Tục lệ ngày Tết... Mê tín hay Mê ly ?(!)


 

Nguyễn Sơn Hà

31 tháng 01 năm 2008

« Vào thời vua Hùng, có giặc Ân xâm lấn nước ta. Vua Hùng làm đủ cách nhưng vẫn không ngăn được giặc.

Nhà vua liền lập đàn cầu xin Tổ về giúp. Trong một cơn mưa to gió lớn, bỗng có một cụ già mặc áo đỏ, hình dung cổ quái, đến đùa giỡn với đám trẻ con ở ngã ba đường.

Dầu thấy lạ, vua Hùng cũng đến xin Cụ chỉ cách để cứu nước. Cụ cười nói : “Nhà vua hãy sai sứ đi khắp nơi mà tìm !”

Theo lời Tổ dạy, vua Hùng liền sai người chia nhau đi khắp nơi để loan tin Tổ về và tìm người cứu nước. »

(… phần kế tiếp của chuyện cổ tích này, nếu bạn là người Việt (tộc) được sinh ra ở từ bờ Hồ Động Đình tới cõi Trường Sa, và trưởng thành ở từ núi Ngũ Lĩnh đến mũi Cà Mau của miền  Nam nước Việt, thì bạn đã biết phần kết thúc của tích Phù Đổng Thiên Vương này.)

Tôi cố ý chọn cái tích cổ này để nhắc lại cho bạn ý nghĩa của “lập đàn cầu xin Tổ” (với những gì hiện tại đang xảy ra ở quần đảo Trường Sa), vì là việc tiên quyết và thiết yếu ; đồng thời nhân dịp Tết đến, chuyện “Cúng Tế” đầu năm, cũng là việc tiên khởi và rất quan trọng cho cả năm mới, như mọi người Việt đều biết.

Nên ở đây, tôi xin mạo muội góp ý với bạn về vấn đề này, vì ở thời buổi cái học tinh vi và kỹ thuật vi tính cỡ “nano”, với các khoa tâm lý, xã hội, ngoại giao, kinh tế, chính trị, quân sự, với kỹ nghệ hỏa tiễn xuyên lục địa với đầu đạn nguyên tử, thì tại sao tôi bảo chuyện “lập đàn để cúng tế cầu xin Tổ”, lại là tiên quyết và thiết yếu cho việc cứu quốc và phục quốc ?( !)

Còn nếu bạn chỉ thấy “con kiến” ở sát dưới chân “con voi”, và bạn nghĩ rằng trước sau gì rồi “con voi” nó cũng sẽ đè bẹp và dẫm nát “con kiến” mà không hề hay biết (hoặc không cần biết), như vậy là bạn chưa hiểu được ý nghĩa của chuyện cổ tích mà tôi đã chọn để làm chủ đề cho bài viết này, và tôi nghĩ chắc là bạn cũng chưa hiểu ý nghĩa “lập đàn cầu xin Tổ”.

Như tôi đã cắt nghĩa Tết Nguyên Đán là “Lễ Sinh Nhật” của mọi người, đó chính là khởi đầu của Đạo Trời, và là nguồn gốc của nền Minh Triết Việt (tộc), độc nhất vô nhị trên đời này, vì được xây dựng trên nền tảng Tam Tài không còn gì vững chắc hơn, đó là “Thiên-Địa-Nhân” như Một và là Một (như hình ảnh “Chùa Một Cột”), với câu : “thiên địa vũ trụ vạn vật Nhất Thể” trong Kinh Dịch.

(Nếu bạn nào chưa hiểu tại sao, xin đọc lại bài « Tết Nguyên Đán hay “Lễ Sinh Nhật của Con Người” » trên mạng “dũnglạc.org” hoặc ”anviettoancau.net“ hay ”khoahoc.net“)

 

Đạo Trời với nền tảng Âm Dương (nhất âm nhất dương chi vị Đạo) và cơ cấu Tam Tài với Ngũ Hành, là nguồn gốc mà mọi tập quán phong tục truyền thống của xứ Việt đều phát xuất với luật biến Dịch “sinh sinh hóa hóa” theo vòng tương sinh tương khắc của các Hành (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa Thổ), mà đặc biệt là tục “lập đàn cầu xin Tổ ”để chỉ cho con người biết cách sống thuận (theo) Thiên (lý), để cho con người được An-Vui Hạnh-Phúc.

Nên “Tổ” ở đây không chỉ hiểu là tổ tiên, là những tiền nhân đã có công lập nước và dựng nước, nhưng phải hiểu là nghĩa Trời Đất giao hòa nơi Con Người kết hợp lại mới thành Tổ, giống như phải có con chim Âu (Cơ) tha rơm rác (dưới Đất) bay lên cây (cao Trời) đan kết lại mới thành tổ (chim). Vì vậy “lập đàn cầu xin Tổ” là ý nghĩa quy tâm, tìm về với Ta (mình), để tri thức, nhận thức, ý thức rồi giác ngộ mình là Nhân Tính, với Thiên Mệnh, …là vấn đề, mà cũng là giải đáp của mọi chuyện… với “thiên lý tại nhân tâm”, vì cái Tâm của mình chính là cái Tâm của vũ trụ (vũ trụ chi tâm).

Nên những tục lệ ngày Tết có tính chất trừu tượng như : cúng tế và bốc phệ (bói) hay xem tử vi chẳng hạn, là để cho con người biết cách “tu chỉnh” cái Tâm của mình lại cho cùng (là) Một với cái Tâm của vũ trụ để sống cho Đúng như Chân lý (của) Trời, cho Tốt như Thiện ý (của) Đất, cho Đẹp như Mỹ (của) Nhân (đức nhân), trong cả năm mới.

Chứ không như một số người Việt tự hào là trí thức, với cái học ngoại lai cho đó là mê tín dị đoan, vì “học” mà chưa biết “hành”, là mới ở cấp 1 tức là tiểu học, vì từ “học” đến “hành” có tới 5 cấp, nên nếu bạn nào chưa biết hay đã quên, tôi xin nhắc sơ lại đây 5 cấp đó là :

1-     Bác Học (học rộng)

2-     Quảng Vấn (hỏi sâu)

3-     Thận Tư (suy nghĩ kỷ càng)

4-     Minh Biện (nói ra rõ ràng, nghĩa là lập luận trên 1 nền tảng vững chắc, chứ không dựa trên giả thuyết để tìm cách chứng minh rồi đưa đến kết luận là đúng là thật, thì đúng là giả thành thiệt, như kiểu tam đoạn luận của ngoại lai đó là : (1) định đề (hypothèse) – (2) phản đề (anti-thèse) – (3) kết đề (synthèse), để kết luận là đúng hoặc là sai. Cái luận với lý kiểu này tôi gọi là “tào lao” (foutaise), vì không có nền tảng vững chắc và cơ cấu chặt chẽ, nên nó dẫn đến tranh luận triền miên vô tận, (và vì không thể tận nên mới đâm chém để giết nhau, để làm cho tận (!) thế ấy.), làm cho mất thời giờ, tốn nước miếng, hao giấy mực, và đó chính là ngụy biện. Vì đối với cái “Học chi Đạo”, đúng hay sai chỉ là 2 khía cạnh của một vấn đề, như âm với dương nên không thể chọn một hay bỏ một.)

5-     Đốc Hành (đem áp dụng cho chân nhất, thiện nhất, mỹ nhất)

Và đó là “Học Hành” mà người mình hay nói kiểu thuộc (nằm) lòng, mà không hiểu biết tận tường. Vì vậy, cái bọn trí thức Việt (gian) với cái học ngoại bang, vô bản không gốc, thì đúng là vong bản thành thử mới vong thân, mới đi làm “hacker” trên internet để xuyên tạc văn hiến nước nhà, nên mới “ăn cháo đá bát”, mới khinh chê phong tục tập quán xứ mình là (đồ) hủ lậu, phong kiến, mê tín, dị đoan,…, thì đúng là học đại, vì học mà không hiểu thì quả là “học thuộc lòng” như con nít, để kiếm bằng, kiếm chức, làm tiền…; vì “học mà không chịu suy nghĩ thì là đồ ngu ; còn suy nghĩ mà không chịu học thì là đồ điên”, như tiền bối có câu : “Học nhi bất tư, tắc võng ; tư nhi bất học, tắc đãi.”(KT). Và vì cái học lớn (đại học) chỉ dành cho người trưởng thành, đó là cái học Đạo như Kinh Lễ có câu : “Đại Học chi Đạo”.

Vì vậy, trong tinh thần đấu tranh để bảo vệ bờ cõi giang sơn của tổ tiên để lại, điều tiên quyết là phải tìm lại cho được cái Đạo Trời của tổ tiên, trong văn hóa và phong tục của mình, vì Đạo là Gậy thần, Nỏ thần của Thần Kim Quy ban tặng cho An Dương Vương để giữ Loa Thành, mà mình trong quá khứ đã làm mất Đạo, vì lo chạy theo cái học duy thần, duy lý, duy vật của ngoại bang, giống như Mỵ Nương, vì không hiểu biết sự quý giá của nỏ thần, nên đã nhẹ dạ nghe lời dụ dỗ của Trọng Thủy, đem hiến dâng hồn xác lẫn nỏ thần cho quân địch, để rồi phải chết một cách thảm thương mà không biết tại sao mình chết, khi Thành nghiêng Nước đổ (!). 

Cho nên “Đạo mất trước, Nước mất sau” như triết gia Kim-Định đã nói là điều mà mọi người đã thấy, vì vậy để có thể cứu quốc, phục quốc và kiến quốc, thì điều tiên quyết là “lập đàn cầu xin Tổ, đó là phải tìm lại Đạo, nghĩa là phải hiểu Thiên Mệnh qua Nhân Tính, phải biết cái Đạo Trời một cách Tận, Kỳ, Tính qua văn hóa phong tục, như Cúng Tế và Bốc Phệ (bói) trong dịp Tết chẳng hạn, để mới có thể ý thức và hãnh diện với cái tính chất quý báu độc nhất vô nhị của cái “Nỏ Thần”, đó là nền Minh Triết Việt (tộc).

 

1-     Cúng Tế

Thường ai cũng nghĩ “cúng tế” là việc đạo đức qua lễ nghi và bằng lễ lạy để khấn Trời Đất, vái Thần Linh, và thông hiệp với Ông Bà Tổ Tiên, để tạ ơn và cầu xin cho được “ngũ phúc” ở đời, như Kinh Thư có câu : “nhất viết thọ, nhị viết phú, tam viết khang ninh, tứ viết du hiếu đức, ngũ viết khảo chung mệnh”, dịch nghĩa : “một (nói rằng) là tuổi (thọ) sống lâu, hai là đầy đủ giàu có, ba là an vui yên ổn, bốn là yêu thích đức hạnh (tu đức), năm là sống tới già tới chết” ; nhưng có mấy ai nghĩ “cúng” chỉ là hình thức bề ngoài của (lễ) Tế, với mâm (ngũ) quả, rượu nước, xôi chè…

Nhưng Tế không phải là dâng hương hoa, trái quả, xôi nước,… lên cho Trời Đất hay Thần Thánh “hưởng”, mà là “hướng” lòng về với (Văn) Tổ là “Trời Đất vũ trụ vạn vật Nhất Thể”, nghĩa là “quy tâm” để biến cái tiểu ngã ích kỷ, hạn hẹp, thành Đại Ngã Tâm Linh với chiều kích vô biên, để cung kỷ, để tự trọng, tự kính mình, vì “thiên lý tại nhân tâm“, tức mình là Thiên, là Tính, là Mệnh, và vì đó mình mới đủ lý do để sống, để tồn tại, để xứng đáng là quân tử, là đại trượng phu. Cho nên việc tế tự chính là để tỏ lòng tôn kính, như câu : “Tế tư kính” (LN. XIX.1). Vì “Kính” là đức đầu tiên để tha nhân tỏ lòng tôn trọng Thiên Tính qua Nhân Phẩm nơi mình, và là đầu mối hòa lạc an vui, nên đó là nền móng gây an bình trong xã hội. Vì bất cứ ai được tôn kính cũng thấy thỏa mãn được nguyện vọng sâu thẳm nơi lòng mình. Vì “Tu kỳ dĩ kính. Tu kỷ dĩ an nhơn. Tu kỷ dĩ an bá tánh” (LN. XIV.45), nghĩa là: “Tu thân mình bằng lòng kính tôn người. Tu thân như thế là cách an hòa với người khác với mọi người.” Do đó người quân tử phải “hành đốc kính” (LN. XV.5), nghĩa là phải hết lòng mở mang đức kính trong mình.

Tại vậy, nên chỉ có ở xứ Việt mình người ăn mày cũng được gọi là “ông”, hay trong lối giao thiệp mỗi ngày người mình thường nói những tiếng như: “kính thưa”, “kính mời”, hoặc đề phong (bì) thư bằng “kính gởi”, vì “kính lão đắc thọ”, nên ca dao cũng có những câu như:

Anh em trên kính dưới nhường,

Là nhà có phúc, mọi đường yên vui.”

hay:

Ai về tôi gửi buồng cau

Buồng trước kính mẹ, buồng sau kính thầy

hay:

Đạo làm con chớ hững hờ

Phải đem hiếu kính mà thờ tổ tiên

 

Vì vậy sự cúng tế là việc “thành kính”, mà hễ làm việc thành kính với “thành tâm” thì là tiếp tục đi đúng con đường “Thành Nhân”, mà trời đất đã tương giao, tương sinh, tương ứng,… từ buổi ban đầu, để đồng hóa “tượng” thành “hình” (người) qua mình với tha nhân. Cho nên Kinh Lễ có câu: “quân tử chi Đạo tại đoan hồ phu phụ ”, nghĩa là “Đạo người quân tử khởi từ ở chổ vợ chồng”, tức là phải biết kính trọng lẫn nhau trong mọi chuyện. Và ca dao cũng đã có câu:

Làm trai giữ trọn ba giềng

Thờ cha, kính mẹ, vợ hiền chớ vong

Và đó là ý nghĩa cúng tế.

 

Ở đây qua khuôn khổ giới hạn của bài viết này, tôi không thể cắt nghĩa hết ra đây tất cả các tập quán và phong tục của xứ Việt trong dịp Tết, như đón giao thừa, đốt pháo, múa lân, mâm (ngũ) quả, xông (đạp) đất, mặc đồ mới, tiền lì xì, không đi chợ, không quét nhà, không đổ rác, không động giếng, v.v… Nên tôi chỉ muốn nói với bạn là mọi tục lệ này đều mang ý nghĩa hân hoan của lễ “sinh nhật thành nhân”, vì tất cả mọi cử chỉ hành động nhân dịp này, đều quy tựu về ý nghĩa “sinh nhật con người”. Nên những ý khác nếu không có nghĩa mừng vui với “con người được thành nhân”, thì bạn muốn nghĩ sao đó nghĩ…, như giao thừa là giây phút “tiễn cựu nghinh tân”, hay đốt pháo là để xua đuổi “tà ma quỷ ác”, hay với mâm ngũ quả với nghĩa “cầu dừa đủ xài” cho năm mới, hay là gì khác… thì đó là quyền của bạn.

Và sau đây là cái chuyện xem tử vi (bói) mà đầu năm ai cũng muốn biết, nhưng ở đây tôi không bàn đến số phần của bạn trong năm mới, theo con Giáp của bạn, mà chỉ muốn góp vài ý với bạn về nghĩa của tục lệ coi bói trong ngày Tết.

 

2-       Bốc Phệ (bói)

 

Bốc là bói bằng mu rùa, và Phệ là bói bằng cỏ thi. Vì như đã nói ở trên, cúng tế là hướng tâm, quy tâm về một mối, để hiểu biết Thiên Mệnh nơi Nhân Tính của mình, nhưng vì không quy hướng nổi tâm mình về một mối, vì tâm mình còn xao động, nên không thể thấy rõ được (kiến cơ) mệnh trời ở nơi mình, chính vì thế mà mới phải nhờ Thầy, là người có “tâm linh” nên có thể kiến cơ biến “dịch” (tương lai) để nói lại cho mình biết, để mình tu tâm tích đức, để biết sống “thuận thiên”, tức để được thông dung với Trời Đất qua Đại Ngã Tâm Linh.

Ở đây, tôi chỉ muốn đề cập về nghĩa Triết của tử vi, từ Kinh Dịch, là môn bói với 64 (8x8) quẻ, dựa trên vòng tương sinh tương khắc của Ngũ Hành (5) với luật âm dương (2), thành Thập Thiên Can (10=5x2) như bạn đã biết là: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý; và Thập Nhị Địa Chi (12=4x3) với: Tý, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.

Nhưng có bao giờ bạn thắc mắc tại sao lại là 12, hay 12 (chi) lại là 4 x 3, mà không là 6 x 2 ?

Thưa vì theo huyền số, thì các số “sinh” chỉ là 1 đến 5. Nên số 4, là tứ tượng, tứ phương (cách), là bốn mùa, bốn hướng, là huyền số chỉ Đất, và huyền số 3 là số Trời, như tam tài, tam thể (đặc, lỏng, khí), tam quý (3 tháng là một mùa), tam hạp với Thân-Tý-Thìn, Dần-Ngọ-Tuất, Tỵ-Dậu-Sửu, Hợi-Mão-Mùi, và “bộ 3” đó cũng là “tam ngôi” (tam giác) mà “Nhất Thể” để chống đỡ mọi biến dịch hay biến động của Trời Đất, như “kiềng ba chân”. Vì vậy, 124(đất) x 3(trời), là nghĩa Trời Đất giao hòa, để thành “Hình” như tất cả những gì mình thấy ở hai chiều: ngang dọc và trên dưới. Với 12 Chi (thuộc) Đất và 10 Can (thuộc) Trời phối hợp với nhau (combinaison) thành 60 năm, mà người mình còn gọi là tuổi Thọ.

Vì “tại thiên thành tượng”, nên “thập thiên can”, không thể diễn nghĩa được mà chỉ ấn định với một nghĩa thứ tự cho dễ hiểu, như Giáp với Ất, Giáp là Can đứng đầu trong 10 Can, và Ất là Can thứ nhì, v.v…, hay chỉ có thể hiểu với một nghĩa trừu tượng và tương đối theo sự biến hóa của thiên nhiên như: Giáp là nứt ra (ló ra), Ất với nghĩa dáng khó khăn,  Bính là sáng rực, Đinh là có ý nói sự lớn lao của vạn vật, Mậu với nghĩa sum suê, sầm uất, Kỷ có nghĩa quy về, Canh với nghĩa thay đổi, Tân có nghĩa mới hay là cay đắng, đau thương, buồn rầu, Nhâm là tốt đẹp, tượng trưng cho vật mới sinh ra từ đất, và Quý là cuối, là nhỏ, là út, ....

Trái lại, “thập nhị địa chi”, là 12 con giáp, mà 11 con (vật) mọi người đều biết, với 5 con quen thuộc ở nhà vườn như: 1-Tý (Chuột), 2-Mão (Mèo), 3-Dậu (Gà), 4-Tuất (Chó), 5-Hợi (Heo); và 4 con ở ngoài ruộng như: 1-Sửu (Trâu), 2-Tỵ (Rắn), 3-Ngọ (Ngựa), 4-Mùi (Dê); với 2 con ở trong rừng là: 1-Dần (Cọp) và 2-Thân (Khỉ); và có 1 con giáp mà chưa hề ai thấy để biết đó là Thìn (Long:Rồng), nhưng tiền nhân lại bảo là nó vừa ở dưới đáy biển (thanh long), vừa bay lên trời (thiên long), và vị trí của nó lại là thứ 5 trong 12 con giáp. Như thế thì có bao giờ bạn tự hỏi là tại sao như vậy và có nghĩa là gì không?

(Trước khi trả lời câu hỏi này, tôi xin được nhắc lại với bạn sự khác biệt của 12 con giáp giữa xứ Hoa (Tàu) và xứ Việt, là ở con giáp thứ tư, mặc dầu chữ Mão chỉ có một kiểu viết (Hán), nhưng của Tàu dịch là Thỏ, và Việt dịch là Mèo. Như vậy thì ai là tác giả của khoa tử vi này, ai có lý và ai là người ăn cắp chép lại (copier), thì bạn là người sẽ biết ý nghĩa khác nhau giữa Thỏ và Mèo ở đây, để có thể nhận định điều đó sau khi đã đọc hết bài này.)

Nhưng tại sao Tý là Chuột lại ở vị trí số 1 trong thứ tự 12 Chi, và là nghĩa gì? Như tôi đã nói, khoa tử vi này phát xuất từ Kinh Dịch, và nguồn gốc của Kinh Dịch là của Việt tộc chớ không phải của Trung Hoa, như nhiều người Việt mình còn lầm tưởng. Sự kiện này ngày nay đã được khảo cứu và chứng minh một cách khoa học qua nhiều tài liệu và bài viết trên mạng. (Nếu bạn nào muốn tìm hiểu về vấn đề này xin vào mạng “khoahoc.net” hay “dunglac.org” hoặc “anviettoancau.net” để đọc. http://www.anviettoancau.net/html/index.htm)

Ở đây, tôi chỉ đề cập đến ý nghĩa triết của vấn đề này, để cho bạn hiểu “khoa tử vi” này không phải là chuyện dị đoan mê tín, vì Sống phải có “Nghĩa” và với nghĩa. Nên nghĩa, là phạm vi triết nên không cần tính chất khoa học, và phạm vi triết thì bao giờ cũng ở trên phạm vi khoa học là vật dụng và vật lý, nên vấn đề chứng minh trong triết không cần thiết.

Vì văn hóa Việt (tộc) là văn hóa nông nghiệp, nên đa số các con vật được chọn làm biểu tượng trong 12 Chi này, là những con vật sống gần với con người và đã góp phần với con người trong cuộc sống. Và vì tất cả những gì “tại địa thành hình” đều mang một ý nghĩa của “tượng”, và nhờ biết sống bằng “tâm linh” tổ tiên đã hiểu biết được Thiên Mệnh qua Nhân Tính, nên đã ẩn dấu ý nghĩa của “tượng” vào “hình” để cho con cháu “học” rồi “hành”. Và sau đây là ý nghĩa của mỗi con giáp (chi):

1-     “Tý” không chỉ có nghĩa là con Chuột, với tất cả đặc tính của Chuột, là nhỏ nhắn, lanh lợi, siêng năng, ham hố, tích trữ,…, mà phải hiểu với nghĩa “tí” (teo) như “trứng nước” (ovule), là sự khởi đầu của sự sống của con người lúc còn ở trong trứng (embryon).

2-     “Sửu” là con Trâu, là con vật to lớn với tính chất hiền lành, ngơ ngác, trầm tĩnh, cần cù kéo cày…, nhưng đó cũng là nghĩa vô biên của “Khí” Trời và hoạt “Lực” im lìm, yên lặng của Đất giao hòa với nhau, từ trong trứng (nước) với thời gian 9 tháng 10 ngày, đã thành “hình”, với 9 là nghĩa “cửu biến”, là nghĩa sinh hóa, biến hóa; còn 10 tức (5x2) là “thập toàn”, là ý nghĩa “viên mãn” của sự giao hòa của trời đất với ngũ hành, để “thành nhân”.

3-     “Dần” là Cọp với sức mạnh phi thường và nét đẹp kiêu hãnh tự nhiên bề ngoài, làm cho cọp có sức quyến rũ với dáng oai phong lẫm liệt, nhưng đặc tính của cọp là khôn ngoan, nhanh nhẹn, can đảm và hung dữ, nên làm cho người phải kính sợ và đặt cho cái tên là “chúa tể sơn lâm”.  Nhưng cọp ở đây cũng là hình ảnh con người lúc trưởng thành “Hùng” với nghĩa sức mạnh vô biên vì bao quát được cả Đức Trời lẫn Đất, và nét đẹp kiêu hãnh tự nhiên đó là nhân, trí, dũng. Và “chúa tể sơn lâm” là nghĩa vua, Vương, một khi con người biết phối hợp đức Trời, đức Đất với đức Nhân để là Nhân Hòa, để thành Nhân Tài, thì con người đúng là Nhân Hoàng.

4-     “Mão” là Mèo, và Mèo có hình ảnh và tính chất giống Cọp, nhưng hình dáng thu nhỏ lại, đặc tính của Mèo là kín đáo (giấu như mèo dấu cứt), Mèo sống gần với người và ở cùng trong nhà; nên Mèo ám chỉ ý nghĩa con người khi khôn lớn cần phải biết về (vào) “nhà” (sau khi lặn lội ngoài đồng hay khi đi săn bắn trong rừng), tức là nghĩa “quy tâm” để biến đổi cái vẽ “hùng dũng” bên ngoài (tiểu ngã) thành nét đẹp “kín đáo” bên trong, là “đại ngã tâm linh”. Vì chỉ với Đại Ngã Tâm Linh con người mới Cảm được chiều kích vô biên của Tình ở nơi Tâm. (Còn nếu đem con Thỏ vô đây thì không có nét gì để nói hết, vì Thỏ không giống Cọp tí nào, và không có nghĩa gì hết ở đây.)

5-     “Thìn” là Long là Rồng, là con vật tạo nên bởi óc tưởng tượng của con người (huyền thoại), có khả năng biến hóa và đổi dời từ đáy biển lên đến trời cao với sức lực vô biên của trời đất, nên tất cả mọi thiên tai như động đất, bão lụt, mưa to gió lớn, núi lỡ, hang sâu,… tiền nhân đều cho là “long giáng hạ”, bằng cớ hiển nhiên đó đã tồn tại cho đến ngày nay và đã được công nhận là kỳ quan thế giới với vịnh Hạ-Long. Nên Thìn chính là hình ảnh và ý nghĩa “Đại Ngã Tâm Linh” với chiều kích vô biên.

6-     “Tỵ” là con Rắn, là một loài vật bò sát đất, nhưng lại biết dùng sự khôn khéo qua cách mềm mại để uốn éo mà di chuyển, và là con vật biết lột xác (vỏ) lúc cần thiết để sống tiếp và sống lâu. Đó là ý nghĩa sau khi con người đã biết biến đổi tiểu ngã của mình thành đại ngã, tức là thức tỉnh, là “giác ngộ” (lột xác), để sống với Thiên Mệnh qua Nhân tính, nghĩa là một khi đã hiểu biết Tận, Kỳ, Tính, thì sẽ Minh (sáng suốt), sẽ Thông (rõ ràng), sẽ Duệ (thấu triệt), sẽ Túc (nghiêm chỉnh), sẽ Nghệ (giỏi giang), tức là Thấy với sáng suốt sẽ tinh khôn, Nghe thật rõ ràng sẽ có mưu kế, và có hiểu Biết thấu triệt mới có cái “Trí” (tri) của Thánh Nhân, để sống thọ, sống đẹp, sống hay và sống hạnh phúc ở đời này.

7-     “Ngọ” là con Ngựa, mà đặc tính của ngựa là chạy nhanh, là phóng, là phi, nên ở thời thượng cổ, ngựa là phương tiện di chuyển nhanh của sứ giả, để đi xa, để mang một sứ điệp đến với người khác, nên mới có chữ “kỵ mã” và “phi mã”, và ngựa còn có đặc tính nữa là nhận biết và hiểu chủ mình, nên được coi là con vật thân thiết và trung thành nhất với người. Đó cũng là ý nghĩa sau khi đã “lột xác” con người phải trở thành sứ giả của Trời để chạy nhanh, phóng xa khắp bốn phương, đến tha nhân với sứ điệp “Thành Nhân”, và tiếp tục sống sứ mạng “trung” (dung) với mình và “tín” với tha nhân.

8-     “Mùi” là Dương (con Dê). Dương với nghĩa là hiện tỏ ra, làm cho thấy, mà tiếng việt mình thường nói như: dương lên (treo cao lên)… như dương cờ, mà (treo) cao nhất đó là “thái dương” (mặt trời); và khi hiện tỏ ra quá chừng một cách trắng trợn, cái tình cảm của con trai đối với con gái, thì đàn bà con gái mới bảo là: «cái anh (ông) này “dê” tui», và nghĩa “dê” (gái) từ ban đầu là như vậy. Nhưng tại sao Dương với nghĩa là “Dê” lại dịch là Mùi? Thưa vì là nếu bạn đã có lần ôm con “dê thiệt” rồi, thì chắc chắn là bạn sẽ nhớ cái “mùi” đặc biệt của nó, và không thể nào quên được (!) nên Dương mới dịch là Mùi, và ca dao cũng có câu để tả cái mùi (hôi hám) đặc biệt của dê như:

Ăn ngủ bận như thợ nề

Chỗ ăn chỗ ở như dê nó nằm.

Vì vậy, mà tổ tiên mới ẩn dấu nơi con Dê hôi (mùi) hám, ít người dám đến gần, cái ý nghĩa chín mùi, thơm tho của đời sống, đó là nghĩa con người một khi đã hiểu biết được sứ mạng của mình, với Thiên Mệnh và sống trọn Nhân Tính để thành Nhân và chu toàn vai trò sứ giả, với sứ điệp của Trời, thì đúng là Nhân, là Thánh, là Mùi thơm ngát ở cõi trần, và như là thái Dương ở cõi Trời.

9-     “Thân” là con Khỉ, và đặc tính của khỉ là bay nhảy, không thể ở yên một chổ được, nên thích náo động, cho vui (?). Nói tới Khỉ người mình thường liên tưởng tới chuyện Tây Du Ký mà đa số người Việt đều biết, với nhân vật chính là Tôn Ngộ Không, còn gọi là Tề Thiên Đại Thánh. Vì không được Ngọc Hoàng mời ăn tiệc để được ăn trái đào trường Thọ và uống rượu trường Sinh bất Tử của Thái Thượng Lão Quân nên đã đại náo thiên cung, để rồi Thiên đình phải nhờ Phật mới khống chế được Ngộ Không. Và sau này nhờ công trạng bảo vệ Tam Tạng đi thỉnh Kinh ở Tây Thiên về, nên mới được phong là Đại Thánh. Nhắc lại chuyện này để nói với bạn ý nghĩa hình ảnh của Khỉ mà với cái tên “Ngộ Không” (?), thì quả thật là rất ngộ (!). Vì Ngộ ở đây là nghĩa “giác ngộ” cái Không, và Không là cái không có gì hết mà lại viên mãn tròn đầy, như Có. Cho nên “Ngộ Không” là ý nghĩa Trời Đất giao hòa nơi mình, để mình mới có, mới “ngộ” (biết) được cái Không; và mình phải làm (sao) cho Không (trống không) để mới có thể Ngộ (được) cái Thiên Tính, cái Mệnh Trời nơi mình. Và khi đó mình mới đáng được Tôn là quân Sư, là Đại Thánh, vì Tôn cũng là nghĩa con của con, tức là cháu, nghĩa là con người chỉ có thể biết và cảm được mình là con cháu (descendant) của Trời Đất, một khi cái Tâm của mình Trống Không.

10- “Dậu” là Gà, ở đây phải hiểu là Gà Trống (gà cồ). Và tại sao lại gọi là Gà Trống ? Vì như bạn biết chỉ có Gà Trống mới gáy ò ó o... thường thì vào nửa đêm, để báo hiệu bắt đầu cho một ngày mới, cho nên ca dao có câu:

Nửa đêm gà gáy ó o

Sao anh không ngủ dậy mò đi đâu (?)

Như khi xưa, chưa có đồng hồ đánh thức, tiếng gà gáy và tiếng trống cũng là để báo hiệu sang canh mới, trời sắp sáng, để người nông dân thức dậy lo đi làm việc ruộng đồng, nên ca dao cũng có câu:

Bến chợ Đông Ba, tiếng gà gáy sáng.

Bên làng Thọ Lộc, tiếng trống sang canh.

Cho nên với thói quen người ta hay nói gọn lại là: “gà gáy trống canh”, rồi dần dần nói tắc thành “gà trống”, nghĩa là “gà” với “trống”.

Nhưng tại sao Gà Trống lại được chọn làm con giáp thứ 10 ở đây, có phải vì thiên vị đi chọn trống chê mái, hay với đầu óc phong kiến, trọng Nam khinh Nữ đây không?

Thưa không là thiên vị và cũng không là phong kiến tí nào, mà chỉ là theo luật tự nhiên của trời đất, là “đồng thanh tương ứng”, nghĩa là muốn báo hiệu đi xa bằng tiếng trống, thì phải làm cái trống bằng đồng, nên gọi là “trống đồng”, và phải để trống (chỉ bịt một đầu), thì cái tiếng, cái âm mới thanh, mới trong, mới vang dội đi xa được. Đó là nguyên tắc làm chuông, làm mõ, cho đến ngày nay. Và nếu bạn đã ở nhà quê và nếu bạn có để ý, thì bạn thấy là mỗi lần con gà trống sắp gáy là nó đập cánh, ưỡn ngực, vươn cao cổ nó lên, (như là để cho thông cái cổ đừng để cho bị nghẽn, bị chận bởi bất cứ thứ gì) rồi há mỏ để gáy ò ó o…, và vì tiếng ò ó o, với tiếng trống đều đi xa nên là “đồng thanh” và “tương ứng”.

Nhưng ở đây tôi không có ý phân tích tiếng gà với tiếng trống, mà chỉ muốn nói lên ý nghĩa Gà Trống là tiếng báo hiệu cho con người mặc dầu “Thành Nhân” cũng phải biết “thức tỉnh”, phải coi chừng đừng có “ngủ” quên (trên chiến thắng), cho dầu mình có đầy đủ Minh, Thông, Duệ, Túc, Nghệ, nhưng việc “Thành Nhân” là việc mỗi giờ, mỗi ngày, nên không được trể nãi hay quên đi. Và để cho cái tiếng thanh của mình với đức Nhân “đồng thanh” với đức Trời đức Đất, để “tương ứng” với trời đất, thì từ Tâm đến khẩu (miệng) của mình cũng phải làm cho Trống.

11- “Tuất” là con Chó. Nhưng con Chó tại sao lại chạy (rông) vô đây? Thưa không có chạy rông hay là chạy bậy vô đây đâu. Như bạn biết Chó là con vật sủa “quấu quấu”, nên ở nhà quê người ta hay nuôi chó để canh giữ nhà, vì hễ có người lạ đến gần nhà là nó sủa, để báo cho người chủ nhà biết và đề phòng coi chừng có kẻ lạ vào nhà, làm chuyện bất lương như ăn cắp, ăn trộm, ăn cướp... Đó là ý nghĩa mà con người cần phải cảnh giác trên con đường “Thành Nhân”, vì cho dù là “Thành Nhân” cũng đừng để cho những kẻ gian ác hại mình bằng bất cứ cách nào, bằng vũ lực hay thuyết giáo, với những chủ thuyết nhân danh chính nghĩa, hoặc những tà thuyết của bọn ma giáo.

12- “Hợi” là con Heo mà ai cũng biết. Nhưng tại sao Heo lại được tuyển chọn để kết thúc cái chuyện Tử Vi này? Như mọi người đều biết Heo là con vật duy nhất ở gần người, mà không cần làm gì hết để gọi là góp công góp phần với con người trong đời sống hằng ngày. Trái lại, còn được người ta nuôi cho ăn no, tắm rửa mát mẻ, để ngủ ngon cho mau lớn, mau mập, mau béo để… người ta “làm thịt”, vì “con lợn có béo, thì lòng mới ngon”. Như vậy Heo là nghĩa gì ở đây? Thưa chỉ có một nghĩa rất đơn giản, đó là An Vui, cho dầu biết là mình có sắp chết, vì An Vui là mục đích và là cứu cánh của con người giác ngộ để “Thành Nhân”, vì một khi Thành Nhân, tức là con người quy tụ được về nơi Tâm mình, qua Đại Ngã Tâm Linh với chiều kích vô biên, tất cả thiên địa, vũ trụ, vạn vật, để trở thành “Nhất Thể”, và đó là Hạnh Phúc, là Tình Yêu, là Ánh Sáng, là Chúa, là Phật, là Đạo…

Đó là ý nghĩa của con người với đời sống trên trái đất này, mà bạn có thể đồng ý với tôi hay không, là điều không quan trọng. Nhưng điều quan trọng là bạn có thật sự hạnh phúc với ý nghĩa của bạn ở đời này không?

Tôi hy vọng từ nay, có lẽ bạn sẽ cho là “mê ly” cái tử vi này, chớ không còn bảo là mê tín nữa, và ước mong bạn sẽ hãnh diện về văn hóa phong tục của giòng giống mình, để bạn tự thấy cần tìm lại Đạo, để phục quốc và kiến quốc; Tổ quốc mà tổ tiên đã dày công lập dựng, và đã để lại cho bạn một gia tài vô biên, vô giá, ngoài sức tưởng tượng của bạn, vì nó đã được ẩn giấu một cách tuyệt vời… mà đến nay bạn đã không ngờ !

 

Ngộ Không?

 

 

Paris, mồng 10 tháng chạp năm Đinh Hợi.

Nguyễn Sơn Hà.

 

TIỄN ĐƯA ÔNG TÁO…

 

Nhân dịp được đọc bài về “Chân Dung & Chân Tướng của Táo Quân” trên mạng ‘khoahoc.net’ tuần này, do tác giả BS. Lê văn Lân biên khảo, làm cho tôi cảm thấy cần phải viết thêm về ý nghĩa của tục lệ quan trọng này và không thể bỏ qua, vì nếu bạn là người Việt thuần túy thì có lẽ bạn đang chuẩn bị để tiễn đưa Ông Táo về Trời trong vòng (vài) ba ngày nữa, thì bạn lại cần phải hiểu biết về ý nghĩa của cái phong tục này.

 

Như tôi đã viết trong bài “Tết Nguyên Đán hay Lễ Sinh Nhật Con Người”,chuyện đúng hay sai với ý nghĩa triết, thì chỉ có bạn mới có thể nhận định bằngvới cái Tâm của bạn, chứ không thể xét đoán bằng đầu óc suy luận với bằng chứng cụ thể kiểu khoa học, vì là “thiên lý tại nhân tâm”.

 

Nên ở đây, tôi chỉ đề cập đến ý nghĩa triết của cái lễ này, chứ không nói đến nguồn gốc xuất xứ với cách thức (mặc áo màu tùy theo năm, đội mũ cánh chuồng, đi đôi hia,…), hình thức (ăn xôi chè, thèo lèo cứt chuột, …) hay là ý thức ở vòng ngoài, như nghĩa là đúc kết (bilan) với “sớ Táo quân” của một năm sinh sống hoạt động, để kiểm thảo, để rút kinh nghiệm, để tu bổ, sửa đổi, để làm cho tốt đẹp hơn trong năm sắp tới…; hay là ý nghĩa tương sinh của Ngũ Hành qua chữ Táo (Hán) là bộ ghép của chữ Hỏa ở trước với Thổ ở sau (là Hỏa sinh Thổ), để nói là cái ‘bếp”, là cái mà mọi nhà đều có để nấu cơm ăn. Cho nên muốn nấu cơm phải nhúm lửa (Hỏa), ở cái ‘bếp’(Thổ), và lấy cái nồi đồng (Kim, Thổ sinh Kim), đổ nước (Thủy, Kim sinh Thủy) vô nấu sôi, và vo gạo (Mộc, Thủy sinh Mộc) bỏ vào, rồi canh lửa cho cạn nước để cơm chín...

 

Nhưng ý nghĩa triết đó là gì? Thưa là Ngày đưa ÔngTáo về Trời, vì đến nay hễ người Việt nào còn chút máu Tiên Rồng thì ai cũng biết ngày 23 tháng chạp (năm nay đúng vào 30/01/2008). Nhưng có  khi nào bạn thắc mắc, tại sao lại là ngày 23 tháng chạp, tức là một tuần lễ trước Tết, mà không là ngày 21 hay 25 tháng chạp, hay là một ngày nào khác ?

 

Như tiếng Việt mình đến ngày nay vẫn thường nói là “vài ba”(cái), nghĩa là từ hai (2) tới năm (5), là nghĩa không xác định rõ ràng, vì theo Kinh Dịch thì những số từ 1 đến 5 là số sinh và thuộc về ‘huyền số’. Huyền số (nombre mystique) là số với nghĩa không thể xác định được, vì không theo quy luật : cọng(+) trừ(-) nhân(x) chia(÷), khác hẳn với số thật (nombre réel) được xác định bởi toán học, như 1+2=3. Nên tiếng “vài ba” này, phát xuất từ nghĩa huyền (ảo) của số 2 và số 3, và nghĩa của số 2 và số 3, là từ câu : “tham thiên lưỡng địa”, trong Kinh Dịch, là nghĩa “quân bình động” (équilibre dynamique) với tỷ lệ : trời 3 đất 2, của mọi biến dịch trong vũ trụ, mà ngày nay khoa học cũng đã xác thực công nhận, chứ không là quân bình kiểu suy luận của con người, tức : 3=1+2, hay 2=1+1, là “quân bình chết” (cứng), tức là hoặc Có hoặc Không, chớ không thể vừa Có lại vừa Không ! Vì vậy thế giới hiện nay đang chết cứng với cái quân bình đó, vì một bên ở những nước gọi là văn minh phát triển, đủ thứ đến độ thặng dư, và một bên ở các xứ gọi là nghèo nàn chậm tiến, Không (có) gì ráo trọi !

 

Và tháng chạp là tháng 12, không theo nghĩa thứ tự toán học, mà là nghĩa “thập nhị địa chi”,  là 4 lần 3, tức là nghĩa “tứ linh” với : long, li, qui, phụng, cũng là “tứ tượng” và đó là “tứ quý”,với “quý”cũng là nghĩa (một) mùa, tức là 3 tháng. Và huyền số 3 cũng là nghĩa “tam tài” với thiên-địa-nhân, và là bản chất của Con Người với Tính-Thiên-Mệnh, và đó cũng là nghĩa Tâm Linh.

 

Với quan niệm “nhất âm nhất dương chi vị Đạo”, mà tiếng Việt mình ngày nay còn phản ảnh trong đời sống mỗi ngày với toàn là tiếng đôi như: trời đất, sông núi, non nước, chợ búa, làng xã, anh em, v.v…, hay cả tiếng lóng (đệm) như : hăng hái, hí hửng, hửng hờ, năn nỉ, nóng nảy, lạnh lẽo, vui vẻ, lẻ loi, lì lợm, lỏng lẻo, lúc lắc, v.v…, mà tiếng Tàu không hề có. Hay với thơ lục bát (mà Tàu cũng không có luôn), là cũng phát xuất từ quan niệm “tam tài”(3) và “tứ tượng”(4) với“lưỡng nghi”(nhịp hai), mà là “nhất thể”, nghĩa là chỉ có Một thể để thành thơ, đó là thơ lục bát, như chẳng hạn :

Trăm năm, bia đá, cũng mòn, (6 chữ=3x2)

Ngàn năm, bia miệng, vẫn còn, trơ trơ.(8 chữ=4x2)

… với ý nghĩa đối xứng, theo âm vần và nhịp điệu tuyệt vời.

 

Ở đây tôi chỉ chứng minh sơ qua với bạn cái “nhân sinh quan” của Việt tộc đã được xây dựng trên một nền tảng “bất dịch” là Âm Dương và cơ cấu “biến dịch” với Ngũ Hành nhưng thật vững chắc, không còn gì hơn, đó là Nhất Thể. Quan niệm đó đã được đúc kết và ghi khắc lại qua cái bia miệng, nghĩa là tiếng nói và thơ văn, qua ca dao tục ngữ VN, mà trên đời này chỉ có Việt tộc mới có ! Nên bạn nào nói văn hóa phong tục của mình là từ nguồn gốc Trung Hoa căn cứ theo tài liệu sách vở tham khảo, thì là chưa biết quảng vấn (hỏi sâu) và thận tư (suy nghĩ kỷ càng), thì đó là chuyện của bạn, và là quyền tự do ngôn luận.

 

Nên để mạo muội chứng minh ở đây với bạn nguồn gốc và ý nghĩa Ông Táo phát xuất từ nhân sinh quan đó thì cái câu ca dao sau đây đúng là : ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ,  và đó là :

Thế gian một vợ một chồng,

Nào như vua bếp hai ông một bà ?”

Với thế gian “một vợ một chồng”, đó là ý nghĩa một âm một dương với quan niệm : “thiên địa, vũ trụ, vạn vật, Nhất Thể”. Và chữ “vua” ở đây phải hiểu với nghĩa “tam tài”, tức là tài ba với nghĩa tài đức, tài tác, và tài nghệ. Có được như vậy mới đúng là Nhân tài với Thiên tài và Địa tài, thì chỉ khi đó mới là vua, tức là Nhân Hoàng với Thiên Hoàng và Địa Hoàng.

 

Còn nghĩa “bếp” theo chữ Hán lúc đầu viết với “bộ huyệt”, là nghĩa hang động trong đất (thổ), là chổ được đào khoét dưới đất cho trống để chôn cất chẳng hạn, nên người mình mới nói là “đào huyệt”. Và ý nghĩa hang động trong đất là nghĩa “Trống Không” và đó là Chân lý, cho nên mới có tiếng “Chân Không”, vì Chân lý là Không mới Có, như Không gian vô biên chứa đựng cả vũ  trụ , trời đất, vạn vật… là ý nghĩa Đại Ngã Tâm Linh của con người và cũng là Tâm của vũ trụ.

 

Vì con người là “giao chỉ” của đức Trời và đức Đất, viết bằng hai nét ngang và dọc giao nhau (+) và chữ Nhân cũng được viết từ hai nét đó biến dạng theo dáng con người đang bước đi, và ở trên trái đất này, nên chữ Thổ (±) được viết bằng bộ thủ “thập” ở trên và bộ thủ “nhất” ở dưới, vì “thiên-địa-nhân” là Một, là Nhất thể. Còn chữ “bếp” sau này được viết biến dạng với chữ “hỏa”ở trước ghép với chữ “thổ”ở sau. Mà trong bộ thủ“hỏa”lại viết với chữ “nhân” với hai nét nhỏ hai bên (như hai tay), như vậy nghĩa “bếp” là gì, nếu không phải là nghĩa “tài tác”,để đi kiếm lửa, để trồng lúa xay gạo, từ (trong) đất, rồi làm bếp bằng đất, để nấu cơm ăn, để “có thực mới vực được Đạo”, tức để sống, để chơi, để sung sướng, để An Vui Hạnh Phúc, bằng “Tâm Đạo”,với “Tâm Linh” và qua “Tâm Tình”… ? Từ đó mới có chuyện nhân thoại về ông Táo kể theo Phan Kế Bính trong cuốn Việt-Nam Phong Tục hay theo Hoàng Trọng Miên trong Việt-Nam Văn Học Toàn Thư.

 

Và “hai ông một bà” ở đây là ai, là hai ông nào với bà nào ? Thưa là ông Trời, ông Địa với bà Ba. Vì nếu bạn để ý trong ngôn ngữ của Việt tộc thì Trời Đất hay Thần Thánh đều được gọi bằng ông hay bà, như Ông Táo hay ông (bà) bếp, chứ không như người Tàu gọi là Thần Táo hay Thần Bếp. Vì kêu bằng Ông hay Bà thì trời đất, thần thánh cũng đã thành Hình như mình với bản chất giống mình là Tính, là Thiên, là Mệnh. Còn coi thần thánh là Thần thứ thiệt như Thần Hỏa, Thần Thổ, v.v… thì mình đúng là còn nô lệ của thần, nên mới phải tế thần và cúng thần ! Như vậy thì mình đâu còn là Thiên Mệnh với Nhân Tính nữa ?! (Mời bạn đọc bài “Tục lệ ngày Tết… Mê tín hay Mê ly ?”). Nên “hai ông một bà” cũng là ý nghĩa “thiên-địa-nhân” và là nghĩa Một mà Hai, như Mình với Ta hay Ta với Mình. Vì với quan niệm đó, cho nên cũng dễ hiểu với chế độ mẫu hệ ngày xưa của Việt tộc, là một bà có tới hai ba ông để… lo việc nặng nhọc ngoài đồng. Nhưng ngày nay với “hai ông một bà” lại là chuyện khác…

 

Nên “Ông Táo về Trời” là ý nghĩa Con Người Quy Tâm để sống chung thủy với Trời Đất qua Đại Ngã Tâm Linh, để thành Nhất Thể với vũ trụ, vạn vật…

 

Như phong tục truyền thống này luôn được tái diễn vào một tuần trước Tết, đó là thời gian tối thiểu để chuẩn bị ăn Tết với biết bao nhiêu chuyện chuẩn bị phải làm bề ngoài, như mọi người đều biết, nhưng cũng là thời gian cần thiết để cho con người quy tâm hướng lòng về Trời Đất Vạn Vật để ý thức mình là Con Người được thành Hình với tất cả Thiên Tính Mệnh, và đó là ý nghĩa Tết Nguyên Đán, là lễ Sinh Nhật của Con Người.

 

Viết tại xứ lạnh quê người, dưới một ngày nắng ấm…

20 tháng chạp năm Đinh Hợi 2007.

 

Nguyễn Sơn Hà

 

Trở về Trang Chính