Thành phố
Genève/ Genf Thụy Sĩ thơ mộng, nghiêng bóng bên những hồ
nước xanh biếc, mỗi lần ghé Công trường Place des Nations,
Genève gợi tôi nhớ dư âm ngày đau thương của lịch sử Việt
Nam.. Ngoại trưởng các cường quốc hội nghị ở trụ sở Liên
Hiệp Quốc, giải quyết vấn đề Việt Nam đưa đến Hiệp định
Genève ký kết ngày 20.7.1954, Việt Nam bị chia đôi đất nước
Ông Võ Thành Minh đã ngồi cô đơn bên bờ hồ Léman thổi sáo
phản đối Hiệp định.
Nguyên nhân
nào Việt Nam bị chia đôi ? rồi kéo dài cuộc nội chiến 21
năm, bom đạn ngoại bang tàn phá quê hương ? hơn 3 triệu
người đã hy sinh trong cuộc chiến cho đến ngày cuối cùng
30.4.1975 ? Chúng ta lại một lần bỏ nước ra đi làm người
viễn xứ ! thời gian trôi mãi không ngừng và bất tận, đời người chỉ có
giới hạn, chúng ta tìm về những điểm chính lịch
sử, không phải gây lại lòng hận thù mà là bài học kinh
nghiệm hữu ích cho con cháu mai sau.
Những người
trách nhiệm với lịch sử đã an giấc ngàn thu, công và tội chỉ
còn lại trên những trang sử cho hậu thế, cái khó người viết
sử không tránh khỏi thế lực bên ngoài, bị kiểm duyệt, dưới
chế độ CS luôn đề cao chủ thuyết, đánh bóng một nhân
vật..nhưng sự thật sai lầm nghiêm trọng, những cuộc thanh
trừng đẩm máu trong nội bộ „giết lầm hơn bỏ sót“ ít
được nhắc đến ? giống như trường hợp Hồng quân Nga giết hàng
chục ngàn sĩ quan Ba Lan ở rừng Katyn, các tài liệu sử thời
Ba Lan thân Liên Xô đổ tội cho quân đội Đức Quốc Xã, hơn 10
năm qua mới đưa ra bằng chứng ai đã giết ? Hiện nay ở hải
ngoại có đầy đủ tài liệu phong phú, gần 100 tác phẩm viết về
cuộc chiến Việt Nam, để chúng ta có thể nhìn lại sự thật
lịch sử và những đau thương của dân tộc Việt Nam.
Những cơn gió bụi
Diễn tiến
lịch sử ngày 19.6.1940 Nhật Bản buộc Pháp mở cửa Đông Dương
cho quân đội Nhật vào Việt Nam. Nhật lập khối Đại Đông Á
ngày 1.8.1940, đòi hỏi Pháp cung cấp thực phẩm cho quân đội
của họ, Quân Nhật vào Việt Nam trên tay chỉ có vũ khí không
cần lương thực, ăn hết lúa gạo Việt Nam ? Pháp vì quyền lợi
buộc dân VN giảm diện tích trồng lúa, và trồng những cây kỹ
nghệ để phục vụ chiến tranh !! thu mua ngũ cốc đầy kho, nạn
nhân là người Việt Nam chịu nhiều đau thương, khốn khổ, năm
1944-1945 Ất Dậu, gần 2 triệu người bị chết đói !!
Âu Châu
quân Đồng Minh đổ bộ ngày 6.6.1944 thành công ở bãi biển
Normandie, đến ngày 23.8.1944 quân Đồng minh giải phóng
Paris. Tướng Charles de Gaulle lập chính phủ, Đồng Minh
chiến thắng trên các mặt trận. Ý bại trận Mussolini bị giết,
ngày 30.4.1945 Hitler tự tử, người kế vị là Karl Doenitz đầu
hàng vô điều kiện ngày 9.5.1945. Chiến tranh để lại đau
thương, nghèo đói và đổ nát. Nước Đức bị chia đôi 2 miền
Đông và Tây, gây nên chiến tranh lạnh tại Âu Châu. Tình hình
không thuận lợi cho quân Nhật ở Đông Dương nên ngày 9.3.1945
Nhật đảo chánh Pháp thành công chớp nhoáng. Đại sứ Nhật
Yokoyama yết kiến vua Bảo Đại tại điện Thái Hoà, tuyên bố
trao trả độc lập cho Việt Nam. Từ đó Nhà giáo Trần Trọng Kim
ở Singapore, Thái Lan được mời về thành lập chính phủ ngày
9.3.1945, nhưng Nhật không hơn gì bọn thực dân Pháp với tham
vọng làm anh cả da vàng, chính phủ Trần Trọng Kim lệ thuộc
vào chính sách Đại Đông Á của Nhật.
Ngày
26.7.1945 các nước Đồng Minh gởi tối hậu thơ Postdame buộc
Nhật đầu hàng nhưng Nhật còn ngoan cố. Ngày 06.8.1945 lúc 8
giờ sáng chuyến bay B-29 cất cánh từ TINIAN một đảo nhỏ
thuộc Marianas ném trái bom «little Boy» xuống Hiroshima
nhiệt độ từ 5400-7500 độ F lửa bốc cao 1900 feet sát hại hơn
100 ngàn người, và ngày 09/8 ném «Fat man» xuống
Nagasaki giết chết 74 ngàn người. Ngày 15.8.1945 Nhật Hoàng
Hiro Hito đầu hàng vô điều kiện trên chiến hạm Missouri của
Hoa Kỳ chấm đứt đệ nhị thế chiến. Tại Postdam Berlin đại
diện các nước : Hoa Kỳ là Harry Truman, Anh Quốc Winston
Churchill sau thay thế Clement Attlee; Liên Sô là Stalin.
Giải quyết vấn đề Đông Dương quân đội Anh Quốc và Trung Hoa
đến Việt Nam giải giới quân đội Nhật Bản, được phân chia
trách nhiệm phiá Nam vĩ tuyến 16 quân đội Anh ; bắc vĩ tuyến
16 quân đội Trung Hoa.
Khúc Quanh Lịch Sử
Ngày 17.8.1945 hàng ngàn công chức trên đường Paul Bert đến
Hàng Trống biểu tình ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim, cán bộ
Việt Minh chen vào cuộc biểu tình phất cờ đỏ sao vàng, hoan
hô VM ! xách động phong trào và cướp chánh quyền, các Ủy Ban
Nhân Dân ra đời. Việt Minh cướp chính quyền mùa thu năm
1945, Bảo Đại vua cuối cùng của triều Nguyễn đời thứ 13
thoái vị ngày 30.8.1945 tại cửa Ngọ Môn, làm công dân Vĩnh
Thụy. Hồ Chí Minh thành lập Chính Phủ Lâm Thời ở Hà Nội ngày
2.9.1945. Thanh niên hăng say, tranh đấu dành độc lập và chủ
quyền vì thất vọng với chủ trương của Nhật và nội các Trần
Trọng Kim, không gây được uy tín. Người ta không để ý đến
chủ thuyết cộng sản Stalinism, Maoism, Marx-Lenin là gì ?
trước cao trào giành độc lập
Tối hậu thư
Postdam muốn
"chấm dứt
chiến tranh, tái lập hòa bình tại Đông Dương"
không
đề cập rõ nội dung ai sẽ cai trị Đông Dương, sau khi quận
đội Nhật rút về nước? ngày 16.9.1945 phái bộ quân sự Anh
Quốc do tướng Douglas Gracey đến Sài Gòn quân Pháp đi theo,
quân Anh ngầm hổ trợ quân Pháp chiếm lại Sài Gòn và các tỉnh
miền Tây, và dần dần tiến ra Bắc. Gần 200 ngàn quân Trung
Hoa (Quốc Dân Đảng) đến Hà Nội có các lãnh tụ lưu vong của
VNQDĐ, và Việt Cách theo về nước. Nhưng Việt Minh gặp trở
ngại trước sự hiện diện của các đảng phái cách mạng theo
khuynh hướng Quốc Gia. Chủ tịch HCM tuyên bố giải tán đảng
CS Ðông Dương ngày 11.11.1945 nhưng tiếp tục hoạt động ngầm,
(sau nầy đổi thành đảng Lao Động, cuối cùng là đảng CSVN)
Tổ chức tổng tuyển cử ngày 6.1.1946 thành lập chính phủ Liên
Hiệp ngày 2.3.1946 phe đối lập có 70, bề ngoài tạm thời hoà
hoãn với các đảng khác nhưng trong thực tế, họ đã dùng nhiều
thủ đoạn thanh trừng nếu không theo chủ trương của đảng CS.
Từ ngày 28.10.1946 Hồ Chí Minh cải tổ chính phủ ngày
13.11.1946 với thành phần đa số là người của VM. Nguyễn Hải
Thần, Nguyễn tường Tam đã bỏ qua Trung Hoa..
(Bài học
lịch sử khó quên khi làm việc chung với CS. Nếu một ngày nào
đó Việt nam thay đổi như các nước Đông Âu 15 năm về trước,
Việt Nam phải theo chế độ Dân Chủ, Đa Nguyên, những người
yêu nước đủ khả năng tham gia chính quyền, các cuộc bầu cử
phải nhờ Ủy Ban Giám Sát Quốc Tế. Bởi vì tiến trình Dân chủ
khởi đầu chưa vững mạnh, tránh sự gian lận, lật lọng và thủ
đoạn thanh toán của đảng CSVN từ trước đến nay họ thường áp
dụng. Chính họ ký Hiệp định Paris chưa ráo mực, đã đem quân
chiếm miền Nam)
Pháp và Trung Hoa ký hiệp ước ngày 28.2.1946. Trung Hoa rút
quân vào tháng 6.1946, quân Pháp thay thế ở Bắc Kỳ, trong đó
có sự thỏa thuận Pháp trả lại cho Trung Hoa các tô giới Pháp
ở Thượng Hải, Hán Khẩu, Quảng Đông, Quảng Châu Loan, bán cho
Trung Hoa thiết lộ Vân Nam...Trong thời gian quân đội Trung
Hoa đến Việt Nam đã thưà hưởng khá nhiều quyền lợi, các
tướng Lư Hán và Tiêu Văn được chính phủ Hồ Chí Minh hối lộ
vàng để củng cố thế lực, bài thơ quyên vàng bạc, nữ trang
đăng trên báo Cứu quốc :
Đeo hoa chỉ tổ
nặng tai
Đeo kiềng nặng cổ
hỡi ai có vàng
Làm dân một nước
vẻ vang,
Đem vàng giúp
nước giàu sang nào tày.....
Toàn dân
Việt Nam muốn độc lập tự do, sau thế chiến 2 là thời giải
thực, thời tàn của chế độ thực dân, các quốc gia bị thuộc
điạ đều muốn đuổi thực dân ra khỏi bờ cõi. Sau thế chiến thứ
nhất năm 1935, Mahatma Gandhi đã tranh đấu bất bạo động, đòi
Anh quốc trả lại chủ quyền. Thủ tướng Anh Attlee trả chủ
quyền cho Ấn Độ từ năm 1947 đến năm 1950 thì hoàn toàn Độc
Lập, Miến Điện 1948, Indonesia được Hòa Lan trao trả độc lập
17.8.1945.
Nhưng tiếc
thay, nước Việt Nam không may mắn như các Quốc gia trên,
thực dân Pháp còn giữ chính sách thuộc điạ ở Đông Dương tái
chiếm Việt Nam, Việt Minh ký hiệp định sơ bộ với Pháp ngày
6.3.1946 hợp thức hoá sự hiện diện của quân đội Pháp trở lại
Việt Nam !! với mục đích củng cố hàng ngũ, tiêu diệt các
thành phần Quốc gia, Quân đội Trung Hoa rút về nước các đảng
phái chính trị hết chỗ dựa..bị Việt minh tiêu diệt phải chạy
sang Trung Hoa.
Hội nghị
Fontainebleau, chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng gặp riêng Bộ
trưởng Bộ thuộc điạ ông Marius Moutet, nhưng không đem lại
giải pháp nào cho vấn đề Việt Nam ! trên thực tế Hội nghị
Fontainebleau và Thoả ước đã ký kết âm thầm vào nửa đêm
14.9.1946, một thất bại ngoại giao cho Việt Nam.
Đệ Nhị Thế Chiến
Việt Minh
và Pháp thường đụng độ bằng vũ lực tranh chấp, VM kêu gọi
toàn quân dân Việt Nam cùng đánh đuổi thực dân ra khỏi bờ
cõi. Từ đó Dân tộc Việt nam phải trải qua giai đoạn
(1946-1954) khó khăn... Bộ đội VM rút khỏi Hà Nội ngày
29.11.1946, chiến tranh chống Pháp bùng nổ ngày 19.12.1946,
VM chủ trương tiêu thổ kháng chiến, nhiều nơi VM đốt phá
đình chùa, nhà cửa.. ở kinh thành Huế, nửa đêm 19.12.1946
cán bộ VM ra lệnh đốt một phần lớn cung điện trong hoàng
thành !! chiến tranh chống Pháp trong 9 năm dài đầy máu và
nước mắt.
Thành phần
trí thức vào chiến khu chống Pháp, nhưng một thời gian bất
mãn với đường lối độc tài của cán bộ CS phải bỏ trốn về
thành (La rentrée des jeunes intellectuels), dù họ không
thân thiện với Pháp nhưng đành quay về thành sống yên thân,
hơn là bị nghi ngờ làm mật thám, phản động, gián điệp, bị
đấu tố.. VM thanh trừng tất cả nếu ai không theo chủ thuyết
CS, Hồ Chí Minh nói „Tất cả những ai không theo đường lối
của tôi đều bị bẻ gãy... „ (1) Nhiều người bị VM sát
hại vì lý do chính trị, tôn giáo, đối lập như : Đức Hùynh
Phú Sổ Hoà Hảo miền Nam, học giả Phạm Quỳnh ở Huế, Tạ Thu
Thâu, nhà văn Khái Hưng ở Hà Nội.....
Cựu hoàng
Bảo Đại được HCM mời làm cố vấn cho chính phủ lâm thời,
không đồng ý sự đàn áp của VM tiêu diệt những người yêu nước
không theo CS, lợi dụng ngày 16.3.1946 theo phái đoàn ngọai
giao sang thăm Trung Hoa, cựu Hoàng đã qua Côn Sơn Trùng
Khánh và đến Hông Kông. Dân chúng Việt Nam đều biết Hoàng đế
nước Nam chỉ ở Huế, đi nghỉ mát Đà Lạt săn bắn vùng Cao
Nguyên, thích ăn chơi hơn lo việc nước, không có tinh thần
yêu nước như các vua Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân ..
Các nhà cách
mạng Việt Nam theo khuynh hướng Quốc gia tự do, nhìn thấy
nhu cầu cho tình hình Việt Nam, nên ủng hộ cựu Hoàng thành
lập chính phủ, lãnh đạo công cuộc tranh đấu dành độc lập,
không theo chủ nghiã cộng sản quốc tế. Trước tình hình khó
khăn ở các mặt trận quân s, Pháp đồng ý „với lá bài Bảo Đại“
để tự tìm một lối thoát cho họ, để dùng người Việt đánh với
người Việt. Cuối tháng 12.1947 cựu Hòang đến Pháp thương
thuyết, ngày 5.6.1948 về nước ký thỏa ước Hạ Long trên chiến
hạm Duguay-Trouin, Pháp thưà nhận Việt Nam dưới sự lãnh đạo
của quốc trưởng Bảo Đại, với nội các gồm đại diện các Đảng
phái, Tôn giáo, đòi hỏi chính phủ Pháp trao trả độc
lập....Sau thoả ước này, Quốc trưởng Bảo Đại sang Pháp và ký
thỏa ước Elysée với tổng thống Vincent Auriol ngày 8.3.1949.
Pháp thừa nhận Việt Nam là Quốc gia thống nhất
Bắc-Nam-Trung, có nền ngoại giao, kinh tế, tài chánh, tư
pháp, giáo dục riêng ..thỏa ước này xem như xoá bỏ những
Hiệp ước đã ký trước đó về vấn đề bảo hộ..và Pháp hứa giúp
thành lập quân đội Quốc gia do sĩ quan người Việt chỉ huy
(từ tháng 7 năm 1949 đến 7.1954 Quốc Gia Việt Nam thay đổi 8
chính phủ với 5 thủ tướng !) Phủ Toàn quyền ở dinh Norodam
đổi sang danh xưng là Phủ Cao Uỷ Đông Dương .
Tình hình thế giới cũng biến đổi, cuối năm 1948 Quân đội của
Mao Trạch Đông/ Mao Zedong đại thắng ở Hoa Bắc tuyên bố
thành lập nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa ở Bắc Kinh và
tràn xuống miền sông Dương Tử làm chủ Vân Nam, tướng Lư Hán
đầu hàng ngày 11.12.1949. Tưởng Giới Thạch/Chiang Kai Shek
di tản ra đảo Đài Loan. Ngày 18.1.1949 Mao thừa nhận chính
phủ Hồ Chí Minh và khối cộng sản quốc tế giúp đỡ HCM chống
Pháp. Việt Minh nhận sự trợ giúp của Trung cộng về vụ khí
cũng như cố vấn quân sự, đạ đánh chiếm ỡ Bắc sơn (1950-1951)
Hoà Bình, Đông khê, Na San, vùng Trung châu (1952-1953) và
cuối cùng là Điện Biên Phủ.

Thung lũng
Điện Biên Phủ
Thung lũng
Ðiện Biên Phủ tỉnh Lai Châu, cách Hà Nội về phía Tây khoảng
500km. Từ Hà Nội theo quốc lộ 6 qua Sơn La, Thuận Châu, vượt
đèo Pha Ðin sang Tuần Giáo rồi rẽ vào Ðiện Biên, bắt đầu
ngày 13.3.1945 quân đội Việt Minh dưới quyền chỉ huy của
tướng Võ Nguyên Giáp và tướng Hoàng Văn Thái Quân với chiến
thuật biển người, mở cuộc tấn công bất thần vào hai vị trí
Gabrielle và Béatrice và chiếm được 2 cứ điểm đầu tiên trong
chiến dịch theo một số tài liệu cũng như hồi ký của tướng Võ
Nguyên Giáp Giáp, viết có cố vấn quân sự Trung cộng Vi Quốc
Thanh/ Wei guoqing, La Qúy Ba /Luo Guibo... Việt Minh chủ
trương vừa đánh vừa hội nghị, trận chiến kéo dài 57 ngày
đêm, tướng De Castries chỉ huy trận ĐBP phải đầu hàng ngày
8.5.1954
Các giới
chính trị ở Pháp cũng như quân sự tranh chấp nội bộ, Pháp
thua nhiều trận phải rút quân về gần Hà Nội, Pháp nhận thấy
cuộc chiến tranh Đông Dương phải chấm dứt trong danh dự ?
Phải giải quyết vấn đề ở Hội nghị Genève. Hội nghị ngày 25
tháng giêng 1954 ở Berlin, thông báo ngày 18 tháng 2 sẽ có
hoà đàm Genève khởi sự ngày 26 tháng 4 để giải quyết vấn đề
Đông Dương cho đến ngày 8.5.1954 bàn cãi về vấn đề Việt Nam,
Quân Pháp bị
thiệt hại 16.000 người trong đó 1500 chết, 10.000 bị bắt làm
tù binh theo (René Julliard 1963). Điện Biên Phủ đã tiêu
diệt lực lượng Liên hiệp Pháp 17 tiểu đoàn, trong số có 11
tiểu đoàn thiện chiến của nhảy dù và Lê dương, 1 tiểu đoàn
Pháo binh, 1 tiểu đoàn thiết giáp và 70 phi cơ. Quân Việt
Minh thiệt hại 23.000 người gồm có 8000 tử trận và 15.000 bị
thương.
Vì quyền
lợi và danh dự riêng, Pháp phản bội chính phủ Bảo Đại
dù trước đó với Thoả ước Elysée công nhận Việt Nam độc lập,
thống nhất 3 miền, rồi lại ký Hiệp Định Genève chia cắt Việt
Nam !! Là một bài học cho chúng ta suy nghĩ về chủ quyền
Quốc gia, nếu mình không đủ sức tự cường, phải sống đời
sống của loại cây chùm gởi !
Niềm khao
khát chung của dân tộc có được một nước VN tự do độc lập
khiến người dân tự nguyện hy sinh tất cả, đổ bao nhiêu sức
người với những nắm gạo bớt ra của từng bữa cơm để nuôi
quân, hy sinh quyền lợi riêng cho cái chung của dân
tộc...Nhưng tiếc thay đã 50 năm cuộc sống của họ vẫn cơ cực
dưới mức nghèo khổ và lạc hậu
Hiệp định Genève 20.7.1954
Hội Nghị Genève đi đến hồi kết thúc bằng Hiệp
Định Genève, gồm ngoại trưởng đại diện các quốc gia tham dự:
Anh (Eden Robert Anthony), Pháp (Georges Bidault), Nga
(Motolov Vyacheslav Mikahailovich), Trung Hoa (Chou En Lai
/Chu Ân Lai), Hoa Kỳ (Dulles John Froter) v..v…
Phái đoàn Việt Minh do Phạm Văn Đồng cầm đầu,
phái đoàn có đại tá Tạ Quốc (Quang) Bửu, đại tá Hà Văn Lâu,
các ông Phan Anh, Trần Công Tường, Hoàng Văn Hoan, Nguyễn
Thanh Hà, Nguyễn Thanh Sơn, Đặng Tính, Trần Lâm, Hoàng
Nguyên, Trần Thanh, Lê Văn Chánh . Campuchia (Tep Phan), và
Lào (Phoui sananiakone,Sem Sary).
Phái đoàn Quốc Gia Việt Nam gồm
có các ông : Nguyễn Quốc Định, ngoại trưởng (chính phủ Bửu
Lộc) là trưởng đoàn, Nguyễn Khắc Khê, Trần Văn Tuyên, Trương
Văn Chình, Bửu Kính, Đoàn Thuận. Đến ngày 10/5, phó thủ
tướng Nguyễn Trung Vinh được cử làm trưởng đoàn và tăng
cường thêm ông Nguyễn Duy Thanh. Trong lúc đang diễn ra Hội
Nghị Genève thì tại Việt Nam, Bảo Đại đã mời Ngô Đình Diệm
làm thủ tướng. Ngày 7/7/54, ông Diệm cử Bác sĩ Trần Văn Đỗ
làm Bộ Trưởng ngoại giao thay thế Nguyễn Quốc Định. Ông cũng
thay ông Định làm trưởng phái đoàn Việt Nam tại Genève,
ngoại trưởng Trần Văn Đỗ tham dự không có quyền biểu quyết
!! Cố ngoại trưởng Trần Văn Đỗ cũng than phiền rằng tại hội
nghị Genève 1954, Pháp đã không cho phái đoàn quốc gia biết
cuộc thảo luận của các nước lớn về việc chia cắt Việt Nam và
ông đã được Phạm Văn Đồng mời họp riêng để tìm giải pháp
giữa hai bên người Việt với nhau nhưng không thực hiện được.

Hội
nghị Genève 1954
Các cường quốc vì quyền lợi riêng, đi đêm
với nhau họp bàn chia đôi Việt Nam : Trung Cộng năm 1954
chiến thắng Trung Hoa Quốc Dân Đảng làm chủ được Trung Hoa
Lục Địa, chưa có chỗ đứng trên quốc tế, con trai Mao và hơn
500 ngàn quân Trung cộng bị loại khỏi vòng chiến ở chiến
trận Cao Ly. Trung Cộng muốn chứng tỏ cho Ấn Độ, Nam Dương
và các nước không liên kết một thái độ ôn hòa, không bành
trướng của mình. Nga cũng chủ trương bành trướng chủ nghĩa
cộng sản nhưng không có khả năng kiểm soát mọi chuyện ở Á
Châu, vai trò đem lại hòa bình ở Đông Dương sẽ tạo cho Nga
một hình ảnh đẹp của một quốc gia mưu cầu hòa bình cho thế
giới, đó cũng là một thủ đọan chính trị giữa cộng sản
Nga-Tàu . Họ cũng không thân thiện gì, từng xảy ra cuộc
chiến tranh biên giới Nga-Hoa. Anh Quốc vì quyền lợi ở Hong
Kong, Singapor, Mỹ không ký muốn loại Pháp ra khỏi Việt Nam
với dự định can thiệp vào Đông Dương....
Tân Thủ
Tướng Pháp Mendès-France nhậm chức ngày 17.6.54, tuyên bố
rằng nếu không đạt được thỏa hiệp trước ngày 20.7.1954,
ông từ chức. Tại phiên họp cuối cùng, Phạm Văn
Đồng đồng ý (?) với đề nghị của ngoại trưởng Nga lấy vĩ
tuyến 17 làm ranh giới phân chia.. !! Vì hạn định của
Mendès France đến nhưng chưa giải quyết xong vấn đề chót,
hai đồng chủ tịch Hội nghị là Anh và Nga, phải ngưng đồng hồ
của trụ sở Liên Hiệp quốc vào lúc nửa đêm 20.7.1954. Sau
cùng thỏa ước ngưng chiến ký kết (đaị tá Tạ Quang Bửu thay
mặt Tổng tư lệnh quân đội nhân dân cùng tướng Delteil thay
mặt tướng Ely.)
Hiệp Định
Genève có 47 điều khoản và một phụ lục. Phiên họp kết thúc
Hội nghị đúng vào sáng sớm ngày 21.7.1954 dưới sự chủ toạ
của Anthony Eden, trong lúc mọi người còn đang ngủ..Trưởng
phái đoàn Hoa Kỳ tướng Bedell Smith không ký, nhưng không
cản trở việc thi hành Hiệp định, ông Trần Văn Đỗ ngoại
trưởng chính phủ Ngô Đình Diệm (thay thế Bửu Lộc làm thủ
tướng ngày 7.7.1954) ông Trần Văn Đỗ uất ức ở hội nghị và
phản đối thỏa hiệp hấp tấp của Việt Minh với thực dân Pháp
các điều khỏan chia đôi đất nước, dù chính phủ Việt Nam Quốc
Gia không thừa nhận Hiệp định Genève và điện về Việt Nam :
-Không sao
thắng được sự cừu địch của kẻ thù và sự am hiểm của bạn giả
dối của chúng ta . Người ta dùng những thủ tục bất thường để
làm tê liệt hoạt động cuả phái đoàn mình..Tất cả các thỏa
hiệp họ đều bí mật kín với nhau. Chúng tôi rất đau buồn vì
sự thất bại hoàn toàn của phái đoàn! (2)
Thi hành
Hiệp định ngưng bắn ngày 27.7.1954 ở Bắc, ngày 11.8.1954 tại
miền Nam. biên giới phân chia, từ sông Bến Hải đến làng Bồ
Đồ Su biên giới Lào Việt, cầu Hiền Lương do Công binh Pháp
dựng năm 1950 (trước đấy dân hai bờ qua lại bằng thuyền).
Cầu có 7 nhịp, dài 178m, được lát bằng 894 miếng ván, mỗi
bên có chủ quyền 89m cầu. Ranh giới trên cầu Hiền Lương sông
Bến Hải đã kéo dài hơn 20 năm, từ vĩ tuyến 17 ra Bắc thuộc
chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, thủ đô là Hà Nội ; từ
vĩ tuyến 17 vô Nam thuộc chính phủ Quốc Gia Việt Nam, thủ đô
Sài Gòn.
Vấn đề kiểm
soát quốc tế thi hành việc đình chiến : do Ủy Hội Quốc Tế
Kiểm Soát Đình Chiến được thành lập với đại diện Ấn Độ làm
chủ tịch, Gia Nã Đại và Ba Lan làm hội viên. Bản tuyên ngôn
cuối cùng đã đề cập đến vấn đề tổng tuyển cử thống nhất đất
nước sau hai năm dưới sự giám sát của Ủy Hội Quốc Tế .
Việt Minh
phải rút quân đội ở Lào trong thời hạn 4 tháng, ở Campuchia
hạn 3 tháng. Quân đội Pháp rút khỏi Bắc Kỳ trong 10 tháng
chấm dứt việc xâm lăng của thực dân trên đất Bắc, chính sách
thuộc điạ hà khắc và tàn bạo cuả Pháp đã giết hàng loạt
những nhà cách mạng Việt Nam yêu nước đấu tranh dành độc
lập. Nhưng đạo quân viễn chinh cũng phải trả giá rất đắc tại
chiến trường Việt Nam trong thập niên cuối cùng, quân Pháp
bị giết và mất tích 92.000 người bị thương 114.000; tù binh
28.000 người, kinh phí hơn 30 tỷ quan Pháp.
(Theo Louis Saurel trong cuốn La guerre de l´Indochine).
cầu Hiền Lương chia 2 miền Nam Bắc
Đến năm 1956 không có tổng tuyển cử, bởi vì chính phủ VNCH
và phái đoàn Hoa Kỳ đã không ký vào Hiệp Định trên từ chối
không thi hành. Chiến tranh chấm dứt đời sống 2 miền không
còn bom đạn tàn phá quê hương. Những ngày hòa bình cũng
không lâu, chính phủ của Hồ Chí Minh đã toan tính đánh chiếm
miền Nam để rồi hơn 20 năm khói lửa, bom đạn tàn phá khủng
khiếp hơn.Thanh niên hai miền đã hy sinh trong cuộc chiến
cho đến ngày 30.4.1975. Máu và nước mắt đã đổ ra trên khắp
nẽo đường Việt Nam, cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã viết lên
nỗi khổ đau gia tài của Mẹ Việt Nam
Một ngàn năm nô lệ giặc tàu
Một trăm năm đô hộ giặc tây
20 mươi năm nội chiến từng ngày
Gia tài của mẹ, một rừng xương khô
Già tài cũa mẹ, một núi đầy mồ
Chúng ta khó quên 51 năm về trước (1954) một lần di cư từ
Bắc vô Nam, rồi 1975 lại một lần nửa hơn 2 triệu người bỏ
nước ra đi, Nguyên nhân nào xin mời độc giả đọc tiếp bài
« Hai Lần Di Cư Lớn Nhất Thề Kỷ 20 »
Tài liệu tham khảo
1/
Bên giòng Lịch sử của LM Cao Văn Luận
2/
Hồi Ký, Nguyễn Hiến Lê
3/Đêm giữa ban ngày của nhà văn Vũ Thư Hiên
4/Nguyễn Kỳ Nam tài liệu Lịch sử 1945-54 trang 83
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/programmes/story/2004/07/july17_ivlexuankhoageneva.shtml
The NLF’s Foreign Relations and the Vietnam War" (Cornell,
1998)
Án Tích Cộng sản Việt nam của tác giả Trần
Gia Phụng
Việt nam đi về đâu huyền thoại và sự thật,
Luật sư Lê Trọng Quát
Quân sử tập 3, Bộ Tổng Tham Mưu
Những ngày chưa quên, tác giả Đoàn
Thêm
Những cơn gio bụi tác, giả Trần Trọng
Kim..
Hồi Ký Võ Văn Giáp
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/regionalnews/story/2005/04/050402_chinarussiavietnamwar.shtmlAmerica,
the Vietnam War and the World” University Cambridge 9. 2003.
VIETNAM WAR