỏ, những ngày lênh đênh trên biển đông phong ba,
bão táp, tàu của anh bị 3 chiếc tàu hải tặc Thái Lan cướp của,
hãm hiếp, đàn bà trẻ em, sau đó đâm vào tàu anh chìm, Mẹ anh Mai
bị mất tích từ đó! may mắn anh bám được cái thùng nhựa, trôi
lênh đênh trên biển một ngày và được tàu Mỹ vớt ….!!
Sau đó tôi liên lạc gởi
bài đến anh Trần Ðình Thắng, anh từng là cầu thủ trong đội banh
của trường PCT, thời anh làm mưa gió trên sân cỏ thì tôi là
thằng bé đi lượm banh. Trong những dịp tết, tôi thường gọi chúc
tết anh Thắng, vừa đồng hương, vừa đồng trường nên cũng tâm đắc
lắm. Ðược biết anh Thắng nhập ngũ khóa 27/SQTBTÐ năm 1968, phục
vụ ở vùng 1 chiến thuật 7 năm. Sau 30.4.75, anh đi tù 8 năm và
định cư tại Hoa Kỳ năm 1993. Ban kỹ thuật website PCT do
Webmaster Bảo Sơn, tiến sĩ kinh tế, điều hành và săn sóc, có sự
phụ giúp của anh Phan Mai, tiến sĩ khoa học, giáo sư đại học.
Anh Bảo Sơn cũng đã đi tù cải tạo hơn 7 năm. Các anh Thắng, anh
Sơn, anh Mai, v.v.. là những người có nhiệt tâm rất nhiều với
trang nhà MTPCTDN, mặc dù bận rộn trong công ăn việc làm và cuộc
sống hàng ngày vẫn cố gắng duy trì trang web, càng ngày càng đặc
sắc phong phú. Cũng từ trang web nầy, tôi có dịp được hân hạnh
quen biết anh Vương Ngọc Long ... Trước đó tôi thường đọc thơ
của thi sĩ Vương Ngọc Long còn có bút hiệu Hải Đà trên Xứ Quảng.
Nhạc sĩ Nguyễn Tuấn ở Harrisburg PA gởi tặng CD tình ca nhạc
“Bao giờ em biết 12 tình khúc phổ thơ Vương Ngọc Long”, lời và
nhạc hấp dẫn, tôi gọi cảm ơn anh Nguyễn Tuấn (trước 1975 anh là
bác sĩ thú y), góp ý nên phổ biến rộng rải đến các trung tâm
nhạc, để ca sĩ hải ngoại hát cho nhiều người thưởng thức..
Anh Vương Ngọc Long biết
tôi yêu thích thơ văn, anh gởi tặng những CD Giọt Thơ Buồn, Yêu
Em Anh Làm Thơ, Quên tình ca Phạm Anh Dũng, Lầu Thơ Vút Cánh Hạc
Vàng, và đặc biệt là tập thơ Dấu Ngọc Ngà, là tuyển tập thơ tình
như lời ngỏ “tình yêu như một kiến trúc lãng mạn, tiếng lòng
thổn thức, bí ẩn, sâu hút quyến rũ…luôn luôn và mãi mãi là đề
tài vĩnh cữu trong thi ca ..Thân ái mời qúi bạn hãy bước vào
vườn thơ tôi với tất cả chân tình, độ lượng và cảm thông“…. Thi
phẩm dày 267 trang có phụ bản hình màu, tranh bìa của danh hoạ
Vũ Hối. Thi phẫm nầy có tính cách kỷ niệm do nhà xuất bản Rạng
Đông ấn hành, anh Long gởi thân tặng các bạn bè, thân hữu, thân
quyến và những người yêu thơ. Bà xã anh Long, chị Hồ thị thùy
Trâm là hoa khôi của nữ sinh trường nữ trung học Hồng Đức thuở
nào, nên mối tình của 2 trường Phan Châu Trinh và Hồng Đức luôn
gắn bó. Nghe nhạc và đọc thi tập của anh Long như đưa mình vào
một thế giới mộng mơ, với yêu thương không vướng bận hận thù, dù
sau năm 1975 thân phụ anh Long (từng là Dân biểu thời đệ nhất
Cộng hòa) và các anh em trong gia đình đều bị đi tù cải tạo
nhiều năm.. Đến Mỹ, anh Long vừa đi làm, vừa tự học lấy lại
bằng dược sĩ (khóa thi tương đương đầu tiên được mở tại Hoa Kỳ),
đã làm chủ nhà thuốc tây, dù bận rộn nhưng anh luôn sinh hoạt về
văn hoá, giúp đỡ bạn bè.. Anh Long còn làm thơ Anh ngữ và thơ
Đường rất hay. Thầy Tạ Quốc Bảo cũng thích thơ Đường của anh.
Hoa Kỳ là quốc gia đa văn
hóa, chính trong môi trường đó càng ngày theo sự lớn mạnh của
cộng đồng người Việt, văn hoá phát triển mạnh và khởi sắc. Nhiều
Hội đoàn, Hội Đồng hương có sự gắn bó với nhau. Thành quả rực rỡ
của cựu học sinh Phan Châu Trinh trên mọi lãnh vực khoa học, kỹ
thuật, thương mãi… là một hãnh diện chung. Hàng năm đều làm ngày
giỗ tưởng nhớ cụ Phan Châu Trinh, thay đổi Ban chấp hành, anh
Nguyễn Đức Chương làm hội trưởng, làm website
www.donghuongquangda.org. Anh Lưu Vạn Hoàng ở Anh
Quốc cũng thực hiện website
www.pct.ic24.net, từ đó cựu học sinh Phan Châu Trinh
có một nhịp cầu liên lạc. Hàng năm tôi nhận được các Đặc San
Xuân Đất Ngũ Phụng ở Houston, Đặc San Quảng Nam Đà Nẵng của Hội
Quảng Đà Dallas-Fort Worth. Chứng tỏ là dân Quảng Nam luôn có
một cái tình đồng hương quý mến, dù hay cãi nhưng lúc nào cũng
tha thứ và gắn bó với nhau, xem phần hình ảnh sinh hoạt của Đồng
hương Quảng Nam ở Hoa Kỳ, ở Đức chỉ là một giấc mơ mà thôi,
những bài tham khảo, thi ca xứ Quảng giúp con cháu mai sau biết
cội nguồn của mình.
Diễn Đàn sinh hoạt MTPCT
trước đây có nhiều trường hợp không hay. Sau khi Wesmaster Bảo
Sơn ngỏ lời với độc giả thì mọi việc đều tốt đẹp. Diễn đàn để
trao đổi những cảm thông với nhau, hiện tượng mới lạ từ Montreal
Canada đã xuất hiện người Viết, bút hiệu Dũng Tam Toà với tinh
thần cụ Phan Khôi.
Năm 2005 phát hành Kỷ yếu
Hội Ngộ Phan Châu Trinh và Hồng Đức 30 Năm Xa Xứ, do cô Mộng
Hoàn thực hiện, nhiều người không cầm bút làm thơ văn, nhưng đời
sống có nhiều điều ấp ủ tâm sự. Họ góp bài cho Kỷ Yếu để trang
trải với đời những tâm nguyện …nhớ lại kỷ niệm đời học trò thơ
mộng mà bây giờ tóc đã bạc màu thời gian. Sau đó, tôi thực hiện
cuộc
phỏng vấn kỷ niệm ngày Hội ngộ PCT và Hồng Đức
năm 2005, tôi đã gởi E.mail và gọi nhiều người, Cô Mộng Hoàn trả
lời không thể mở được. Tôi phone cho Cô nhưng gặp thầy Hồ Sĩ
Hùng (trước 1975 hiệu trưởng trường Kỹ Thuật Đà Nẵng). Thầy về
hưu, niềm vui của tuổi già là thích chơi với các cháu nội ngoại,
dù bận rộn nhưng thầy cũng một tay đắc lực giúp cô Hoàn làm xong
kỷ yếu. Có vài người tôi gởi mail xin phỏng vấn nhưng không nhận
được trả lời, cô Đặng Thị Liệu lúc đó du lịch Canada. Niềm vui
đối với cựu học sinh Phan Châu Trinh ở Việt Nam nhận được Kỷ yếu
đã chuyền tay nhau đọc, những người bạn còn nghèo khó, ốm đau
nhận được tiền giúp đỡ, hai người bạn Ngô Văn Năm và Huỳnh công
Chánh ở Cali cho tôi biết sau khi gởi tên đề nghị các bạn cùng
học một niên khoá là Thành và Liêm ở Đà Nẵng đã nhận mỗi người
100$ trong chương trình giúp đỡ của Hội cựu HSPCT. “miếng khi
đói bằng gói khi no“, của ít lòng nhiều đó là tấm lòng của những
người xa xứ, nhưng lúc nào cũng hướng về quê hương !
Cảm ơn cô Mộng Hoàn vẽ bức
tranh đẹp Nắng Sân Trường, cảm ơn những anh đã đấu giá mua tranh
với tấm lòng nhân ái, cảm ơn những anh chị, đã bỏ thì giờ làm
làm thơ phổ nhạc sản xuất CD, những anh chị bỏ công lo cho ngày
Đại Hội thành công thu được số tiền, giúp sưởi ấm lòng những
người bạn bên quê nhà,
Munich hàng năm vào các
dịp lễ hội, tôi thường gặp Nguyễn Hữu Tùng. Tùng còn có biệt
hiệu “T.đen” trong đội banh trường làm thủ môn cùng học chung
lớp với Nguyễn Hữu Viện ở Paris. Hai người bạn nầy đều làm thơ,
nhưng mỗi người một vẻ, thơ văn thể hiện được phần nào đời sống
thật… dù cùng chữ lót “Hữu” nhưng tính tình lại khác nhau. Thỉnh
thoảng tôi cũng gặp vợ chồng Nguyễn như Ánh, Phạm thị Thanh và
Phan Trí Dũng, còn Nguyễn Đình Hân, Ông Ích Thông, Ông Ich Minh,
Nguyễn Tăng Anh…. tôi có liên lạc một vài lần rồi vắng tin. Anh
Vững sinh hoạt trong hội cựu Hải quân ở Frankfurt, tôi chưa
gặp.. Tình cờ trong một đám tang, thánh lễ mai táng theo đạo Tin
Lành, người chủ lễ nói giọng Quảng Nam tôi cảm thấy gần gũi nên
đến chào hỏi, được biết tên anh là Vinh người truyền giáo đạo
Tin Lành, chưa lên chức Mục Sư là cựu HSPCT, anh kể kỷ niệm về
trường xưa, anh đã trồng những cây hoa giấy màu tím trước hành
lang trường. Anh Vinh đi lao động trả nợ chiến tranh ở Tiệp, hơn
một thập niên qua các nước Đông Âu từ bỏ chủ nghiã CS, anh cùng
gia đình sang Đức xin ty nạn đi làm và sinh hoạt trong nhóm Tin
Lành. Gặp lại một người bạn mới cũng vui, anh thuộc thế hệ trẻ
sau 1975 còn là học sinh. Thời tôi học dãy giữa trường chưa xây
lầu, chỉ hoa phượng nở vào muà hè. Sau 30.4.1975 khắp nơi xây
các tượng khác.. cũng may là tượng cụ Phan vẫn còn hiện hữu
không bị thay đổi.
Theo niên biểu trường PCT
(1952 đến 1975) của thầy Trần Gia Phụng biên sọan, tượng cụ Phan
do cố giáo sư hội họa Đoàn Văn Toàn còn có biệt hiệu Đỗ Toàn
thực hiện, được chính thức dựng trước cột cờ sân trường nhân lễ
húy nhật thứ 40 của cụ ngày 24.3.1966., nhưng tôi đọc cuốn “Hỏi
đáp non nước Xứ Quảng tập 2” của tác giả Lê Minh Quốc do nhà
xuất bản Trẻ quận 3 Saigòn phát hành viết năm 1964: “hoạ sĩ Đỗ
Toàn về dạy vẽ tại trường có ý định tạc tượng cụ Phan tại căn
nhà số 5 Đống Đa, ông tự tay đi lấy đất sét dựng cốt và tạc
tượng. Việc làm nầy đã được học sinh đóng góp đồng phế liệu,
được bà Nguyễn Thi Châu Liên và nhà văn Nguyễn Văn Xuân góp ý
sửa chữa nhiều lần.. công việc này hoàn thành với kinh phí
37.000 đồng, tiền trả cho thợ đúc đồng, còn thầy Toàn không nhận
bất cứ một thù lao nào” (không hiểu sao tác giả Lê Minh Quốc đã
đổi họ Đoàn thành Đỗ, Phan thành Nguyễn ở Việt Nam khi đàn bà
lập gia đinh vẫn giữ họ của mình? )
Điều ngạc nhiên là hình
chụp cụ Phan râu mép ngày xưa thường hay vút xuống, nhưng nhà
văn Nguyễn Văn Xuân đã góp ý với thầy Toàn sửa lại râu hơi cuốn
lên như râu của các ngài bá tước, làm bức tượng đẹp hơn..” nhà
văn Nguyên Văn Xuân tâm sự “bởi vì cụ Phan là mẫu hình tiên
phong trong phong trào cắt tóc ngắn, mặc đồ tây, vì thế tôi cũng
mạo muội làm một cuộc canh tân nhỏ”. Thầy Đoàn Văn Toàn đã về
bên kia thế giới, nhưng để lại đời tượng cụ Phan là một tác phẩm
nghệ thuật, để người đời tôn kính và ngưỡng mộ danh nhân xứ
Quảng .
Học trường Phan Châu Trinh
mỗi người đều có những kỷ niệm đẹp, và niềm tự hào là học sinh
PCT lúc nào cũng giỏi và kỷ luật nghiêm minh, Giáo sư tận tình
với lương tâm nhà nghề, qua các kỳ thi Tú Tài I & II danh sách
học sinh thi đậu chiếm đa số, nhiều hạng như tối ưu, ưu, bình,
thứ . Trước 1972, nhiều HSPCT du học Đức và những người đến sau
1979 tị nạn cũng thành tài, nhưng đời sống mỗi người một nơi khó
gặp nhau, đôi khi không hợp về lập trường chính trị.
Chúng tôi thành lập
Website
www.khoahoc.net, chủ trương về khoa học và đời sống,
không chuyên về chính trị, tôn giáo.. Với PhuongTon
làm chủ bút, nữ sĩ Bích Vân là xướng ngôn viên của Radio
khoahọc.net thành lập được một năm, phát thanh vào chiều Chuá
nhật theo giờ Âu châu. Khoa học.net nhận được sự đóng góp của
nhiều học giả trong và ngoài nước. Riêng cựu giáo sư trường Phan
Châu Trinh Đà Nẵng có: cô Mộng Hoàn, thầy Trần Gia Phụng, thầy
Trần Đại Tăng (Trần Hoan Trinh) đã gởi những bài giá trị, Thầy
Tạ Quốc Bảo thì luôn động viên khen ngợi các bài viết của cựu
học sinh PCT trong tình thầy trò như xưa.
Năm nay kỷ niệm lần giỗ
thứ 80 của cụ Phan Châu Trinh do HỘI ÁI HỮU CỰU HSPCTĐN phối hợp
với HỘI ĐỒNG HƯƠNG QUẢNG NAM, tổ chức tại Anaheim California
chúa nhật ngày 19.3.2006. báo Người Việt đăng (2)
CHƯƠNG TRÌNH HỘI NGỘ ÐỒNG
HƯƠNG QUẢNG ÐÀ & LIÊNTRƯỜNG ÐÀ NẴNG lần đầu tiên tại HOUSTON.
Chiều Thứ Bảy 05/27/06 Ðịa điểm: The Westin
Galleria Hotel 5060 W Alabama St. Houston , TX 77056
Từ lâu
tôi mơ ước ngày hội ngộ để “ôn cố tri tân” gặp các thầy cô, các
bậc trưởng thượng và cựu học sinh PCT Đà Nẵng. Nhưng tiếc quá!
thời gian đó tôi phải đi làm việc ở Villach Áo theo chương trình
do sở phân chia, nên không đến Hoa Kỳ được, tuy nhiên tôi gọi
mấy đứa em ở California, Houston dành thì giờ về tham dự. Tôi hy
vọng một ngày hội ngộ khác, mong gặp lại thầy cô bạn bè.
Năm
2006 xin cầu chúc gia đình quý Thầy, Cô các anh chị, các bạn
đồng hương, đồng trường luôn được bình an và trọn vẹn tất cả
những gì mong ước
Nguyễn Quý Ðại
Munich mùa Phục Sinh 2006
nguyenquydai@khoahoc.net
(1)
Theo tài liệu Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ nghiên cứu phát minh bảng mã
ASCII lúc đầu chỉ có 7 bits, với bảng mã nầy không ai được quyền
sửa đổi. Với bảng mã 7 bits chứa được 128 ký hiệu. Sau đó người
ta dùng bảng mã 8 bits có thể chứa 256 ký hiệu. Tiếng Việt có
các dấu chỉ cần sử dụng trong phạm vi của số ô từ 128 đến 255,
càng ngày nhu cầu hơn, nên phát triển từ 8 đến 16 bits cho ra
một loại bảng mã mới 16 bits có thể chứa 65536 ký hiệu. Chữ Việt
có thể viết có dấu
(2)
Nguyên
Huy
WESTMINSTER, California - Ðồng
hương Quảng
Nam-Ðà Nẵng
hội ngộ
tân xuân
năm nay với
lễ Húy
Nhật 80 năm
nhà cách
mạng Phan
Châu Trinh, quê
quán tại
Quảng Nam, tại
nhà hàng
Seafood Kingdom vào
chiều tối
hôm Chủ
Nhật 19 tháng
3 vừa qua.
Trên 600
quan khách
và đồng
hương quê
Quảng Nam-Ðà
Nẵng đã
về tham
dự đông
chật nhà
hàng rộng
lớn Seafood Kingdom,
thuộc thành
phố Anaheim.
Nhiều hội
đoàn bạn
cũng tới
dự ngày
lễ chung
của dân
tộc này.
Chúng tôi
nhận thấy
có các
đảng phái
như Ðại
Việt, Việt
Nam Quốc Dân
Ðảng, các
hội Ái
hữu như
Tây Sơn-Bình
Ðịnh, Quảng
Ngãi, Bạc
Liêu, Thăng
Bình, Vũng
Tàu, hội
Hoa Kiều
Hội An...
Nguoi
Viet On Line
Trở về Trang Chính |