|
Nguyễn Trường Tộ sinh năm 1828 tại làng Bùi Chu,
xã Ðoài, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Thân phụ ông Nguyễn
Quốc Thư hành nghề Ðông y sĩ, xuất thân gia đình ảnh
hưởng Nho giáo, theo đạo Thiên Chúa Giáo. Lên mười tuổi thân phụ
dạy học chữ Hán cho đến năm 14 tuổi theo học tiếp tục với thầy
tú Giai ở Bùi Ngoã.
Nguyễn Trường Tộ thông minh xuất
chúng năm 1855 được Giám mục xứ Ðoài, người Pháp Gauthier, tên
Việt nam là Ngô Gia Hậu, mời dạy chữ Hán cho các Giáo sĩ và
ngược lại ông học tiếng Pháp và La Tinh, ảnh hưởng Văn hóa Tây-
và Ðông Phương học hỏi các tư tưởng mới lạ, uyên bác sống tích
cực, hoạt động có trách nhiệm với Quê hương và một lòng vì Ðạo.
Người
Việt vốn sống hiền hoà trọng lễ nghiã, trung dung sinh hoạt về
tôn giáo Phật, Lão, Khổng vv..dù khác nhau Tôn giáo nhưng đoàn
kết, tín ngưỡng đều được tôn trọng. Các Giáo sĩ người Bồ Ðồ Nha
(Portugal) vào Việt Nam truyền giáo vào khỏang năm (1522-1533)
cho đến năm 1615, giáo sỉ F. Buzoni (1576-1639) người Tây Ban
Nha (Spain) đến Hội An truyền đạo. Trong số nầy hai giáo sĩ
Fracesco de Pina và giáo sĩ Alexandre de Rohdes (1593-1660) với
sự tiếp tay của người Quảng Nam góp phần sáng chế ra chữ Quốc
ngữ. Người Việt đều quý trọng.
Nguyễn
Trường Tộ tín đồ Thiên Chúa Giáo, trưởng thành trong giai đoạn
lịch sử bị thực dân Pháp chiếm các nước Ðông Dương và Việt Nam.
Từ đó triều đình vua quan Việt Nam không thích việc truyền Ðạo.
Mặc dù có một số giáo sĩ Thiên Chúa giúp vua Gia Long trong thời
gian khôi phục lại sơn hà, đóng góp vào sinh hoạt văn hóa Việt
Nam. Ðào tạo lớp người mới Paulus Hùynh Tịnh Cuả, Petrus Trương
Vĩnh Ký để lại hơn 100 tác phẩm Văn học biên khảo, có công mang
hột giống, cây, hoa qủa lạ như : sầu riêng, măng cụt, mãng cầu,
lôm chôm từ Pinang Malaisia về trồng tại miền Nam
Ðổi
thay qua nhiều triều đại, từ đời vua Minh Mạng (1820-1840) Tự
Ðức (1847-1883), Thiệu Trị (1840-1847) nghi ngờ các giáo sĩ thân
Pháp đến truyền giáo tại Việt Nam. Thiên Chúa bị gọi là „ tả
đạo “ lúc bấy giờ không phải chỉ riêng Vua mà quan lại, sĩ
phu ít người hiểu về giáo lý của Ðạo Thiên Chúa giáo, chỉ thấy
việc truyền đạo có nhiều điều trái với Nho giáo và phong tục tập
quán
Giáo
luật của Tòa thánh La Mã lúc bấy giờ còn qúa cứng trong khuôn
khổ khó phù hợp với xã hội Việt Nam? Nguồn gốc người Việt lâu
đời trong đạo Thờ cúng ông bà Tổ Tiên, mỗi nhà có bàn thờ tượng
trưng như một truyền thống văn hóa của Dân tộc Việt Nam, không
ai có quyền cấm đoán. Phật giáo, Nho giáo cũng du nhập từ Trung
Hoa, Ấn độ hay Nhật bản nhưng luôn tôn trọng tập tục của người
Việt
„ Giáo
luật Thiên chúa thời đó ngăn cấm tín đồ thờ cúng tổ tiên, ngày
kỵ giỗ tưởng nhớ ông bà hay làm tang lễ cho thân nhân, Giáo dân
chỉ xin lễ tại nhà thờ, không được làm lễ tại nhà ? Việc thờ
cúng tổ tiên là nền tảng truyền thống tinh thần xã hội và triều
đình Việt nam. Nên không thể tránh được những mâu thuẫn.“
„
Kể từ đầu thập niên 60, Cộng đồng Vaticanô 2 Giáo hội Thiên chúa
giáo La mã (Roma) mới có những thay đổi để phù hợp với văn hoá
các nưóc trên thế giới. Riêng tại Việt nam giáo dân có thể thiết
lập bàn thờ và tổ chức cúng kỵ ông bà cha mẹ tại nhà.“
Triều
đình ban hành các Dụ cấm đạo, việc làm hơi „vơ đũa cả nắm“
trong giai đoạn cần phải đoàn kết Lương-Giáo cùng nhau bảo vệ
độc lập, không phải ai theo Ðạo đều tiếp tay cho giặc. Giết
Giáo, dân trục xuất giáo sĩ không khác gì đổ dầu thêm vào lửa.
Không thống nhất kế hoạch ổn định nhân tâm, đem lại các giai
đoạn đen tối nhất trong lịch sử. Nhật Bản áp dụng chính sách bế
môn năm 1620 vì lo ngại việc truyền đạo vào nước Nhật, nhưng họ
sớm canh tân, mở cửa đón nhận văn minh thế giới, đã trở thành
một cường quốc. Triều đình Việt nam bế môn toả cảng không bang
giao với Tây Phương, bởi vậy không tránh được sai lầm trong
chính sách cai trị, vốn từ lâu chiụ ảnh hưởng Trung Hoa. Nước
Việt Nam đã gần 100 năm làm thuộc điạ, kéo dài cuộc chiến khổ
đau cho dân tộc..
Quốc
gia không được canh tân, chọn người đủ tài đức ra giúp nước,
không cải cách sửa đổi sai lầm trong việc cai trị,
độc tài độc đảng sẽ đưa đất nước đến bên bờ vực thẳm . Dân chủ
là môi trường phát sinh ra những tư tưởng mới, khoa học kỹ thuật
phát triển đưa đời sống nhân dân tiến bộ căn bản gồm : dân sinh,
dân quyền và dân trí. Các vua thời phong kiến, không tôn trọng ý
kiến của Nguyễn Trường Tộ và những người yêu nước khác, để canh
tân đất nước. Thế hệ chúng ta sinh sau Nguyễn Trường Tộ hơn một
thế kỷ, có thể rút ra được nhựng bài học từ sự kiện lịch sử đó
hay không ? Đó là một bài học lịch sử giá trị con cháu chúng ta
không thể quên.
Năm
1825 tàu chiến Pháp Theles tới Ðà Nẵng. De Bougainville đem thư
vua Pháp xin vào yết kiến, vua Minh Mạng không tiếp, sai đem
phẩm vật biếu tặng. Năm 1825, Giáo sĩ Roggerot sang xin giảng
đạo, trong lúc vua Minh Mạng cấm đạo (dụ cấm đạo lần thứ 1) Năm
1826, Pháp Hoàng sai Chaigneau sang xin đặt lãnh sự, vua Minh
Mạng từ chối
Năm
1833 ra dụ cấm đạo lần thứ 2
Năm
1836 cấm đạo lần thứ 3 từ năm 1834-1838 có 7 Giáo sĩ bị giết
Năm
1838 Vua sai sứ sang Pháp, Hoàng Ðế Louis Philippe không tiếp vì
Hội Truyền Giáo quốc tế phản đối những dụ cấm đạo tại Việt Nam.
Năm
1847 đại tá Lapiered sang Việt Nam yêu cầu nhà Vua bỏ lệnh cấm
đạo
15-04-1847 chiến tranh bắt đầu, vua Thiệu Trị cho giết giáo dân
và giáo sĩ trục xuất người Tây phương.
Tháng
7-1858 Rigault de Genouilly đem liên quân Pháp đánh hạ thành An
Hải và Ðiện Hải tại Ðà Nẵng
Năm
1859, Pháp đánh chiếm thành Gia Ðịnh. Vào ngày 01-11-1859, ông
Page đến xin vua Tự Ðức ký Hòa ước xin ngoại giao, buôn bán và
truyền đạo, nhưng các điều kiện trên đều bị từ chối. Vua Tự Ðức
thông minh nhưng nhu nhược, sống đóng khung trong cung, sợ sự
chống đối của quan lại, không quyết định được vận mệnh đất nước.
Người Pháp lợi dụng việc cấm đạo gây chiến tranh xâm chiếm Việt
Nam
Nguyễn Trường Tộ nhờ Ðạo tiến thân, là một công dân
Việt Nam tài ba lỗi lạc, nhưng không được triều đình trọng dụng.
Khó có cơ hội thăng tiến trong cử nghiệp, có thể lý do ông tham
gia khoa thi năm 1848 (canh tý). Năm 1858 ông theo Giám mục
Gauthier vào Ðà Nẵng tránh nạn „phân pháp“ đàn áp tôn
giáo cấm đạo của Triều đình. Sau đó sang Pháp bằng đường thuỷ,
trong thời gian lưu lại Pháp nhìn thấy được văn minh, khoa học
kỷ thuật cao .
Ông bỏ nhiều thì giờ đọc sách học hỏi thu thập tinh
túy, chọn lọc làm hành trang trở lại quê hương, mong đóng góp
được cái hay đẹp, hữu ích xây dựng đất nước. Trên đường trở về
ghé Roma tiếp kiến Ðức Giáo Hoàng, sau đó đến Hồng Kông. Về đến
Sài Gòn nhiều đổi thay, Gia Ðịnh thành thất thủ tháng 02-1861 bị
quân đội Pháp chiếm đóng. Ông được bổ dụng làm thông ngôn tại Sứ
phủ Sài Gòn, dịch các văn bản giấy tờ làm gạch nối giữa triều
đình và Pháp.
Năm 1961 ông gởi cho triều đình Huế qua đại thần
Nguyễn Bá Nghi, văn bản hòa từ đề nghị triều đình nên hoà với
Pháp tránh chiến tranh gây khổ đau cho dân tộc
“sự thế hiện nay chỉ có hòa, hòa thì
trên có thể thuận ý trời dưới dân, có thể làm cho dân khỏi đau
khổ,chấm đứt sự dòm ngó của gian nghịch „
Năm
1862 Ðô đốc Bonard mở rộng cuộc chiến, trước thái độ hung hãn
hiếu chiến khát máu. Ông nhìn thấy bất mãn không cộng tác, xin
thôi việc tại soái phủ Sài Gòn. Nguyễn Trường Tộ tự khép mình
trong bổn phận Ðạo và Ðời, trách nhiệm cao cả người con của
Chúa, và người con của dân tộc Việt Nam. Ông phục vụ cho Giáo
hội và nghiên cứu viết những điều trần kế tiếp giá trị, để góp ý
trong việc xây đựng đất nước, có thể nói Nguyễn Trường Tộ nhà
tu, một chính trị gia lỗi lạc. Ông kêu gọi phải chán chỉnh lại
học thuật „Học tức học cái chưa biết, biết để mà làm, làm tức là
làm những công việc thực tế trong nước và để lãi việc làm hữu
dụng đó cho đời sau nữa“. Trước đó Nguyễn Lộ Trạch viết nhiều
điều trần, mong đất nước được canh tân, đến ngày nay chúng ta
phải ngưỡng mộ, nhưng triều đình bỏ quên trong ngăn tủ nào đó.
Các
điều trần dưới xã hội phong kiến, như một ánh sáng lóe lên trong
đêm tối của lịch sử, mong muốn triều đình thay đổi cách cai trị,
mở rộng ngoại giao, tiếp xúc với Tây phương, bỏ lối học từ
chương, ngâm thơ vịnh nguyệt. Nên học hỏi văn minh tiến bộ, gởi
du học sinh ra nước ngoài, mong học về khoa học kỹ thuật, hy
vọng học xong về nước phát triển về kỷ nghệ, Triều đình luôn
giữ chính sách bế môn tỏa cảng. Phan Thanh Giản từng than thở
khi đi sứ sang Paris về nói chẳng ai nghe
Từ ngày đi
sứ tới Tây-kinh
Thấy việc
Âu-châu phải giật mình
Kêu tỉnh
đồng-bang mau kíp bước
Hết lời
năn-nỉ chẳng ai tin
Nguyễn
Trưòng Tộ giống như Phan Thanh Giản viết lên nỗi lòng :
-
Khi trong nước cái Ðạo bị diệt, tôi vượt sông lội biển để giữ
lấy cái chân lý ở nước người , trước những người quyền quý, tôi
luôn nói thận trọng, làm việc nghĩ trước suy sau nhằm giữ thể
diện cho nước mình...Tôi tuy là Gíáo, nhưng dòng máu trong tôi
vẫn là con Lạc cháu Hồng. Tuy nhà Vua chưa tin tôi, đình thần
còn e dè tôi, song ai làm nhục đến các bậc công khanh nước ta,
tôi đều biện bác ngay không một chút sợ sệt.
(Trang 145 Phan thanh Giản nỗi đau trăm năm) ***
Nguyễn
Trường Tộ sinh bất phùng thời, được xem như một thiên tài, kinh
bang tế thế, kiến thức vượt qua các quan lại, khoa bảng trong
triều đình. Vua trị vì với tính cách cha truyền con nối, nhưng
tiếc thay quan lại trong triều không sáng suốt, cương trực để
lắng nghe ý kiến đóng góp xây dựng, đem ra bàn cãi, tổ chức
phương pháp làm việc. Các quan thích sống ngâm thơ vịnh nguyệt,
bảo thủ yên phận, đôi khi tỏ ra ganh ghét đối với Nguyễn Trường
Tộ.
Chúa Giêsu từng phán dạy
- nếu
các ông mù, thì các ông đã chẳng có tội nhưng vì các ông nói
„chúng tôi nhìn thấy được“, nên tội các ông vẫn còn
đó. ( Ga 9, 41)
Các
Quan lại trong các triều đại Việt Nam không mù, nhưng họ không
sáng suốt mở mắt nhìn xa trong việc giúp Vua trị nước, để đưa
Dân Tộc Việt Nam khỏi cơn nô lệ !! Nguyễn Trường Tộ viết trong
di thảo số 27:
-
Phàm kẻ trong thiên hạ là người không phải không có lầm lạc ban
đầu, mà là người biết thay đổi hành động, biết sửa điều sai
thành đúng đắn, không xấu hổ vì phải sửa đổi cái cũ, mà xấu hổ
vì không làm được điều gì mới, không nhìn lui dĩ vãng mà chuyên
mưu việc tương lai, không nghĩ đến bảo toàn tên tuổi riêng mình
mà lo lợi ích chung cho đất nước, thế mới gọi là trí
Người Pháp muốn ký Hòa ước vì lúc nầy Pháp và Anh
đang gặp các chuyện rắc rối bên Trung Hoa nên chính phủ Pháp
muốn trì hoãn, để đối phó với Tàu.(1) Phó đề đốc Page tiếp tục
việc thương thuyết của Rigault de Genouilly. Nhưng với nội dung
không đòi đất, chỉ đòi binh phí, tự do truyền giáo, khai thương
ba cửa biển và đặt trú sứ ở Huế (Quân sử tập 3 trang 82) Triều
đình có hai phe hòa và chiến. Phe chủ chiến nhiều hơn vì lúc nào
cũng tự hào, truyền thống đánh đuổi được ngoại xâm. Nhưng họ
quên rằng lối
chiến tranh cổ điển, bằng gươm giáo, súng điểu thương, bắn từng
phát đạn không còn thích hợp với cuộc chiến tranh mới.
Quân đội Tây Phương được huấn luyện, vũ trang
hiện đại với súng đại bác, tàu thủy chạy nhanh trên sông, biển.
Nếu so sánh cân bằng, lực lượng quân đội triều đình Việt nam quá
lạc hậu và yếu kém. Quân triều đình dù có lòng yêu nước tinh
thần chiến đấu cao, không thể đối đầu với đội quân tinh nhuệ của
liên quân Tây phương. Ðồn Chí Hòa dưới quyền chỉ huy Kinh Lược
Sử Nguyễn Tri Phương, quân số hơn 12.000 quân, không thể chống
cự lại với liên quân Pháp, Tây Ban Nha.
Nguyễn
Trường Tộ, trong Thiên Hạ Phân Hợp Đại Thế Luận, có cái nhìn xa
đối với tình hình thế giới, ông chủ trương nên hoà hơn chiến,
lợi dụng kế hòa hoãn để kiện toàn quân đội, canh tân đất nước.
Thay đổi chính sách đối ngoại và đối nội, cải cách Văn hoá, Kinh
tế, Khoa học, khai mỏ, mở mang dân trí tiến bộ. Khi đất nước
Việt nam mạnh
phú cường có thể dành lại những gì đã mất.(tùy thời nhi ứng
biến) thật là một diệu kế .
- Hàn công nói : biết mà không nói là kẻ bất
nhân, nói mà không nói hết là kẻ bất nghiã Thế cho nên tôi ở
chốn giang hồ mà lòng gởi lại lăng miếu. Tôi thật không nỡ nhìn
thấy nước nhà đổ nát trăm họ lưu ly, cho nên không xét phận hèn
mọn mà dám phạm vào lỗi nói ngay thẳng. Nếu cho lời tôi là khi
trá hoặc là có ai xuí giục thì xin đem biểu nầy treo ở quốc môn
để sau nầy làm chứng.
(Ðiều trần thời sự)
Nguyễn Trường Tộ được Vua Tự Ðức mời về Huế tiếp
kiến tại nhà Tả Vu, ông đệ trình nhà Vua văn bản khuyên dùng
Giám mục, Linh Mục vào việc canh tân đất nước. Vua Tự Ðức đồng ý
những điểm trong điều trần của Nguyễn Trường Tộ. Ngày 10-01-1867
cử Nguyễn Trường Tộ cùng Giám mục Gauthier, Lm Nguyễn Ðiều, phó
tế Nguyễn Hoàn và Joannes Vị và các Quan triều đình : Nguyễn
Tăng Doãn và Trần Hiếu Ðạo đáp tàu L’ orne đến cuối tháng 3 năm
ấy đến Paris
Ðến
Pháp lần thứ hai có cơ hội đi thăm viếng, tiếp xúc với tính cách
ngoại giao. Từ đó ông thấy thêm những việc cần phải làm, đưa đất
nước sớm vượt qua cảnh nghèo khổ, lạc hậu và viết điều trần „Tế
cấp bát điều“ tập dày giá trị bậc nhất trong các điều trần
(tác phẩm ) Nguyễn trường Tộ về văn chương và tư tưởng
1/
Sửa sang võ bị
2/
Hợp tỉnh huyện giảm quan lại
3/
Cải cách tệ lạm để cứu vãn tài chánh
4/
Chỉnh đốn học pháp
5/
Ðiều chỉnh thuế ruộng
6/
Kinh lý bờ cõi
7/
Ðiều tra dân số
8/
Lập Dục anh viện và Tế bần viện
Về nước ngày 29.02.1868 phái bộ đến
Huế, tường trình kết quả trong việc ngoại giao Nguyễn trường Tộ
và Giám mục Gauthier được ban thưởng nhiều phẩm vật. Trong thời
gian trở về quê nhà, giúp xây cất cơ sở nhà Chung xã Ðoài. Tiếp
tục viết nhiều điều trần. Triều đình muốn mời Nguyễn Trường Tộ
đi với phái đoàn sang Paris xin giảng hòa, thương nghị về 6 tỉnh
miền Tây. Bọn thực dân chiếm ngày 24.06.1867, Phan Thanh Giản
ngày 04.08.1867 uống thuốc độc tự tử. Ông viết bản điều trần gởi
“lục bộ đại thần“ xin bãi bỏ việc cử sứ bộ đi Pháp, ông
nêu lý do sau :
-Xưa nay việc giảng hòa
đều ở dưới THÀNH (các trận đánh) chứ không ở Kinh Ðô. Ta trong
thế yếu, địch chưa gặp khó khăn ... bây giờ chính lúc triều đình
nên tính kế lâu dài, dần dần nuôi dưỡng sức dân, chỉnh đốn võ
bị, mở rộng giao thiệp..
Nguyễn Trường Tộ viết nhiều đề tài khác nhau về
quốc kế, dân sinh.. khoa học, kinh tế, xã hội. Cải cách về
chương trình học đưa ra đề nghị các khoản :
1/ Ðặt khoa nông chính
2/ Ðặt khoa thiên văn địa lý
3/ Ðặt khoa cơ xảo
4/ Ðặt khoa luật pháp
Ðề nghị mở khoa nông chính dạy những môn
:
1/ Thiên văn nông nghiệp
2/ Ðịa lý học nông nghiệp
3/ Thực vật học
4/ Ðịa văn khí tượng học
5/ Tổ chức nông nghiệp trong nước
Ngoài ra, về Công nghiệp nước Việt Nam “tiền
rừng bạc biển”, đó là những nguồn lợi lớn đem lại lợi ích,
phú cường cho đất nước, phải khai thác với phương pháp khoa học
cần máy móc hiện đại, đó về khai thác mỏ (khoáng lợi); Hải lợi
cá muối ; Lâm sản cây gỗ, Thổ lợi gai, tơ lụa.
Ðiều trần của Nguyễn Trường Tộ, được các quan đại
thần như Phan Thanh Giản, Trần Tiến Thành, Nguyễn Bá Nghi ghi
nhận. Tường trình về triều đình, tiếc thay triều đình không ứng
dụng hết vào việc canh tân đất nước. Ông không thể trình bày hết
suy tư, lòng yêu nước trong thời gian còn trẻ, (tháng 7 năm 1864,
ông bị tai nạn té gãy vùng xương chậu trong khi trông coi
xây cất Giáo đường, từ đó bị tật đi khập khiễng), cho đến
lúc bệnh thấp khớp không đi được nằm viết trên giường bệnh trước
khi từ gĩa cõi đời, mất 22.11.1871 hưởng thọ 43 tuổi. Ông để lại
mấy câu thơ bất hủ.
Nhật mộ tuy vô hồi chiểu xứ
Qui hoa tự hữu hướng dương thần
Tạm dịch
Vừng nhật dù không quay dọi lại
Lòng quỳ vẫn cứ hướng mà theo
Nguyễn trường Tộ ra người thiên cổ trong nước
Chúa, nhưng Lịch sử không quên Nguyễn Trường Tộ đã góp công
trong việc xây dựng Quê hương, được ca tụng qua những bài
thơ sau: (2)
Non sông thiêng sáng đúc nên tài
Những ước ra tâm gíup giống nòi
Lấy đạo nghiã xưa làm mực thước
Ðem khoa học mới để trao đời
Bao phen xuất ngoại lòng nuôi mộng
Mấy độ trần tình lệ nhỏ rơi.
Hôn ám kể chi phường sống tạm
Nghìn thu luống để tiếc thương ai
Á
Nam Trần Tuấn Khải
Nhà cách mạng Huỳnh Thúc Kháng dành cho
Nguyễn Trường Tộ một chổ đứng trong văn học Việt Nam
Vô đoạn vật sắc đáo trần ai
Mãn phúc kinh luân bát điệu tài
Tiền nghịch ngẩu thừa tuyên thất triệu
Hận nhan trường kỉ sính đo ai
Di văn thương hải châu do tại
Kì khí phong thành kiếm vĩnh mai
Thông uất giang sơn kim thị tạc
Tao hồn ứng phục quốc hồn lai
Bản dịch
Bỗng dưng vật sắc đến trần ai
Ðầy bụng kinh luân tám đẩu tài
Tiệc trước tình cờ vua triệu đến
Người sau nhớ mãi chuyện bi ai
Biển xanh ghi lại châu còn đó
Vuì kiếm phong thành có một ai?
Nghẹn uất non sông ngay chính đó
Li tao xua đuối quốc hồn lai
Nguyễn Trường Tộ là một người Việt Nam ưu tú của
dân tộc, cống hiến cho Tổ Quốc Việt Nam. Ông đã phục vụ Quê
hương, Dân tộc và Phụng Sự Thiên Chúa. Đó là tấm lòng yêu nước
vô tư không vụ lợi, không oán trách hận thù. Thương tiếc ông mất
sớm, ước mơ của ông không thực hiện được dưới thời quân chủ
chuyên chế. Nhưng Nguyễn Trường Tộ thể hiện tinh thẩn của một kẻ
sĩ yêu nước, trọn vẹn cho đến hơi thở cuối cùng. Thật là một tấm
gương trong sáng, mọi người phải tôn kính và noi gương.
Nguyễn Quý Ðại
1/ chiến cuộc giữa Tây và Tàu chấm dứt hiệp ước
Bắc kinh được ký vào ngày 25-10-1890. Ðề đốc Charner, người chỉ
huy mặt trận Hòang hải của Pháp, được giữ chức Tổng tư lệnh quân
đội Pháp, rảnh tay ở Tàu quyết định đánh chiếm Việt Nam
2/ Tự đìển danh nhân Việt Nam
*** theo tác giả Thanh Ðạm NxB Văn Nghệ viết „
vào khoảng năm 1868, Nguyễn trường Tộ trở về Xã Ðoài giúp
xây nhà chung và trong thời gian nầy cưới người yêu Vũ Thị Cam
quê Xuân Mỹ , cưới vợ có một người con tên là Nguyễn Trường Cửu
„ sđd trang 274
Trở về Trang Chính |