|
Nói
đến hoa lan người ta liên tưởng đến sự tinh khiết, thanh
tao, quý trọng, đam mê và tình yêu vĩnh cửu bất diệt. Trong
ngôn ngữ của loài hoa, hoa lan Galanda nói lên:“Những
nông nổi say mê không làm giảm giá trị tình yêu của chúng
ta“, và lan Aranthera màu đỏ:“Tình yêu say đắm của
chúng ta thì vĩnh củu“, hoặc lan Phalaenopsis:“Thú
thật cùng em (anh), từ tận đáy lòng anh (em) quý trọng và
say mê em (anh) biết bao“.

Hoa lan phô trương vẻ
đẹp của mình qua muôn ngàn dạng sắc và hưong thơm nhẹ nhàng,
từ một đóa hoa nhỏ như cây kim may với màu vàng kim óng ánh
mà nhà sinh vật học Mỹ Donald Perry đã tìm thấy cho đến
những đóa lan khác lộng lẫy mỹ miều. Hoa lan không chỉ để
ngắm thôi mà còn có nhiều giá trị thực tiển khác. Lan
Vanilla cho ta chất thơm Vanille để làm tăng hương vị của
những ổ bánh hay thức ăn tráng miệng. Củ lan khô (Salep) có
nhiều chất nhờn và tinh bột là nguyên liệu để điều chế keo,
chất nhũ tương, chất thuộc da, làm láng gỗ, tơ sợi.
Theo hệ thống sắp tên
các loại cây cỏ trong ngành thực vật học, lan là loài đơn tử
diệp thuộc gia đình Orchidaceae. Đặc điểm của gia đình nầy
là hoa có rất nhiều hình dạng với những cánh hoa không đều
thật rõ rệt và cách cấu tạo hoa rất phức tạp. Muốn vẽ hoa đồ
của lan, người ta phải bỏ rất nhiều công để định đúng vị trí
của hoa. Cho đến hiện tại có khoảng hơn 25 000 loại lan sống
ở các vùng ôn đới cũng như nhiệt đới, nhưng đa số sống ở
vùng nhiệt đới vì nơi đây khí hậu thích hợp hơn. Mỗi năm
khoảng 100 loại lan mới được tìm thấy và hệ thống hóa. Trong
giới hoa thơm cỏ lạ, có thể nói hoa lan là loài hoa thường
được tìm thêm giống mới nhứt, có nhiều loại cùng nhiều dạng
nhứt và sống ở môi trường thật đặc biệt. Có loại lan rễ mọc
trong đất như lan ở vùng Trung Âu, loại nầy rất hiếm ở vùng
nhiệt đới. Nhưng thường lan sống gởi, tức là rễ không mọc
trong đất mà gốc chỉ tựa lên trên ngọn, thân cành cây lớn ở
các chỗ có nhiều chất xốp do vỏ cành cây chết mục ra. Tuy
nhiên cũng có loại lan sống bám hẳn vào các cây khác. Đa số
lan sống ở nơi ngọn cây cao để dễ tiếp nhận ánh sáng cần cho
sự sống.
So với cây cỏ thông
thường, lan là loài cây rất thích ứng với môi trường sống.
Vào mùa nắng với những ngày ít hoặc không mưa, lan không bị
nguy hiểm trước sự thiếu nước nhờ có những đặc tính giống
như các cây ở vùng sa mạc. Loại lan nầy có lá thật dầy, loại
lan kia có củ ở dưới gốc; đó là những nơi dự trữ nước. Có
loại lan khác giảm sự tăng trưởng của lá để tránh sự bốc hơi
nước và lá trên thân chỉ còn là những vảy nhỏ. Bù lại loại
lan nầy có rễ thòng trong không khí. Rễ được bao bọc bởi một
lớp tế bào lớn, lớp nầy có đặc tính hút và trữ nước nhiều
trong một thời gian ngắn. Ngoài ra nhờ tính trong suốt của
lớp tế bào đó, ánh sáng có thể xuyên qua và vào những mô bào
của rễ, nơi xảy ra hiện tượng lục hoá (Photosynthese), thay
vì hiện tượng nầy xảy ra trên lá. Hiện tượng „de Saussure“
sau đây cũng xác nhận thêm sự thích ứng môi trường sống của
cây lan. Để nước của cây lan không bị bốc hơi nhiều, đó là
điều nguy hiểm cho lan trong mùa hạn hán, những lỗ thông hơi
(Poren) của lá lan được mở ra vào ban đêm thay vì ban ngày
như ở những cây khác, và lan hấp thụ thán khí (CO2), tích
trữ đến sáng hôm sau để dùng cho hiện tượng lục hóa, hiện
tượng nầy chỉ xảy ra ở ban ngày để tạo chất dinh dưỡng cần
thiết cho cây.
Trong đời sống của hoa
lan, côn trùng đóng vai trò không kém phần quan trọng. Câu
ngụ ngôn „Có qua có lại mới toại lòng nhau“ có lẽ được Lan
áp dụng đúng nhất. Thật vậy, như để thưởng công cho các ong
bướm giúp lan trong việc thụ tinh phấn hoa, lan đền ơn lại
bằng những mật hoa ngọt ngào. Ngoài hoa lan, không có một
loại hoa nào khác có cách cấu tạo, cách sắp xếp những cơ
quan thụ tinh rất độc đáo khéo léo để tạo điều kiện thuận
lợi cho côn trùng va chạm, truyền rải phấn hoa. Sự liên hệ
giữa những côn trùng và các loại lan rất mật thiết: có bao
nhiêu loại lan thì cũng có bao nhiêu loại côn trùng thích
hợp, và người ta không khỏi thắc mắc, côn trùng đổi dạng từ
từ cho thích hợp với dạng hoa lan hay ngược lại.
Đâu là nguyên nhân, đâu là hậu quả? Đến nay,
điều nầy vẫn chưa được giải thích rõ ràng. Sau đây chúng ta
hãy xem vài sự liên hệ ngộ nghĩnh đó.

Angraecum
sesquipedal
Vào
thế kỷ 19 người ta tìm thấy loại lan Angraecum sesquipedal,
hoa nầy có ống chứa mật dài 15 cm và Charles Darwin đoán
rằng phải có một loại côn trùng đặc biệt nào đó với một cái
vòi dài để hút được mật nầy. Thật vậy, đó là loại bướm đêm
Xanthopan morgani. Trong trường hợp nầy, các khoa học gia
giải thích qua sự hiện tượng sậu biến (Mutation), cho rằng
bướm đêm Xanthopan morgani phải trải qua bao nhiêu thế hệ,
thay đổi dần dần dạng vòi hút, để cuối cùng có vòi thích hợp
với hoa lan nầy. Ở trường hợp khác, loại lan Gongora
maculata, có dạng hoa rất phức tạp, phần trên của hoa có
hình như cái chun rượu chúi miệng xuống, trong phần nầy có
chứa mật lẩn với rượu. Những con ong sau khi hút mật xong,
say rượu, té xuống đúng vào cánh hoa nằm phía dưới, nơi đây
có chứa cơ quan thụ tinh phấn hoa. Trong khi say lăn lộn,
ong đã vô tình làm những phấn hoa của hoa khác đang mang
trên mình dính vào nhị cái của hoa lan nầy. Mặt khác về sau,
khi tỉnh giấc say, ong lại mang những phấn hoa của hoa nầy
bay sang hoa khác, vô tình tạo ra hiện tượng trao đổi yếu tố
di truyền giữa những loại lan với nhau và như thế, dần dần
gây ra một loại lan thích hợp với hình dạng và thói quen hút
mật của ong nầy. Ở đây chúng ta thấy hoa thích ứng lần với
ong, khác với trường hợp đầu, ong biến đổi dần để hợp với
dạng hoa. Riêng, ở loại lan „ong“ (Bienenorchideen), hoa có
cách cấu tạo rất độc đáo. Cánh hoa nằm phía dưới có dạng và
màu giống như phần bụng của con ong cái loại
Langhorn-Bienen. Đặc biệt hoa còn tiết ra mùi hương giống
như như mùi kích thích sinh dục (Sexualduft) của ong cái.
Các chú ong đực Langhorn-Bienen tưởng lầm, bay đến và đậu
lên, vô tình đụng đầu vào túi phấn hoa, và khi bay sang hoa
khác mang phấn hoa nầy theo, giúp cho sự thụ tinh phấn hoa ở
cây lan tới.

Gongora
maculata
Ngoài
côn trùng, gió cũng góp phần vào đời sống hoa lan. Nhờ gió
các hạt giống lan tung bay ra bốn phương trời. Những hạt
giống (Samen) nầy rất nhỏ như những hạt bụi. Các bạn có thể
tưởng tượng khoảng hai chục ngàn hạt giống mà chỉ có trọng
lượng bằng một gram và một quả hạt giống (Fruchtkapsel) có
thể chứa ba triệu hạt. Vào mùa mưa, khi điều kiện cho sự nẩy
mầm thích hợp, những hạt giống từ quả (Fruchtkapsel) cây mẹ
bay ra như những vần mây bụi nhuyễn. Các hạt giống nhẹ, nhỏ
và không có chứa chất dinh dưỡng nầy, trong thời gian đầu,
sau khi rớt xuống, phải sống cộng sinh (Symbiose) với một
loại nấm thích hợp để nhờ nấm nầy cung cấp chất dinh dưỡng
cho hạt giống tăng trưởng.
Nghĩ
đến hoa lan, chúng ta có thể sẽ tự hỏi, vì sao và khi nào
lan của miền nhiệt đới xuất hiện ở Âu châu nầy? Theo sự tìm
hiểu, ta nhận thấy đầu tiên các khoa học gia nhất là thực
vật gia sưu tầm những cây lạ qua những chuyến khảo cứu của
họ. Cho đến năm 1769 ông sĩ quan Louis Antoinne Bougainville
làm một chuyến đi thuyền buồm vòng quanh trái đất cùng với
sự tháp tùng của thực vật gia triều đình Pháp Philibert
Commerson và mang về những cây đặc biệt của vùng Nam Mỹ.
Những cây lạ nầy được giới quí tộc ở Âu châu và giới mới
phát giàu chú ý đến vì họ muốn trang điểm các dinh thự và
vườn tược của họ cho đẹp thêm. Dưới mắt giới nầy, một loại
hoa đặc biệt, đẹp, quí phái và hiếm có thỏa ứng lý tưởng cho
tiêu chuẩn của gia cấp họ: đó là hoa lan. Federik Boyle, một
nguời Anh vào thời đó đã ghi trong sách viết về hoa lan của
ông:“Hoa lan sở dĩ được tạo hóa tạo ra chỉ để làm vui cho
một nhóm người đặc biệt của thời đại nầy“. Vào thời đó, nam
cũng như nữ đều thích cài hoa lan trên áo và nhất là vào
những dịp tiệc tùng lễ lộc, họ đua nhau cài những đóa hoa
lan lạ về màu sắc cũng như về hình dạng vì „nhìn hoa phân
biệt được gia cấp“. Hoa lan với tên Hy lạp là Orchis có
nghĩa là ...“ngọc hành“. Nếu giới quí phái thời đó nghĩ đến
tên nầy, không biết người ta còn dám tranh nhau cài áo
không? Một thoáng nhìn về phía cạnh văn hóa. Vào năm 289
trước Thiên Chúa giáng sinh, ông Theophrast, một triết gia
Hy lạp, đã viết về hoa lan với tên Orchis trong quyển
Historia plantarum. Theo ông, tinh chất lấy từ rễ hoa lan có
tác dụng kích thích sinh lý; do đó ông đặc tên lan là Orchis
(ngọc hành). Bài viết về hoa lan của ông được dịch ra tiếng
Anh vào thời nữ hoàng Victoria, nhưng bà đã ra lịnh phải
gạch bỏ hoặc thay các đoạn tả chân quá lộ liễu bằng những
dấu chấm. Ngược lại đối với người Trung hoa, hoa lan tiêu
biểu những đặc tính tốt đẹp nhất của con người và lấy những
loại lan mọc trên cao dùng làm món canh để tăng sinh lực.
Ngoài ra cũng nên nhớ rằng người Trung hoa là người đầu tiên
đã tả về hoa lan.

Monochaetum
guatemalense
Trở
lại vấn đề. Sau chuyến đi của Bougainville, thuở ấy ở Âu
châu hoa lan được nhiều người ái mộ, nên loại lan nào càng
mới càng đắt giá, do đó hoa lan trở thành món hàng xa xí
phẩm đắt giá. Vì người ta chưa biết rõ về sự sanh sản và
cách trồng hoa lan, nên vào thời nầy muốn có hoa lan chỉ còn
một cách là làm những chuyến mạo hiễm trong rừng sâu. Nếu
dựa vào tiêu chuẩn thực vật học, thế kỷ 19 là thế kỷ của
những người tìm hoa lan. Vì huê lợi, người ta không ngần
ngại trước những hiểm nguy, cực khổ, bịnh tật, thiệt mạng
chờ sẵn trong rừng sâu còn hoang dại ở Mỹ, Phi và Á châu.
Walter Davis, một người Anh đã đi bộ xuyên qua rặng
Kordillieren (Anden) ở Nam Mỹ trên độ cao băng giá 5000 m,
đi dọc theo giòng sông Amazonas từ đầu nguồn đến cuối nguồn
và tìm được rất nhiều lọai lan. Gustave Wallis, người đồng
hương của ông Davis, làm cuộc hành trình cũng như ông, nhưng
đi ngược hướng lại và bị thiệt mạng ở Ecuador vì bịnh sốt
vùng nhiệt đới. Người thành công nhất trong cuộc tìm các
loại lan phải nói là ông Benedict Roezl, một người
Tiệp-khắc. Vùng tìm hoa lan của ông là vùng già rừng nhiệt
đới ở Trung và Nam Mỹ. Tài tìm lan của ông làm những người
cạnh tranh phải thán phục và ông đã giao cho những người đặt
hàng cả tấn hoa lan đủ loại. Trong việc tìm ra những giống
lan mới, ông là người đã góp công nhiều cho khoa học.
Bendedict Roezl, không chỉ là một nhân tài trong lãnh vực
nầy, mà cũng còn gặp được nhiều dịp may. Chẳng hạn, có lần
ông và một người dẫn đường bản xứ đi tìm hoa lan trong rừng
sâu ở Kolumbien. Sau một trận mưa lớn, ghe ông tình cờ qua
mặt một cây tróc gốc trôi sông. Trên cây có đủ các cây sống
gởi và có luôn loại lan Monochaetum với cánh hoa đỏ mịn
màng, loại lan mà ông đi tìm cả tháng qua chưa được.
Cũng
nên nói thêm rằng vào thời đại ấy vì vấn đề cạnh tranh nhau
trong việc tìm hoa lan, nên để giữ bí mật chỗ tìm thấy hoa
lan mọc, người ta tự vẽ bản đồ và ghi đường đi nước bước
bằng những dấu mật mã, hoặc cố ý phổ biến những bản đồ sai
để đánh lừa những người khác. Thành công, thất bại, vui buồn
lẫn lộn trong các cuộc mạo hiểm tìm „người đẹp của rừng
thẳm“, những cuộc mạo hiểm nầy được kể lại nhiều như hàng
ngàn loại hoa lan.

Hoa
lan không phải là loại hoa có từ ngàn năm xưa như hoa hồng,
nhưng với vẻ đẹp trang nhã, thanh tao và mùi hương dịu ngọt,
lan đã tô điểm thêm cho hạnh phúc con người như qua lời của
lan Venusschuh màu vàng:“Tình yêu của chúng ta khởi đầu
cho con đường hạnh phúc của cuộc đời chúng ta“. Phải
chăng vì vậy mà hoa lan rất ít vắng mặt trong những ngày lễ
thành hôn.
Trở về Trang Chính
|