Trong vấn đề khảo cứu bịnh ‘xốp não’
gây bởi Prion, giáo sư David Westaway mới đây cho
biết:”Từ mấy thập niên qua chúng ta tin rằng PrP là
Protein thần kinh duy nhất, khi bị biến thái cấu
trúc/xếp lại có hình dạng bất thường, gây nên bịnh ‘Xốp
não’: Ai cũng tin như thế và vậy là hết chuyện! Quan
diểm nầy hiện tại không đúng nữa. .... Nhóm nghiên cúu
của chúng tôi đã định được một ‘Prion Protein’ thứ hai
có tên gọi ‚Shadoo Protein’ bên cạnh ‘Prion
Protein PrP’ đã được biết rõ từ lâu. ......For decades
we believed PrP was a unique nerve protein that folded
into an abnormal shape and caused prion disease: end of
story. This view is no longer accurate. ....Our team has
defined a second prion protein called Shadoo, that
exists in addition to the well-known prion protein
called PrP”. Đó là lời tuyên bố của vị Giám đốc/director
of the Centre for Prions and Protein Folding Diseases at
the University of Alberta trong Medical Research News,
19-Aug-2007+1). Phát kiến nầy bổ túc thêm cho
sự hiểu biết về tính gây bịnh của PrP, đặc biệt PrPsc.
Trong tinh thần “ôn cố tri tân” bài sau đây ghi lại đôi
nét về tính chất của Prion, đặc biệt trong việc gây bịnh
...Bò Điên/Mad Cow Disease.
Cách đây không lâu vấn đề BSE làm xáo động cả Âu châu.
Trước kia những xứ Đức, Áo, Ý,
vv.. cứ ngỡ rằng bò xứ mình không bị bịnh, nhưng từ cuối
năm 2000 hiện tượng BSE cũng xuất hiện ra trong các xứ
nầy. Nghĩ đến BSE tôi liên tưởng đến những trận đấu bò ở
Tây Ban Nha mà màn cuối cùng lúc nào cũng là anh chàng
Torero hùng dũng chào khán giả với cái hãnh diện của
người thắng trận. Nhưng bên Đức nầy ngược lại, trong
''trận đấu với bò'' vào năm 2001, bò lại thắng người,
bằng chứng là hai bộ trưởng Y Tế và Canh Nông bị bò ''đá
văng'' ra khỏi ghế bộ trưởng. Đùa chút cho vui chớ thật
sự vì vụ BSE khiến hai vị Bộ Trưởng nầy từ chức+2)
Danh từ BSE hiện tại đã quá quen thuộc với chúng ta -ít
ra những người ở Đức- vì đề tài nầy, trong những năm
đầu 2000, hầu như mỗi ngày đều có mặt trên báo chí.
Nhưng...
BSE là gì?
Cuối năm 1984 lần
đầu tiên bịnh nầy được một thú y tìm thấy ở một con bò
vùng West Sussex nước Anh. Sau đó nhiều bò khác cũng bị
cùng bịnh và chết, vì vậy người ta đem những xác bò bịnh
nầy đi khám nghiệm tại Central Laboratory ở Weybridge
gần Luân Đốn, và nhận thấy não bộ của chúng xốp như
éponge (Schwamm). Tên BSE phát xuất từ đó, viết tắt từ
: Bovine Spongiforme Encephalopathie,
dịch sát nghĩa là bịnh ''Xốp Não Bộ của Bò''. Báo chí
Đức thường gọi bịnh nầy là ''Rinderwahn'' tức là Bịnh Bò
Điên, thật ra không đúng vì bò bị bịnh chớ không phải
...điên.
Khi bò bị bịnh BSE
thì có những triệu chứng sau đây: sợ sệt, bất ổn, khích
động (aggressiv), bắp thịt run rẩy, không kiểm soát được
chân cẳng, đi đứng không vững, ngã quỵ xuống đất, cuối
cùng nằm liệt cho đến khi chết. Khi đã bộc phát, bịnh
làm suy nhược rất nhanh và kéo dài khoảng một đến năm
tháng. Nếu quan sát não bộ bò bịnh dưới kính hiển vi,
người ta sẽ thấy não giống dạng như một éponge/Schwamm
có nhiều lỗ hổng nhỏ. Những triệu chứng của bò bị BSE
cũng giống như bịnh Scrapie ở loài cừu, một bịnh được
biết từ thế kỷ 18. Ở người ta, bịnh hư não bộ tương tự
là bịnh Kuru và bịnh Creutzfeldt-Jacob-Krankheit (CJK)
cũng như Creutzfeldt-Jacob-Krankheit loại mới
(nvCJK=neue Variante der Creutzfeldt-Jacob-Krankheit).
CJK được viết tắt từ Creutzfeldt-Jacob-Krankheit.
Năm 1920 hai vị bác sĩ Hans G. Creutzfeldt và Alfons M.
Jacob đã tìm ra bịnh nầy. Bịnh CJK cổ điển ở người ta
xảy ra rất hiếm với tỉ số chỉ khoảng 0,5 đến 1 phần
triệu và đa số ở những người lớn tuổi. Ngược lại số bịnh
nhân của bịnh nvCJK phần nhiều thuộc giới người trẻ.
Người ta phỏng đoán những người trẻ bị bịnh vì đã tiêu
thụ những sản phẩm có thành phần bò bịnh nên bị lây.
Ngoài người ta, bò và cừu, các loại thú khác như mèo,
chó, chuột, khỉ vv.. cũng có thể bị bịnh hư não bộ tương
tự. Danh từ tổng quát để chỉ các bịnh hư não bộ trên là
Transmissible Spongiforme Encephalopathie
(Bịnh Xốp Não Bộ Truyền Tiếp) được viết tắt là TSE.
Bịnh BSE gây ra
bởi siêu vi khuẩn (Virus) hay vi trùng
(Bakterien)?
Không, bịnh BSE
không phải do siêu vi khuẩn hay vi trùng mà lại do một
chất đặc biệt gọi là Prion. Theo kết quả sau bao nhiêu
năm khảo cứu của các khoa học gia, Prion thuộc nhóm chất
đạm (Protein) có trong cơ thể sinh vật. Nhưng ta phải
phân biệt hai loại Prion: Prion lành viết tắt là PrPc (Prion-Protein
cellular = Chất Protein Prion có trong tế
bào, cơ thể) và Prion bịnh viết tắt là PrPsc (Prion-Protein
scrapie=Chất Protein Prion gây bịnh Scrapie).
Loại PrPc được xem
là thành phần chất đạm/Protein của tế bào não bộ, nằm ở
ngoài mặt các tế bào thần kinh và có lẽ đóng vai trò
trong sự chuyển vận những kích thích (Reizüber-
mittlung). Các Prion lành nầy được cơ thể làm thoái hóa.
Loại PrPsc ngược
lại không bị thoái hóa bởi cơ thể, nằm đóng lớp trên tế
bào thần kinh và làm tế bào nầy chết dần. Sự hiện diện
của PrPsc từ đâu phát sinh ra vẫn còn là đề tài khảo
cứu. Có lẽ Prion PrPsc được tạo lập do sự sậu biến yếu
tố di truyền (Genmutation). Hiện tại người ta biết rõ
yếu tố di truyền (Gen) bị sậu biến (mutiert) nầy nằm ở
nhiễm thể (Chromosom) thứ 20, nhưng nguyên nhân sậu biến
vẫn chưa được biết chính xác. Mặt khác PrPsc cũng có thể
được tạo nên do sự biến dạng của PrPc lành thành bịnh
khi bị lây/khi tiếp xúc với PrPsc.
So với PrPc lành,
PrPsc bịnh có hình dạng cấu tạo khác qua sự thay đổi vị
trí của các acít amin (Aminosaeuren -> chất cơ bản tạo
lập Protein cũng như Prionprotein). Chính vì sự cấu tạo
nầy khiến cho PrPsc có tính chất bền vững khó bị hủy
diệt. PrPsc độ đối kháng rất cao đối với diếu tố
(Enzyme), nhiệt và thuốc diệt trùng. Ngay cả rượu và tia
tử ngoại (Ultraviolett) cũng không có hiệu lực. Chỉ có
acít hay base đậm đặc hoặc dung dịch có chất Chlor mới
hủy diệt được. Ngoài ra PrPsc có thể tồn tại nhiều năm
trên mặt đất.
Điều đặc biệt là
PrPsc không mang tính yếu tố di truyền, không có thành
phần acít nucleic/Nukleinsaeure (-->hoá chất định yếu tố
di truyền trong việc sinh sản, truyền giống) mà

vẫn bành
trướng/phát triển và truyền bịnh được. Sự kiện nầy gây
đảo lộn trong lãnh vực bịnh lý học, vi trùng
học, độc tố học, bởi từ xưa đến nay người ta cho rằng
bịnh truyền nhiễm được gây ra là do vi trùng hay siêu vi
khuẩn vì hai loại nầy có chứa yếu tố di truyền nên mới
sinh sôi bành trướng và truyền bịnh được.
Nói về Prionen,
phải nhắc đến bác sĩ Mỹ tên là Stanley Prusiner. Vào năm
1972 một bịnh nhân của ông chết vì bịnh CJK. Ông muốn
tìm hiểu sâu thêm trong vấn đề nầy nên đã sưu tầm tài
liệu và ông tìm thấy một bài của Charles Gajdusek và
Vincent Zigas viết vào năm 1957 về bịnh Kuru (der
lachende Tod=''Chết vì Cười'') của một nhóm dân thiểu số
Fore ở vùng Papua-Neuguinea. Hai ông nầy nhận thấy, một
thời gian ngắn sau khi phát bịnh những bịnh nhân Kuru tự
nhiên bỗng dưng phát cười mà không nín được và tiếp đó
những triệu chứng của bịnh CJK phát hiện. Theo Gajdusek
và Zigas nguyên nhân của sự lây bịnh nầy đi từ tục lệ
của nhóm thiểu dân Fore, họ ăn não bộ của người chết nên
bị lây nếu người chết bị bịnh. Ý nghĩ nầy kích động
Prusiner và ông khảo cứu tiếp nhiều năm về giả thuyết
''Yếu tố gây bịnh Scrapie không có chứa chất di truyền''
(Hypothese der Erbsubstanzlosigkeit des
Scrapie-Erregers). Ông phỏng đoán rằng nguyên nhân gây
bịnh là do một chất thuộc nhóm Protein và ông đặt tên là
''Proteinous Infectious Particle'' (Mảnh/hạt/đoạn/phần
Protein truyền nhiễm) gọi tắt là Prion-Protein
(PrP). Năm 1982 ông công bố thuyết nầy lên Đặc San Khoa
Học Mỹ, nhưng ban đầu không được các khoa học gia trên
thế giới chấp nhận. Mãi về sau, qua bao nhiêu năm dài
khảo cứu người ta vẫn không tìm ra được siêu vi khuẩn
nào gây ra bịnh nầy nên giả thuyết về Prion của ông mới
được công nhận. Thành quả tốt đẹp của sự khảo cứu đó
mang đến cho ông giải Nobel về y khoa năm 1997.
Bịnh BSE truyền
nhiễm như thế nào?
Trở lại chuyện BSE
ở bò. Người ta phỏng đoán bịnh BSE được truyền đi do
bột thịt dùng làm thực phẩm gia súc (Tiermehl) biến chế
từ xác cừu, bò, gà, vịt,... Để làm bột thịt người ta
phải nghiền nát, đun nóng, khử trùng, làm khô nguyên
liệu. Ở Anh, từ năm 1972, bột thịt thay vì được đun nóng
ở 130 độ (Celcius), người ta giảm xuống chỉ còn 80 độ
(để bớt phí tổn năng lượng), do đó những Prion bịnh của
những cừu bị bịnh Scarpie dùng làm bột thịt không bị hủy
diệt được, và như vậy khi bò ăn thực phẩm có chứa bột
thịt nầy, những Prion bịnh xâm nhập vào cơ thể, lên não
bộ, bám vào những Prion lành ở các tế bào thần kinh,
biến đổi các Prion lành thành bịnh và cứ thế với phản
ứng dây chuyền. Prion bịnh không thoái hóa được, khiến
các tế bào thần kinh không nhận đủ chất dinh dưỡng, chết
đi tạo thành những lỗ hổng và não có dạng như éponge.
Sự di chuyển của
Prion từ cơ quan tiêu hóa lên não như thế nào thật sự
người ta cũng chưa biết rõ, chỉ thấy Prion bịnh có nhiều
ở não bộ và tủy sống, ở hạch bạch huyết, lá lách (Milz),
màng ruột, võng mô mắt (Netzhaut) cũng như ở hạch cổ
họng (Mandel). Thời gian gần đây một số rất ít Prion
không đáng kể được tìm thấy trong thịt và trong máu của
bò bịnh.
Nói về thời gian
từ khi bị nhiễm cho đến khi phát bịnh người ta cũng chưa
xác định được mà chỉ phỏng định từ năm đến bảy năm. Để
biết bò nào bị bịnh, hiện tại có nhiều phương pháp khám
nghiệm gọi là BSE-Test, nhưng trước khi đó phải giết bò
vì cần những mô (Gewebe) của não bộ để thử.
Trong vấn đề
truyền nhiễm bịnh, một điều tối quan trọng mà chắc ai
cũng muốn biết là bịnh BSE của bò, bịnh Scrapie ở
cừu,... có lây cho người ta không? Câu trả lời chính
xác của các khoa học gia là bịnh Scrapie không truyền
sang người ta được. Nhưng về bịnh BSE chưa có thể trả
lời rõ ràng được, vì việc khảo cứu về vần đề nầy còn
đang tiếp diễn. Dựa vào sự biến dạng giống nhau ở não bộ
của bò bị BSE và bịnh nhân CJK hay nvCJK, nên hiện nay
người ta ban hành những biện pháp cấm xử dụng não bộ,
tủy sống, ruột,.. với tính cách phòng ngừa.
Để tìm hiểu sâu
hơn, có lẽ chúng ta cần trở lại sự thành hình của Prion.
Prion được tạo lập định bởi yếu tố di truyền đặc thù
(Gen Prnp) và do đó Prion giữa các loài cừu, bò, người
ta,.. khác nhau. Đến hiện tại người ta biết rõ rằng giữa
Prion cừu và bò chỉ khác nhau ở 7 vị trí, ngược lại
Prion của bò và người khác nhau đến 30 vị trí. Trên
nguyên tắt, nếu sự khác biệt giữa những Prion càng nhiều
thì sự lây bịnh với nhau sẽ càng khó khăn hơn và ngược
lại. Điều khó truyền bịnh giữa những Prion khác nhau
được các khoa học gia gọi là sự ''ngăn chận đặc thù tùy
giống, tùy loại'' (Art- oder Spezies-Barriere). Chính vì
vậy bịnh Scrapie ở cừu dễ lây sang bò (Prion gần giống
nhau); ngược lại trên bình diện sinh hóa học bịnh BSE
khó có thể lây sang người ta được (Prion khác biệt
nhau). Nhưng có ai dám bảo đảm rằng sự ''ngăn chận đặc
thù'' trên có tính cách hoàn hảo, vì biết đâu có những
trường hợp ngoại lệ xảy ra. Chính vì nghi vấn đó mà đa
số cho rằng bịnh nvCJK ở người là do bò BSE gây ra và
giả thuyết nầy được hỗ trợ thêm qua con số bịnh nhân
nvCJK ở Anh 88 người và ở Pháp 3 người, những xứ đồng
thời cũng có bò bịnh BSE cao.
Dầu vấn đề BSE còn
nhiều nghi vấn, nhưng ngừa bịnh vẫn tốt hơn là trị bịnh/
''bị bịnh'', và như vậy nếu tránh được những gì dính líu
đến BSE cũng nên tránh. Trong ý nầy, chúng ta nên để ý
đến những những sản phẩm có thành phần bò sau đây:
1.
Sữa
bò, frommage (Kaese), Sahne, Joghurt không có Gelatin:
theo những nhận định cho đến nay thì hoàn toàn không
nguy hiểm. Thịt bò cũng được xem là không nguy hiểm vì
ngay nếu có Prion được tìm thấy ở thịt thì cũng rất ít,
không có gì đáng ngại
2.
Thuốc men
a)
Vài
loại thuốc có vỏ bọc bằng Gelatin lấy từ bò (nhưng ở Đức
90% Gelatin lấy từ xương heo)
b)
Một
vài thuốc ngừa, thí dụ thuốc ngừa chống bịnh bại trẻ em
(Kinder- laehmung) hay Röteln , được điều chế với Serum
bò con dùng làm môi trường nuôi dưỡng cho Zellkulturen
3.
Gelatin phần đông được lấy từ xương hay sản phẩm phế
thải từ lò sát sinh (Schlachtabfallprodukte). Gelatin có
trong Joghurt, trong các món ăn ngọt làm sẵn cũng như ở
Gummibaerchen
4.
Mỹ
phẩm: Kem để chống vết nhăn (Antifaltenkreme) và kem
thoa môi (Lippenstifte)
5.
Cục
nêm súp (Brühwürfel): Ở Đức từ năm 1996 chỉ được dùng
những vật liệu từ bò không bị BSE
6.
Ruột, não, tuỷ sống, mắt và hạch cổ họng (Mandel) bị cấm
không được dùng làm thực phẩm kể từ 1.10.2000.
Trong vấn đề
BSE/TSE nầy còn nhiều câu hỏi mà đến nay các khoa học
gia chưa giải thích được hết. Nhiều công trình khảo cứu
còn phải được tiếp tục cũng như phải cần thời gian lâu
dài. Hy vọng đến một ngày nào đó''sự thử thách mới nầy
của tạo hóa'' sẽ được các khoa học gia giải đáp rõ ràng,
để vấn đề được sáng tỏ và chúng ta có thể an tâm thưởng
thức những tô phở béo thơm mà không như bây giờ phải
phân vân ''nuốt vô sợ ...bịnh, nhả ra... phí tiền''.
Đức Quốc, soạn lại mùa
đông 2007
Phụ chú:
+1) Shadoo
Protein (Sho), một Protein giống như ‘Prion Protein tốt’
(=PrPc), có tính bảo vệ tế bào thần kinh
(neuroprotective). Ở chuột bị bịnh gây bởi Prion, lượng
Sho bị giảm mất. Điều nầy chứng tỏ sự thiếu hụt Sho liên
quan mật thiết với sự bị bịnh xốp não.
+2) Vì vấn đề
BSE ông K.H. Funke, Bộ trưởng Bộ Canh Nông trong nội các
của Kanzler/Chancellor G. Schröder ở Đức, cũng như bà A.
Fischer, Bộ trưởng Bộ Y Tế, đã phải từ chức ngày
9.01.2001
+3) Quá trình
diễn tiến BSE ở Âu Châu/Đức:
1732 Bịnh Scrapie ở cừu lần đầu tiên được
ghi nhận
1920 H.G.Creutzfeldt và A. Jacob trình
bày một bịnh hư não bộ ở người ta, bịnh
''Creuztfeldt-Jacob-Krankheit'' (CJK)
1960-1970
Nhiều thí nghiệm cho thấy, qua thực phẩm bịnh Scrapie ở
cừu có thể truyền sang dê, chuột và con bọ (Hamster)
22.12.1984 Bò
mang số ''133'' ở Sussex (Nam Anh Quốc) bị bịnh và chết
6 tuần sau đó bởi bịnh ''Xốp Não Bộ'' (spongiforme
Enzelopathie). Bò nầy được xem là bò BSE đầu tiên
11/1987
Thí nghiệm cho thấy BSE có thể truyền sang chuột
18.07.1988 Ở
Anh bột thịt (Tiermehl) bị cấm không được dùng làm thực
phẩm cho bò
09.02.1988
Theo bản tường trình ở Anh, bịnh BSE không nguy hiểm cho
loài người
1990 BSE được xác nhận ở Thụy Sĩ
16.05.1990 Cơ
quan Y tế Anh tuyên bố, thịt bò Anh lành mạnh
6/1990
BSE được xác nhận ở Bồ Đào Nha
28.02.1991
BSE được xác nhận ở Pháp
1992 6 bò bịnh BSE ở Đức được phát hiện,
nhưng tất cả là bò xuất xứ từ Pháp và Thuỵ Sĩ
1992-1993 Số
bịnh BSE ở Anh đạt đến cao điểm nhất. Đến năm 2000 trên
170000 trường hợp bịnh BSE được ghi nhận ở Anh. Dầu vậy
nhà cầm quyền Anh vẫn tuyên bố thịt bò Anh luôn luôn
lành mạnh
6/1994
Nhiều thí nghiệm minh chứng sự lây bịnh BSE ở bò đi từ
thực phẩm
21.05.1995
Một thanh niên người Anh 18 tuổi là người đầu tiên chết
vì bịnh CJK loại mới (neue Variante der
Creutzfeldt-Jacob-Krankheit=nvCJK). Đến tháng 11.2000
nhà cầm quyền Anh công bố 85 trường hợp bịnh nvCJK
3/1996
Ủy Ban Anh cho rằng có sự liên hệ giữa bịnh BSE và nvCJK
1997 Nhiều trường hợp BSE được ghi nhận ở
Lục Xăm Bảo, Hòa Lan và Bỉ
6/2000
Ủy Ban Điều Hành Cộng Đồng Âu Châu
(EU-Lenkungsausschuss) tuyên bố Đức thuộc vùng có hiểm
hoạ BSE và bị sắp hạng nguy hiểm ngang như Pháp cũng như
Thụy Sĩ. Bộ Canh Nông Đức tuyên bố ngược lại: Đức vẫn là
xứ không có BSE
1.10.2000
Cấm dùng những sản phẩm nguy hiểm từ bò, dê và cừu ở
toàn thể Âu Châu, đó là não, tủy sống, mắt và hạch cổ
họng (Mandel)
11/2000
Khủng hoảng ở Pháp vì sự phát hiện BSE: trên 100 bò BSE
được tìm ra qua phương pháp khám nghiệm mới và 3 người
Pháp bị bịnh nvCJK. Chánh phủ Anh cho rằng số người bị
bịnh nvCJK ở Âu Châu có thể lên đến 250000 người. Nhà
cầm quyền Đức vẫn còn cho rằng Đức là xứ không có BSE
26.11.2000 Bò
BSE được xác nhận chính thức lần đầu tiên ở Đức
1.12.2000
Luật cấm dùng bột thịt cho mọi gia súc được thông qua
bởi Hạ và Thượng Viện Đức. Bộ Trưởng bộ Y Tế (Andrea
Fischer) ra nghị định phải khám nghiệm mọi bò làm thịt
có tuổi trên 30 tháng. Nghị định có hiệu lực kể từ
6.12.2000.
19.12.2000
Tổng số bò BSE được phát hiện ở Đức lên đến 5
9.1.2001
10 trường hợp BSE ở Đức được xác nhận. Hai Bộ trưởng ở
Đức, ông Funke (Canh Nông) và bà A. Fischer (Y Tế) từ
chức
đến 2/2001 Cả
thảy có 36 trường hợp BSE được ghi nhận ở Đức.
2003 Toàn thế giới có khoảng 1646 BSE
được ghi nhận. Riêng ở Đức có 54 trường hợp BSE
2004 Toàn thế giới chỉ còn khoảng 878 BSE
được ghi nhận. Riêng ở Đức có 65 trường hợp BSE
2005 Toàn thế giới chỉ còn khoảng 474 BSE
được ghi nhận. Riêng ở Đức có 32 trường hợp BSE
2006 Ở Đức 16 BSE được ghi nhận.