ĐÔI ĐIỀU BÀN PHIẾM VỀ

“CHỮ TRINH CÒN MỘT CHÚT NÀY” CỦA KIỀU



Nhật Hồng Nguyễn Thanh Vân

 

       

Trong quyển Truyện Kiều của Cụ Nguyễn Du, người ta đọc được năm lần, hoặc trực tiếp hay gián tiếp Kiều nhắc đến chữ Trinh, và một lần Kim Trọng biện giải về chữ này.

            Lần thứ nhất, giữa đêm khuya sau khi Kiều gảy đàn nơi hiên Lãm Thúy, thì Kim Trọng :

 

            … “Sóng tình dường đã xiêu xiêu,

                 Xem trong âu yếm có chiều lả lơi”…

 

            Nàng nghiêm trang cảnh tỉnh người yêu bằng những lời lẽ thanh tao, và trong vài câu mở đầu đã nói đến chữ trinh, như một thứ vũ khí có hiệu quả làm dịu đi được cơn sóng tình đang bộc phát kia :

 

            … “Đã cho vào bậc bố kinh,

                Đạo tòng phu lấy chữ trinh làm đầu”…

 

            Với mẫu người được mô tả là quân tử như Kim Trọng, thì chữ trinh nêu ra ở đây quả là một gáo nước tưới tắt được lửa lòng đang từng cơn thèm muốn trong chàng. Vì họ mới lén lút yêu nhau mà đã hò hẹn gặp gỡ thề thốt. Rồi cùng nhau uống rượu, ngâm thơ, gảy đàn đã là đi quá lễ giáo gia phong rồi… nếu biết giữ gìn trong sạch cho nhau, thì còn có thể châm chước được. Lại ra tuồng “trên bộc trong dâu” và muốn “ăn xổi ở thì” nữa, thật không xứng đáng là kẻ học sách thánh hiền. Rồi Kiều lại đem chuyện Trương Quân Thụy và Thôi Oanh Oanh làm dẫn chứng :

 

            “Gẫm duyên kỳ ngộ xưa nay,

            Lứa đôi ai dễ sánh tày Thôi-Trương.

                    Mây mưa đánh đổ đá vàng,

            Quá chiều nên để lỡ làng yến anh.

                    Trong khi chấp cánh liền cành,

            Mà lòng rẻ rúng đã dành một bên.

                    Mái Tây để lạnh hương nguyền,

            Cho duyên đằm thắm ra duyên bẽ bàng.

                    Gieo thoi trước phải giữ giàng,

            Để sau nên thẹn với chàng vì ai”…

 

            Lần thứ hai, bằng lời lẽ gián tiếp, sau khi về với Mã Giám Sinh nàng thốt :

 

            “Phẩm tiên rơi đến tay hèn,

            Uổng công nắng giữ mưa gìn với ai !

                    Biết thân đến bước lạc loài,

            Nhụy đào thà bẻ cho người tình chung”…

 

            Rõ ràng là cái phẩm của tiên, cái nhụy của hoa đào nay đã về tay kẻ ô trọc. Giá mà nàng biết được tấm băng trinh phải như thế, thì thà là dâng hiến cho chàng Kim trong đêm gảy đàn đó vẫn còn hơn.

 

            Lần thứ ba, lúc ở lầu Ngưng Bích bỏ trốn vì mắc mưu Tú Bà và Sở Khanh nàng bị bắt trở lại, bị đánh đập tàn nhẫn đành cất tiếng lạy van rồi đau lòng trình thưa :

 

            … “Thân lươn bao quản lấm đầu,

            Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa !”..

 

            Xin chừa chút lòng trinh bạch !  Thật là tiếng than đứt ruột !  Không muốn làm gái làng chơi để giữ cái trinh bạch của người đàn bà cũng không được, thôi thì quản gì thân lươn phải chịu lấm đầu !

 

            Lần thứ tư, trong buổi tiệc cả nhà đoàn viên, cha và em đều một lòng nối duyên nàng lại với chàng Kim, Kiều nại lý do :

 

            … “Nghĩ rằng :  Trong đạo vợ chồng,

            Hoa thơm phong nhụy trăng vòng tròn gương.

                  Chữ trinh đáng giá ngàn vàng,

            Đuốc hoa chẳng thẹn với chàng sau xưa”…

 

            Ôi !  thân nàng giờ đây “ong qua bướm lại” lắm rồi. Chữ trinh ngàn vàng còn đâu nữa mà dâng hiến cho kẻ tình chung !  Nên nàng nhất mực chối từ, nhưng cuối cùng đành phải cắn răng ưng chịu.

            Chàng Kim thì hết lòng bào chữa cho chữ trinh đã bị hoen ố đó :

 

            … “Xưa nay trong đạo đàn bà,

            Chữ trinh cũng có đến ba bảy đường.

                  Có khi biến, có khi thường,

            Có quyền nào phải một đường chấp kinh ?

                  Ví nàng lấy hiếu làm trinh,

            Bụi nào cho đục được mình ấy vay ?”…

 

            Nàng vì hiếu phải bán mình chuộc tội cho cha, thì dù tấm băng trinh có nhơ nhuốc đến ngần nào dưới con mắt của chàng vẫn cho là còn trong trắng.. Ta biết Kim là môn đồ trong cửa Khổng với thuyết lý luôn bó chặt trinh tiết của người phụ nữ, xem đó như món hàng quý giá khi lấy chồng và gần như không có gì đánh đổi được. Nhưng chàng ta lại quan niệm rất rộng rải trong trường hợp này.

           

            Lần thứ năm, trong đêm động phòng hoa chúc để tái hồi duyên nợ với Kim Trọng, chàng muốn vầy duyên ân ái. Nàng cũng nghiêm trang khôn khéo chối từ :

 

            … “Chữ trinh còn một chút này,

            Chẳng cầm cho vững lại giày cho tan !”…

 

            Với lý do như thế, nàng xin Kim hãy coi nàng như bạn tri kỷ. Tiếng là vợ chồng nhưng không chung đụng xác thịt. Chỉ cùng nhau “khi chén rượu lúc cuộc cờ, khi xem hoa nở khi chờ trăng lên” mà thôi. Kim cũng bằng lòng và họ giữ vậy cho đến mãn đời.

 

            Trong tất cả các sách vở nói  đến đoạn này, đều đồng quan điểm như lời giải thích của hai cụ Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim : “chữ Trinh đây là nói cái lòng trinh tiết của Kiều vốn giữ với Kim Trọng tự xưa đến nay. Dẫu có phải ong qua bướm lại cũng là bất đắc dĩ, chứ cái lòng thỉ chung vẫn không đổi. Đấy là nói cái trinh của Kiều đối với Kim Trọng :  cái trinh ấy Kiều muốn giữ cho được trọn vẹn, không nở đem cái thân tồi tàn mà đãi người tình chung”.

 

            Tuy nhiên, cũng xin được có một nhãn quan khác, để phiếm bàn về “Chữ Trinh” đó như sau :

            Kim Trọng là mối tình đầu khi Kiều vừa mới “cặp kê” tức khoảng 15 – 16 tuổi, và mẫu người thư sinh quân tử, nho nhã phong lưu như chàng Kim hẳn là kẻ trong mộng tưởng của nàng rồi. Nên suốt quảng đường sương gió có rất nhiều lần nàng nghĩ đến người yêu. Nay được tái hồi trong đèn hoa chúc, trong tiệc hợp cẩn giao bôi, thì hà tất gì nàng nỡ để hoa xưa ong cũ chẳng được hưởng cái tình chung ?

            Lấy lý do theo giải thích trên, bề ngoài thì đúng. Nhưng chắc còn có ẩn tình ?  Bởi nàng cũng biết, chính Kim đã hết lời binh vực cho chữ trinh hoen ố của nàng, rằng không có chi là dơ bẩn. Thế thì việc ăn nằm với chàng đâu có gì là tồi tàn ?  Cố chấp quá chăng ?  Câu trả lời có lẽ là không.

            Xin thử lý luận một vài sự kiện xảy ra trong suốt cuộc đời luân lạc của nàng, để tìm hiểu cho điều này.

            Nàng và Kim Trọng đúng là một cặp tài tử giai nhân hiếm có. Họ yêu nhau thật tương xứng !  Yếu tố về kinh nghiệm trường đời đối với họ trong tuổi cặp kê này hầu như không có. Nhất là đối với Kiều, một cô gái chỉ biết có phòng khuê. Giá mà mọi việc đều cứ bình thản trôi qua, thì không có gì để nói.

            Nhưng sau đó, Kiều bị ném ra ngoài xã hội, phải lăn mình vào giữa đống bùn nhơ nhớp của cuộc đời. Kinh nghiệm sống mỗi ngày một chồng chất thêm lên. Cho nên mẫu người “mọt sách” như kiểu chàng Kim, bây giờ đã có phần bị xói mòn trong tâm não của Kiều, vì nàng là nạn nhân của loại người này quá nhiều !

            Nào là Mã Giám Sinh – tức là người họ Mã học sinh trường Quốc Tử Giám –  không biết là thực hay giả, nhưng theo tên gọi thì cũng là hạng sách đèn, nhưng lại chuyên nghề ăn bẩn lầu xanh !

            Nào là Sở Khanh với cái vẻ “hình dong chải chuốt áo khăn dịu dàng”, ngâm thơ xướng họa đúng là hạng thư sinh thứ thiệt. Thế mà lại là “một cốt một đồng” với mụ Tú Bà chuyên gạt gẫm gái lành !

            Rồi đến Thúc sinh viên, Truyện Kiều đã tả :

 

            … “Khách du bỗng có một người,

            Kỳ Tâm họ Thúc vốn nòi thư hương”…

 

            Nòi thư hương !  Ba tiếng đó đủ xác định con người có ăn học. Chàng lại là rễ của quan lớn đầu triều, cũng có tác phong nho nhã văn vẻ hơn người, nhưng về nhà thì sợ vợ hơn cha !

            Kịp đến lúc Hồ Tôn Hiến xuất hiện, Kiều càng thấy chán chường thêm cho kẻ sĩ có quan danh. Hồ là một trọng thần của triều Minh, lại giữ chức Tổng Đốc với kinh luân gồm đủ hẳn là văn võ toàn tài. Nhưng mưu mô lừa đảo thì quá bỉ ổi, lại còn ép vợ của tướng địch phải thị yến dưới màn để chuốc rượu nài hoa. Điều này một tướng lãnh biết trọng danh dự không ai làm. Đó là chưa kể nàng hết sức ghê tởm cho hạng quan lại bất công, chuyên ăn của lót như tên quan đã xử ép cha nàng.

            Bên cạnh đó, một Từ Hải sáng rực hào quang trí dũng có thừa. Kiều gặp chàng mới đúng câu :

 

            … “Trai anh hùng, gái thuyền quyên,

            Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cỡi rồng”…

 

            Qua kinh nghiệm bản thân trong suốt gần 10 năm lưu lạc phong trần, nàng nhìn được cái chân giá trị trong chí khí hào kiệt của Từ :

 

            … “Thưa rằng lượng cả bao dong,

            Tấn Dương được thấy mây rồng có phen,

                   Rộng thương nội cỏ hoa hèn,

            Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau”…

 

            Họ thật là ý hợp tâm đồng, vì Từ cũng nhận xét về nàng :

 

            … “Khá khen con mắt tinh đời,

            Anh hùng đoán giữa trần ai mới già”…

 

            Chỉ có Từ Hải mới đích thực là ý trung nhân đánh giá đúng về nàng. Còn Kim Trọng chỉ là kẻ thấy hương thì luyến, thấy ngọc thì thương chứ không nhìn được tim óc của người đẹp.

            Trong lần tái hợp này, thực tình mà nhận xét, thì cán cân tâm hồn của Kiều đã nặng về phía họ Từ mất rồi. Kim Trọng dù hiện diện bằng xương bằng thịt, cũng chỉ là cái bóng mờ của dĩ vãng. Chăn gối với chàng chắc gì có mặn nồng âu yếm, thà tìm cách từ chối còn hơn. Nếu ân ái, biết đâu Kim Trọng tìm hiểu được sự miễn cưỡng này, sẽ đau xót đến ngần nào.

            Lại nữa, trong năm năm chung sống với Từ, tuy miệng đời cho là vợ của tướng giặc, nhưng cũng “Triều đình riêng một góc trời. Gồm hai văn võ rạch đôi sơn hà” với đầy đủ thể thức của bậc mẫu nghi thiên hạ. Dân chúng lại rất cảm phục sự nhân nghĩa của nàng. Đó cũng là một kỷ niệm khó quên.

            So sánh như thế để thấy ẩn tình của nàng muốn thủ tiết với Từ, vì Từ mới thật là người chồng lý tưởng. Nhờ Từ mà nàng trả được oán ân đủ đầy. Từ chết thảm thương cũng vì nàng. Không thủ tiết mới chính là bội nghĩa. Dù nàng không có cái trinh để dâng hiến Từ, nhưng còn cái tiết phải giữ cho chàng. Cái tiết phụ đó là :  lấy chồng phải theo chồng, vinh nhục cùng chồng, chồng chết thủ phận thờ chồng đúng theo đạo lý. Bây giờ hoàn cảnh có khác, tuy nàng không chính thức công bố thủ tiết với Từ, nhưng âm thầm cư xử như vậy bằng chính tâm hồn và thể xác của mình vẫn đỡ ân hận hơn.

            Có thể người đời không biết, nhưng linh hồn Từ ắt biết. Chung chăn gối với Kim Trọng là làm đau lòng kẻ đã bỏ xác vì mình !  Biết đâu chẳng là như vậy đối với Từ !  Trong khi sự thủy chung của Kim Trọng đã được đền đáp bằng Thúy Vân kia rồi. Quả thật nàng nợ chàng Kim có ít, mà nợ với Từ thì lại quá nhiều…

            Cho nên trước khi nại lý do “Chữ trinh còn một chút này…” để quyết định dứt khoát từ chối sự ăn nằm với Kim, nàng cũng đã thốt :  Khéo là dở nhớp bày trò. Còn tình chi nữa là thù đấy thôi !” như muốn nói thẳng ra rằng : 

            “Nếu chàng nhất định đòi giao tiếp xác thịt thì chỉ là bày trò nhơ nhớp, khiến cái tình cũ mà thiếp đã từng dành cho chàng 15 năm về trước nay biến ra thù hận mà thôi !  Hãy để cánh hoa tàn này được phụng thờ linh hồn Từ Hải. Vì chính Từ đã từng vớt nó khi còn ở lầu xanh, đem nó về đưa lên ngôi tuyệt đỉnh, trân trọng nó, và chết đứng vì nó. Hãy giữ trong lòng cô Kiều ở tuổi cập kê, và để yên cho cái thể xác của Kiều sau 15 năm luân lạc này !  Chính đó là hai hình ảnh của một con người, nhưng xin đừng nhập nhằng lẫn lộn. Đừng phong thánh bằng những mỹ từ “lấy hiếu làm trinh” rồi cho cả hai vào làm một.  Bắt cô Kiều sau phải trả nợ gối chăn cho cô Kiều trước bằng cái vỏ đạo đức luân thường, thì cũng bỉ ổi chẳng kém gì Hồ Tôn Hiến đã bắt nàng thị yến dưới màn… trong đêm thắng trận”.

            Có người thắc mắc rằng sau khi Từ chết, nàng đã thất thân với hai kẻ khác nữa, đó là Tôn Hiến và Thổ Quan thì tiết hạnh còn đâu mà giữ ?

            Ắt hẳn ai cũng biết đó là do ép buộc chứ lòng nàng đâu muốn. Phải đành nhắm mắt đưa chân mà thôi !  Vả có muốn chăng là cố ý tống mắt đưa tình với Hồ Tôn Hiến, để ép tên dâm quan này uống rượu mà bằng lòng cho cảo táng di hình thân thể Từ Hải chôn ở một mảnh đất xấu ven sông. Nếu không thì xác của Từ Hải phải phơi ngoài chiến địa, làm mồi cho quạ diều cùng thú dữ ! 

Biết đâu nàng cũng coi hai gã này như những bọn đã từng “vào trước ra sau” đối với nàng khi ở lầu xanh, để “Mặc người mưa Sở mây Tần. Riêng mình nào biết có xuân là gì ?”.  Chắc Từ cũng hiểu mà thông cảm cho nàng.

            Còn bây giờ, tuy cũng trong hoàn cảnh bị cha và gia đình ép buộc động phòng hoa chúc với Kim, nhưng còn chủ động tìm cách biến tình chồng vợ ra nghĩa bạn bè, để khuớc từ chăn gối được, tại sao không làm ?

            Theo thiển kiến người viết, Kiều khéo lập luận “Chữ trinh còn một chút này”…  để an lòng Kim Trọng, chứ thật sự bề trong nàng muốn thủ tiết với Từ. Nhìn rộng hơn, có lẽ đây cũng là tâm sự của Tiên Điền Tiên Sinh khi mà thể xác mặc triều phục nhà Nguyễn, nhưng trong lòng vẫn hoài vọng vua Lê.

 

                                                                                                                  Nhật Hồng Nguyễn Thanh Vân

 

 

 Trở về Trang Chính