|
Trạng
trình Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh năm tân hợi 1491, thuộc đời vua Lê
Thánh Tông Hồng Ðức thứ 22 tại thôn Trung An, làng Cổ An, huyện
Vĩnh Bảo Hải Dương. Thân phụ cụ Văn Ðình, thân mẫu Nhữ Thị Thục,
người đất Tiên Minh, làng An Tử hạ. Ngoại của Nguyễn Bỉnh
Khiêm là Nhữ Văn Lan, đã làm rạng rỡ dòng họ và quê hương với
bảng vàng tiến sĩ, khoa thi năm Quí mùi, niên hiệu Quang Thuận,
đời Lê Thánh Tông, được nhà Vua tin dùng, phong chức Thượng thư
bộ Hộ.
Theo tài liệu để lại bà
Nhữ Thị Thục là bậc nữ lưu tài hoa vào bậc nhất chốn kinh kỳ
thời bấy giờ. Con gái Hộ bộ thượng thư Nhữ văn Lân, được phong
là Từ thục phu nhân. Bà giỏi văn chương và tài học về Lý số.
Biết trước những gì có thể xảy ra và mộng lớn con cái nên danh
phận không thể chờ thời. Như Nguyễn Du đã viết sau nầy “xưa
nay nhân định thắng thiên cũng nhiều” .Trạng Trình có người
em cũng tài giỏi về lý số, người đời gọi là Trạng Bùng Phùng
Khắc Khoang cùng mẹ khác cha. Nguyễn Bỉnh Khiêm huý là Văn Đạt,
tự Hanh Phủ, người làng Trình Tuyền (Trung An), huyện Vĩnh Lại,
tỉnh Hải Dương, nay thuộc huyện Vĩnh Bảo, ngoại thành Hải Phòng.
Nguyễn Bỉnh Khiêm,lúc trẻ
ông học với Lương Ðắc Bằng được truyền cho quyển “Thái ất
thần kinh” từ đó ông tinh thông về Lý học,Tướng số học giỏi,
nghiên cứu về lý số với thiên tài “thần thông” có khả năng siêu
quần, quán chúng về thấu thị, thần giao cách cảm, ông biết nhà
Lê Trung Hưng, nên chờ đúng số mệnh năm 44 tuổi dự thi đỗ Giải
Nguyên, đời nhà Mạc (1527-1592), làm việc bên cạnh Tả thị Lang,
Ðông Các Ðại Học Sĩ, làm quan được 8 năm, ông dâng sớ hạch tội
18 lộng thần vua nghe không. Ông cáo quan năm 1542 về vườn, lập
Bạch Vân am và hiệu Bạch Vân Cư Sĩ mở trường dạy học cạnh sông
Hàn giang còn có tên Tuyết giang nên học trò gọi ông “Tuyết
giang Phu tử “ thơ mang triết lý của Thái Ất là nguồn tri
thức hữu thể, về đời sống nhân sinh với càng khôn trong vũ trụ.
Thái Ất còn gọi là Lý Thiên, Lý Địa và Lý Nhân
Ngư ông bất ngộ Ðào Nguyên
khách
Khởi thức hưng vong thế cổ kim
hay
Nhàn trung hoa thảo túc Cung xuân
Tà dương độc lập đô vô sự
Dù Nguyễn Bỉnh Khiên không
còn làm quan, nhưng vua Mạc Phúc Hải phong cho ông tước Trình
Nguyên Hầu vào năm Giáp thìn (1544), ngụ ý đề cao ông có công
khơi nguồn nghành lý học, giống như (Trình Y Xuyên,Trình Minh
Ðạo bên Trung Hoa). Sau đó được thăng chức Thượng thư bộ Lại,
tước hiệu Trình quốc Công. Từ đó người đời gọi ông là Trạng
Trình. Nhờ học phương pháp tính theo Thái ất, tiên đoán được
biến cố trước và sau 500 năm. Người Trung Hoa khen Trạng trình
Nguyễn Bỉnh Khiêm “An Nam lý học hữu Trình Tuyền”
Tục truyền rằng Năm Bính
ngọ (1546) Mạc Phúc Hải mất truyền ngôi lại cho con Mạc Phúc
Nguyên mãi đến năm mậu thân (1548) vua Trang Tông mất, Trịnh
Kiểm lập Thái tử tên Duy Huyên lên ngôi tức Trung Tông được 8
năm thì mất không có con nối nghiệp. Trinh Kiểm muốn làm vua
nhưng còn sợ dư luận, nên sai người đến Hải Dương hỏi ý khiến
Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. ông không nói gì chỉ bảo người
giúp việc ngụ ý :
“năm nay mất mùa,
thóc giống không tốt, chúng mày nên tìm giống cũ mà gieo mạ, gữi
chùa thờ Phật thì ăn oản.. “ Sau đó Trịnh Kiểm tìm con cháu
họ Lê, lên làm vua.
Dù Trạng Trình ở ẩn, vua
Mạc cũng như các chúa Trịnh, Nguyễn có việc hệ trọng vẫn cho
người đến hỏi ý ông. Ông thường kín đáo khuyên Vua cố gắng tránh
chiến tranh để nhân dân khỏi chết chóc. Trong năm Quang Thiêu
(Lê Chiêu Tôn) có việc biến loạn, Nguyễn Bỉnh Khiêm không muốn
tiếng tăm với đời lúc bấy giờ Trịnh Tuy, Mạc Ðăng Dung cũng cố ý
muốn tranh quyền, đánh nhau mấy năm dài. Ông tính số Thái Ất,
biết có nhà Lê lại khôi phục được làm bài thơ
Non sông nào phải buổi
bình thời
Thú đánh nhau chi khéo
nực cười
Cá vực, chim rừng, ai
khiến đuổỉ
Núi xương sông tuyết,
thảm đầy vơi
Ng ựa phi chắc có hồi
quay cổ (1)
Thú dữ nên phòng lúc
cắn người (2)
Ngán ngẫm việc đời chi
nói nữa
Bên đầm say hát, nhởn
nhơ chơi
Hoành
sơn nhất đái
Sau khi nhà Lê bị Mạc Đăng
Dung (1483-1541) chiếm ngôi, con của vị tướng triều Lê là Nguyễn
Hoàng Dụ trốn sang Lào, được vua Lào cho nương náu ở xứ Cẩm
Châu, trấn Nam Phủ, tỉnh Thanh Hoá. Năm Quý Tỵ (1532) Nguyễn Kim
lập con út vua Chiêu Tông lên làm vua, gọi là Trang Tông.
Để mưu đồ đại sự, Nguyễn Kim (1467-1545) thu nạp kiện tướng ở
tỉnh Thanh Hoá là Trịnh Kiểm, sau là rể của Nguyễn Kim. Năm Canh
Tý (1540), Nguyễn Kim đem quân đánh chiếm Nghệ An và thu phục
luôn cả Thanh Hoá. Nhưng bỗng dưng Nguyễn Kim chết vì ngộ độc
(1545), mọi bình quyền về tay Trịnh Kiểm. Việt Nam lúc bấy giờ
bị chia đôi: từ Sơn Nam trở ra thuộc nhà Mạc, gọi là Bắc Triều.
Từ Thanh Hoá trở vào là khu vực của nhà Lê hay gọi là Nam Triều.
Nguyễn Kim mất, để lại hai
người con trai là Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng (1525-1613) cả hai
tuy còn ít tuổi nhưng đã bộc lộ tài năng xuất sắc hơn người.
Trịnh Kiểm không khỏi lo sợ cả hai sau này có thể tranh giành
địa vị với mình, nên đã ngấm ngầm ngăn trở, và vì thế Nguyễn
Uông chỉ mắc một lỗi nhỏ, Trịnh Kiểm cũng buộc Nguyễn Uông phải
chịu phép gia hình. Nguyễn Hoàng thấy anh bị hại, sợ đến lượt
mình, liền cử người kín đáo lên hỏi Trạng Trình. Trạng không trả
lời cụ thể, chỉ đứng ngắm đàn kiến bò trên hòn non bộ trước sân
nhà và thốt lên một câu:
“Hoành sơn nhất đái, vạn đại
dung thân”
Nghĩa là từ núi đèo ngang
ở Quảng Bình kia có thể yên thân được muôn đời . Từ câu nói đó,
Nguyễn Hoàng nghiệm ra rằng trạng Trình đã bày cho kế đi vào
phương Nam lập nghiệp. Từ năm 1558 Nguyễn Hoàng vội vàng đến nói
riêng với chị là bà Ngọc Bảo xin Trịnh Kiểm cho vào trấn phiá
Nam, năm mậu ngọ (1558) đời vua Anh Tông Trịnh Kiểm tâu vua cho
Nguyễn Hoàng vào trấn đất Thuận Hoá, phía Nam dãy Hoành Sơn. Nhờ
thế mà lập nên cơ nghiệp của họ Nguyễn ở Đàng Trong, truyền nối
lâu dài.
Nguyễn Hoàng là người khôn
ngoan, có lòng nhân đức, thu dụng hào kiệt giúp dân cho nên được
lòng dân kính phục. Trấn giữ đất Thuận Hóa, mở đầu cho triều
đình nhà Nguyễn từ từ khai phá cho đến vùng đồng bằng sông Cửu
Long ngày nay.
Ngoài ra rất nhiều lời
sấm được lưu truyền qua dân gian nhiều lời bàn diễn giải khác
nhau câu : ” Cẩu vĩ trư đầu, xuất thánh nhân ” ứng
nghiệm vào việc vua Gia Long lên ngôi từ (1802-1819) thống nhất
sơn hà vào năm Nhâm tuất ngày 02-05-1802. trải qua 13 triều đại
.Hoàng đế cuối cùng Bảo Ðại trị vì từ 1929 và thoái vị năm 1945
.
Tương truyền Trạng Trình
nói trước nhà Mạc suy vong, tuy nhiên con cháu họ Mạc về đất Cao
bằng tuy nhỏ nhưng được 3 đời là Mạc Kính Cung, Mạc Kinh Khoan
và Mạc Kinh Vũ . Dòng dõi họ Mạc bị bắt, bị giết nhiều người đổi
họ lưu lạc khắp nơi để mưu cầu sự sống
Trạng Trình có 3 người vợ
và 12 người con (7 trai 5 gái) các con trai đều có chức tước sau
nầy. Ông mất ngày 28 tháng 11 năm đinh dậu, niên hiệu Diên Thành
thứ 8 nhà Mạc (1585) hưởng thọ 94 tuổi. Trước khi chết, Trạng có
ghi vào gia phả và dặn con cháu rằng:
Bình sinh ta
có tấm bia đá sẵn và đã sơn kia. Khi ta mất rồi, hễ hạ quan tài
xuống phải để tấm bia đá ấy lên nắp rồi lấp đất. Chờ khi nào có
khách tới viếng mộ và nói rằng: "Thánh nhân mắt mù" thì phải lập
tức mời người ấy vào nhà, yêu cầu họ đổi hướng lại ngôi mộ cho
ta. Nếu trái lời ta, dòng dõi về sau sẽ suy đồi lụn bại đấy.
Con cháu nghe lời, làm y như đã dặn. Nhưng chờ mãi đến năm mươi
năm sau, mới có người khách đến nhìn mộ cụ một lúc rồi nói:
Cái huyệt ở đằng chân sờ
sờ thế kia mà không biết, lại tự đem để mả thế này. Vậy mà thánh
nhân gì chớ, hoạ chăng là thánh nhân mắt mù. Người trong họ nghe
được, chạy về báo với trưởng tộc. Ông này vội vàng ra đón người
khách Tầu kia về nhà, xin để xoay ngôi mộ kia lại. Ra đó là một
nhà phong thuỷ (Feng Shui) trứ danh ở phương Bắc. Ông ta sang là
để đi tìm xem di tích của Trạng, bấy lâu ông ta đã nghe tiếng
đồn.
Khi nghe vị trưởng tộc
nói, ông ta sẵn lòng làm ngay, và tự đắc cho rằng mình giỏi hơn
Trạng Trình. Ông ta bảo: Không cần phải đem đi đâu xa cả, chỉ
đào lên rồi xoay lại, nhích đi một chút là được. Ông trưởng tộc
bèn tụ họp con cháu lại, đưa thầy địa lý Tầu ra đổi lại ngôi mộ.
Lúc đào đến tấm bia đá, ông ta làm lạ bảo đem rửa sạch xem những
gì trên đó. Khi tấm bia được rửa sạch, mới thấy mấy câu thơ hiện
ra: tạm dịch nghĩa:
Ngày nay mạch lộn xuống chân
Năm mươi năm trước mạch dâng
đằng đầu.
Biết gì nhữg kẻ sinh sau ?
Thánh nhân mắt có mù đâu bao
giờ ?
Đọc tới đâu vị khách Tầu
đổ mồ hôi hột đến đó, ra Trạng Trình mà ông ta nghe đồn là giỏi
thật. So với Trạng, có lẽ ông còn thua xa.
Năm 1930 Việt
Nam Quốc Dân Ðảng lãnh tụ Nguyễn Thái Học (1901-1930) lãnh đạo
cuộc tổng khởi nghiã ngày 10.2.1930 đánh Tây ở các tỉnh : Yên
Bái, Hưng Hoá, Lâm Thao, Hải Dương, Kiến An. Thất bại bị Pháp
đìên cuồng ném bom tàn phá làng Bảo an để trả thù. Có lời đồn
Trạng Trình đã tiên đoán :
Kìa kìa gió thổi lá
rung cây
Rung Bắc rung Nam rung
tới Tây
Tan tác kiến
kiều an đất nước
Xác xơ cổ thụ
sạch am cây
Lâm giang nổi
gió mù thao cát
Hưng địa tràn
dâng hóa nước đầy
Một ngựa một yên
ai sùng bái
Nhắn tin nhà vĩnh bảo
cho hay „
Thoát
nạn sập nhà
Trước lúc mất, Trạng có
giao cho con cháu một ống tre sơn son thếp vàng, bịt kín hai
đầu, và dặn đúng năm tháng ấy, ngày giờ ấy, phải để cái ống ấy
vào kiệu rước lên dinh Thống đốc Hải Dương, trao cái ống này cho
quan thì sẽ cứu được tình thế gia đình. Khi Trạng mất, hằng trăm
năm sau, con cháu Trạng lâm vào cảnh đói nghèo, sa sút, nhưng
tuyệt đối không được mở ống ra xem trước thời hạn. Trạng còn dặn
kỹ trừ quan Tổng đốc ra, không ai được mở ống, vì thế ống vẫn
giữ nguyên vẹn. Trải qua bảy đời, cái ống tre ấy mới được rước
lên dinh quan Tổng đốc, đúng ngày giờ đã ghi trong gia phả. Đang
nằm nghỉ, nghe tin con cháu cụ Trạng mang thư đến gặp, quan Tổng
đốc rất ngạc nhiên, không biết vì cớ gì, nên truyền cho vào,
đồng thời quan ngồi dậy để đi ra cửa.
Quan Tổng đốc vừa bước
khỏi giường nằm được mấy bước thì bỗng rầm một cái, chiếc sà nhà
không biết bị mọt ăn hỏng từ bao giờ, rơi ngay xuống chỗ giường
vừa nằm. Thật là một phen hú vía! Nếu ông không kịp ngồi dậy
nhận thư Trạng, thì mạng ông đã khó mà sinh tồn. Quan Tổng đốc
mở ống tre ra xem, thấy bên trong có một cuộn giấy, đề hai câu
thơ:
Ngã giải nhĩ thượng
lương chi ách, Nhĩ cứu ngã tử tôn chi bần
Nghiã là
Cứu người thoát nạn đổ
nhà, Ngươi nên cứu cháu con ta khỏi nghèo
Chưa hết kinh hoàng vì
chuyện chiếc sà nhà vừa rơi xuống, ông thoát nạn nhờ ra lấy lá
thư. Quan Tổng đốc biết rằng trạng Trình đã cứu ông thoát chết,
nên ông ta ân cần mời cháu trạng Trình về tư thất đãi hậu hỹ,
sau đó đưa ra rất nhiều tiền để giúp con cháu cụ Trạng.
Nguyễn Công Trứ
(1778-1858) phá đền
Năm Minh Mạng (1791-1840) năm thứ 14, Nguyễn Công Trứ được vua
điều đi khẩn hoang ở vùng Hải Dương, Nguyễn Công Trứ thấy địa
thế cần phải đào con sông, đào sông thì phải phá đền thờ Trạng
trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, ông ra lệnh cho dân phu phá đền để khai
phá công trường. Khi sai người đào mang bát hương ra, Nguyễn
Công Trứ chợt thấy dưới bát hương có một tấm bia đá nhỏ phủ vải
điều. Nguyễn Công Trứ lau sạch đọc được các câu đã ghi :
Minh Mạng thập tứ
Thằng Trứ phá đền
Phá đền phải làm đền
Nào ai đụng đến doanh điền nhà bay
Nguyễn Công Trứ lập tức
thảo sớ về kinh, xin bãi bỏ lệnh phá đền. Ông còn cho người sửa
sang lại đền Trạng khang trang hơn. Từ đó, ông không còn nghĩ
đến việc phá đền để đào sông nữa.
Cha con thằng
Khả
Tục truyền trong làng có
cha con ông Khả đi bắt dế (chuột) kiếm sống. Khi đến bên mộ
Trạng, hai cha con vướng víu thế nào lại làm đổ tấm bia trên mộ.
Dân làng rất sùng kính trạng Trình, nên khi thấy bia mộ bị đổ,
họ nổi giận bắt cả hai cha con, kêu nộp phạt ba quan tiền mới
tha, vì khi tấm bia đổ xuống thấy có hàng chữ ở sau:
Cha con thằng Khả. Đánh
ngã bia tao
Làng xóm xôn xao.Bắt đền quan
tám
Cha con ông Khả chịu nộp
phạt, nhưng dân làng phải tha cha con về nhà chạy tiền. chỉ tìm
được có một quan tám, dân làng không chịu, cha con ông Khả ngẫm
nghĩ mới tìm được cách, cha con bèn nói với dân làng: Cha con
tôi bị Trạng Trình bắt phạt có quan tám, "Tam quán" nói lái lại
thành quan tám . Ðúng như cha con ông Khả đã tìm đủ số tiền
Thơ văn của Trạng trình
Nguyễn Bỉnh Kiêm còn lại hơn 100 bài trong bộ Bạch Vân Thi Tập,
được dịch ra chữ quốc ngữ thơ mang nặng tình người, khuyên người
đời biết điều nhân nghĩa, ngoài ra còn một số giai thoại truyền
tụng trong nhân gian…. và những lời sấm ký có giá trị.
1/ ứng nghiệm về sau nhà
Lê khôi phục
2/ ứng nghiệm nhà Trịnh
giữ nhà Lê
Tài liệu tham khảo
Việt Nam Sử lược : Trần
Trọng Kim
Tự Ðiển nhân vật lịch sử :
Nguyễn Quyết Thắng
Những câu chuyện lịch sử
tập 3 : Trần Gia Phụng
Thái Ất thần Kinh nhà xuất
bàn văn Hoá
Nguyễn Quý Đại
nguyenquydai@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |