|
Từ năm
1917 trên Nam Phong Tạp Chí học giả Phạm Quỳnh (1892-1945) nhận
xét về thi ca Việt Nam „phiền phức luật lệ ràng buộc..“ ,
năm 1928 báo Trung Bắc Tân Văn xuất hiện bài thơ đầu tiên không
niêm luật hoàn toàn mới lạ, La cigale et la fourmi / Con ve sầu
của La Fontaine nhà văn Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) dịch. Mãi
cho đến năm 1932 sinh hoạt văn nghệ được đổi mới khởi đầu phong
trào thơ mới, chống lại khuôn sáo cũ của Đường thi gò bó, chật
hẹp , niêm luật trở ngại nhiều cho thi nhân với ý thơ đang bay
vào cõi mộng.
Tờ Phụ Nữ Tân Văn ngày 10.3.1932 trình làng bài Tình
Già của nhà văn Phan Khôi (1887-1959) là một nhà cách mạng trong
nền thi ca Việt Nam, thể mới tự do, không theo lối thơ đường
luật, đã ảnh hưởng lâu đời của các thi nhân lão thành. Phan Khôi
đã can đảm như Kha Luân Bố đi tìm miền đất hưá cho thế hệ mai
sau.
Tình
Già của Phan Khôi là một làn gió mới, xô ngã bức tường thành
khép kín dưới thời phong kiến, thơ mới ra đời thật phong phú,
mang tinh tuý của dân tộc Việt Nam, thơ không bị gò bó, bị phái
cựu học chống đối ,nhưng được sự đón nhận và hoà nhịp cổ động
cho phong trào thơ mới như : Lưu Trọng Lưu, Thế Lữ, Xuân Diệu,
Huy Cận, Huy Thông, Chế Lan Viên, Vũ Hoàng Chương, Đông Hồ,Tế
Hanh, Nguyễn Vỹ .. Thơ mới là một di sản vô giá, xóa bỏ được
ngăn cách giữa con người và thiên nhiên, thi sĩ làm thơ theo
rung động của con tim, không phải ngồi ôm đầu tìm niêm luật điển
tích ước lệ theo khuôn vàng thước ngọc.. Từ năm 1933 ảnh hưởng
văn học Tây phương mở đầu một nền thi ca thi nhân với sinh khí
mới .
Kỷ
niệm ngày giỗ thứ 46 của nhà văn Phan Khôi mất ngày 16.01.1956 .
tôi trích lại một vài giai thọai và bài Tình Già của nhà văn
Phan Khôi để tưởng nhờ người có công đóng góp cho văn học Việt
Nam
Học
giả Nguyễn Tấn Long đã viết „ Phan Khôi đem đến làng thơ Việt
Nam bầu không khí khác lạ, một thể thơ mới hoàn toàn từ hình
thức đến nội dung. Nó đã phá cái cổ lệ để chính thức cho chào
đời một lối thơ mới, mở màn cuộc thay đồi quan trọng của thi ca
dân tộc..“ ( VN thi nhân tiền chiến trang 87)
Tình Già
Hai mươi
bốn năm xưa, một đêm vừa gió lại vừa mưa
Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ, Hai mái đầu xanh kề nhau
than thở.
Ôi đôi ta
tình thương thì vẫn nặng,mà lấy nhau hẳn là không đặng ;
Ðể đến rồi
tình trước phụ sau , chi cho bằng sớm liệu mà buông nhau
Hay ! Nói
mới bạc làm sao chớ !Buông nhau làm sao cho nở ?
Thương được chừng nào hay chừng nấy,chẳng qua ông trời bắt đôi
ta phải vậy !
Ta là nhân
ngãi, đâu phải vợ chồng ,mà tính việc thủy chung ?
Hai mươi
bốn năm sau, tình cờ nơi đầt khách gặp nhau !
Ðôi mái đầu
đều bạc.Nếu chẳng quen lung, đố nhìn ra được!
Ôn chuyện
cũ mà thôi. Liếc đưa nhau đi rồi !
con
mắt còn có đuôi
Tình
già tiêu biểu cho thể thơ mới từ hình thức đến nội dung và âm
điệu, tình yêu thời ấy ảnh hưởng Nho giáo „Nam nử thụ thụ
bất thân“, Nhưng Phan Khôi đã đưa tự do luyến ái, hai người
„dám“ ngồi bên nhau trong gian nhà nhỏ than thở chuyện tình ,
tình yêu „thì vẫn nặng“, nhưng có thể hoàn cảnh gia đình hay xã
hội để rồi „ lấy nhau thi hẳn là không đặng“ nên phải chia tay
nhau…
Tình
già của Phan Khôi cũng như mối tình của thế hệ chúng ta sau
1975, Tình yêu bị chi phối bởi biến cố đất nước, nhiều người
phải đi vào tại tập trung cải tạo, hay đi vượt biên tìm tự do,
đành bỏ người yêu ở lại, thời gian đi mãi không thể đợi chờ,
nên mỗi người phải chọn cho mình một mái ấm gia đình. Đến giai
đoạn lúc chính quyền Việt Nam đổi mới mở cửa cho Việt kiều về
thăm Quê hương, tìm thăm lại cố nhân mái tóc đã đổi màu „nếu
chẳng quen lung chớ nhìn ra được! Dù tình cũ nghiã xưa có trở về
trong lòng của hai người, nhưng phải dừng lại trong giới hạn „ôn
chuyện cũ mà thôi, Liếc mắt đưa nhau đi rồi, con mắt còn có đuôi
„
Nhà
phê bình văn học Vũ Ngọc Phan trong tập Nhà Văn Hiện Đại
„ Phan Khôi là một trong nhưng nhà văn xuất
sắc nhất trong phái nho học ở một nhà cựu học như ông, người ta
đã thấy nhiều cái mới quá, nhiều cái mà nhiều nhà tân học cũng
cho là „mới quá“ . Đó thật là một bất ngờ„
Phan
Khôi với bút hiệu „Tout seul / một mình “ có lẽ đúng với đời
ông, sống cô đơn, chết cũng trong cô đơn ở Hà Nội. Tuổi già bị
bệnh mất ngày 16.01.1956 không người thân bạn bè đưa tiễn đến
nơi an nghỉ cuối cùng !! bởi vì kẹt trong vụ án Nhân Văn (mời
độc giả vào trang www.phanchautrinhdanang.com số tháng giêng năm
2005 tôi viết rõ về cuộc đời và sự nghiệp của Phan Khôi) Phan
Khôi từng lưu lạc ở Cà Mau, rừng núi thưọng du Bắc Việt trong
thời gian kháng chiến chống Tây, không viết báo nhưng đã để lại
những vần thơ thương cảm
Chơi thuyền
trên sôngTân Bình
Eo đất vắt
rừng già ra nước
Khỉ ho cò
gáy tư bề
Ta đem thạn
đến chốn nầy làm chi
Nhớ từ trẻ
gian nguy từng trải
Bước giang
hồ bước mãi chưa thôi
Mảnh thân
còn chọi với đời
Hiểm nghèo
là bạn, chơi vơi là nhà
Cảnh hiêu
quạnh, có ta có chủ
không ta
chẳng phụ lòng hoá công
Vẻ ra cái
cảnh lạ lùng.
Làm cho cọp
biển, cá đồng hay sao
Xuồng ba lá
đâu là chàng Thổ
Rượu đế
mang theo mỗ lưng bầu
Mũi chàng
trước, lái ta sau
Mái chèo
khoan nhặt con trào ngược xuôi
…….
………….
Người như
rọ biết ý ta
Thi nâng
chén rượu ma ca khúc nầy
Thơ Phan
Khôi
Ngừng tim
bặt óc lặng dòng tình
Tai mắt như
không phải của mình
Thấy dưới
ánh trăng muôn khúc nhạc
Nghe trong
tiếng ếch một màu xanh
Suối tiên
mát mẻ bao cho chán
Giấc mộng
vờn mơn vẫn chẳng thành
Cái thú vui
xưa nào thấy nữa
Ngủ say
thức tỉnh dậy buồn tênh
Một mình
đêm giao thừa
Ðến ngọn
đèn làm bầu bạn cũng không có
Ðắp lên
thân suy tàn một tấm chăn kép
Chợp mắt
mơ là nhằm miếng chua cay
Có vợ con mà sống chia cách
Không sinh kế đành phải ăn nhờ
Nghe tiếng gà mừng vùng dậy
Kháng chiến bốn lần gặp xuân rồi !
Hớt tóc
Tuổi già thêm bệnh hoạn
Kháng chiến thấy thừa ra
Mối sầu như tóc bạc
Cứ cắt lại dài ra
Phan Khôi nổi tiếng trong thi đàn Việt Nam, ông
còn là nhà viết báo, lý luận hay, thường bút chiến với nhiều nhà
văn thuộc giới nho học, như Huỳnh Thúc Kháng, Phạm Quỳnh ,ông
dám kết án Phạm Quỳnh là “học phiệt” phê bình bộ Nho Giáo của sử
gia Trần Trọng Kim . Ông xuất thân từ Quảng Nam „Quảng Nam hay
cãi…“, nhưng cãi để đưa những đề tài trong sáng và xây dựng,
không ác ý vì nghề nghiệp . Phan Khôi với đức tính muốn phục vụ
chân lý, và lẽ phải. Phan Khôi lúc 18 tuổi đậu tú tài Hán văn,
sau nầy học thêm chữ Quốc ngữ Pháp văn. từng dịch bộ Kinh thánh
Tin Lành đầu tiên tại Việt Nam.. Ông không ngại sửa văn của
những người thuộc giới cựu trào nho học, “
không phải tôi chê các cụ đã viết sai, nhưng tôi
chê các cụ chưa viết đúng theo lề lối và tinh thần của người
Tàu. Nên nhớ chữ Nho là chữ Tàu...”
Nhà văn Lại Nguyên Ân đã sưu tầm những bài báo in
thành sách (Phan Khôi tác phẩm đăng báo 1928, do nhà xuất bản
Đà Nẳng phát hành năm 2003)
Phan Khôi còn nhiều giai thoại khá hấp dẫn như
„lý luận Phan Khôi“ „Khoai nhạc ngựa“ „Con gà xã
hội chủ nghiã „ nhưng tôi trích lại câu chuyện ! châm biếm
giới quan lại dốt nát (ngày xưa gọi là quan còn ngày nay là
Huyện, Tỉnh, Bí thư, Giám đốc..) giữ
việc trị dân
„
Đọc lệch giết người „ để độc giả đọc thêm cho vui
Thừa
đêm mưa gió, một tên đạo chích lén trộm chiếc chuông của chùa
làng, và bị bắt. Nội vụ giải đến huyện quan. Ai cũng tưởng tên
trộm sẽ bị tù, nào ngờ Quan huyện (ngày nay trong nước thường
gọi là „Thủ Trưởng / hay Thủ Tướng „ tha ngay hắn về.
Không
bao lâu, làng lại bắt được một tên trộm chiếu và cũng giải nạp
lên huyện đường. Nhưng lạ thay, quan Huyện (Thủ trưởng)
dạy đem chém đầu tên trộm chiếu
Hội
đồng làng chẳng hiểu ra sao cả, trộm chuông là trọng tội mà được
tha, còn trộm chiếu coi như cắp vặt lại bị giết, Thế là cả hội
đồng làng kéo nhau lên huyện đường để nhờ quan chỉ dạy
Huyện
quan tỏ ra là bậc „dân chi phụ mẫu“
dạy rằng:
„Các
ngươi làm sao hiểu thấu phương cách chăn dân trị nước của bậc
Thánh hiền. Ta đây xét xử mọi việc đều theo sách vở nghìn xưa để
lại, bởi sách có câu : Phu tử chi đạo kỳ chung thứ
giả,
nghiã là Đức Phu tử dạy, trộm chuông
thì hãy tha. Lại có câu :
Triều văn đạo tịch tử khả hỉ,
nghiã Triều đình truyền ăn trộm
chiếu thì phải tội chết, Bởi các ngươi còn tối sách
vở thánh hiền thì làm sao thông đạt nghiã lý „...........
Hội
đồng làng gật gù, tỏ vẻ khâm phục xá dài nói
„ Bẩm
quan ngài, Ngài qủa là người thông đạt thiên kinh vạn sử, lũ
chúng con sao sánh bằng“
Vì bị
chết oan, hồn tên trộm chiếu vất vưởng xuống Diêm đình đầu cáo
Diêm Vương cho qủi sứ lên bắt hồn quan huyện xuống đối chất.
Diêm
vương phán hỏi:
„ Nhà
ngươi xét xử thế nào mà tên nầy xuống đây kêu oan ?
Huyện
quan thưa:
„ Bẩm
Diêm chuá, chúng con đứng ra chăn dân, cầm cân nẩy mực lẻ nào
không hiểu lời Thành hiền dạy , Sách có câu
„ Phu tử chi đạo kỳ chung thứ giả
„ và „ Triều văn đại tịch tử khả hỉ
„Con đã theo đúng sách vở mà tha cho tên trộm chuông và giết tên
trộm chiếu để răn dạy kẻ khác“
Nghe
xong Diêm vương vổ án ;
„Thôi
rồi, Nhà ngươi làm đến chức Huyện quan mà hiểu sai bét cả sách
vở Thánh hiền thì làm sao sao không giết oan uổng mạng người „Phu
tử chi đạo kỳ trung (không phải chung) thứ giả ,
nghiã là Đạo của Phu tử chi đạo kỳ
trung thứ giả. chữ trung
là trung dung, tức cái đạo
không thiên về mặt nào mà mi đọc lệch
chung ra cái
chuông . Còn câu kia
Triêu (không phải là triều là
chữ đồng tự dị âm), văn đạo tịch tử
khả hỉ, nguyên văn câu cuả thầy Nhan Hồi , học trò
đức Khổng Tử viết để tỏ nhiệt tình với đạo của thấy có nghiã „sáng
mà nghe được mùi đạo trung thứ chiều chết cũng cam.“
Triêu
mà mi đọc là lệch là „triều“
là triều đình, còn tịch là
“buổi chiều“ tịch dương
mà mi đọc là „chiếu“ . Để
rồi giết oan một mạng người. cái dốt của nhà ngươi sẽ còn gây
thêm nhiều oan khổ cho dân lành. Vậy ta bắt nhà ngươi đầu thai
làm chó để bù tội lỗi“
Quan
lại sợ hãi, khúm núm thưa van xin
„Thưa
Ngài, Ngài có cho con đầu thai làm chó xin Ngài thương tình cho
con làm con chó nái“
Diêm
vương ngạc nhiên hỏi :
„ Chó
đực hay chó cái đều là kiếp chó. Tại sao nhà ngươi xin đầu thai
làm chó nái ?“
„ Bẩm
Ngài. sách có câu „ Lâm
tài mẫu cẩu đắc, lâm nạn mẫu cẩu miễn,
con muốn đầu thai làm chó nái để Gặp
tiền thì chó mẹ được hưởng, gặp nạn thì chó mẹ
được miễn. Xin Ngài cho con làm chó nái
Diêm
vương lắc đầu, chán nản ;
„Thôi
lại là cái dốt đặc cán mai của nhà ngươi.
Lâm tài mẫu (mẫu
đây có nghiã là không
nên chứ không phải mẫu là mẹ)
cẩu đắc, lâm nạn mẫu cẩu miễn
nghiã là : gặp tiền tài không nên
lấy bửa bãi, gặp nạn chớ bỏ qua. Thế mà nha ngươi
hiểu ra „Chó nái dễ được tiền,
tránh được tai nạn. Thôi ta không cho ngươi đầu thai
làm
chó nái mà phải chôn sống nhà ngươi
Huyện quan than khóc : con đập đầu trăm lạy nếu Ngài
chôn sống con xin ngài rộng lượng chôn từ cổ trở xuống
Diêm
Vương hỏi chứ đầu cho mi thở
Thưa
sách
có câu :
Thiên
niên mai cốt bất mai tu
(tu
đây có nghiã là xấu hổ, giống như
cọp chết để da người ta chết để tiếng)
tu ở đây không phải là râu
nhưng Huyện quan hiểu rằng ngàn năm
chôn xác chứ không chôn râu ….
(VN thi nhân tiền chiến trang 85)
Xã hội
thời phong kiến, không phát triển về tự do ngôn luận hay nhân
quyền, bởi vì đời sống dân trí còn thấp, nhưng ngày nay cũng
nhiều nơi trên thế giới dù đất nước phát triển, thống nhất, hoà
bình nhưng vẫn còn dung túng bọn quan lại dốt nát, không học
nhưng mua bằng cấp ăn trên ngổi trốc có điạ vị cai trị dân độc
tài bóc lột làm đất nước thêm khổ đau, người dân luôn sống trong
trình trạng thấp cổ bé miệng ! Chúng tôi xin đốt nén nhang tuởng
nhớ cụ Phan Khôi mong Cụ chia sẻ với thế hệ chúng tôi, dù ngày
nay là thế kỷ thứ 21 !! vẫn còn như ngày Cụ còn tại thế !!
Nguyễn Quý Đại
nguyenquydai@khoahoc.net
Độc
giả vào các website đọc thêm để biết thực trạng ngày nay cũng
còn giống như xưa :
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/regionalnews/story/2004/12/041208_vietnam_airlines.shtml
http://www.xuquang.com/links/vanhoc/phankhoi
http:///.www./ykien.net/ykientg.html
Trở về Trang Chính |