|
Ở
miền quê, khi hoàng hôn xuống, lúc trời bắt đầu nhá nhem
tối, người ta thường thấy những đốm sáng lập lòe của các con
đom đóm trên hàng cây bụi cỏ. Hay nếu có dịp mạo hiểm trong
rừng già ở Sumatra người ta sẽ thấy một loại nấm có dạng như
những chiếc nón nhỏ tỏa ra ánh sáng màu xanh lá cây huyền
bí, khuyến dụ các côn trùng đến để mang những bào tử nấm
(Sporen) lan truyền đi xa, vì nấm nằm ở vị trí thấp trên mặt
đất trong rừng sầm uất không có những luồng gió mạnh để đưa
những bào tử nầy bay đi. Hoặc nếu có cơ hội vào động Waitomo
ở phía bắc Tân Tây Lan, người ta ngỡ mình lạc vào động thiên
thai vì trên trần động giống như được giăng màn lưới với
nhiều sợi dài thòng xuống và tất cả đều chiếu sáng như bầu
trời vào những đêm trời trong đẹp đầy sao. Đó là nơi sinh
sống của sâu con/ấu trùng chiếu sáng (Leuchtlarven) thuộc
một loại muỗi (Pilzmuecke) có tên Arachnocampa luminosa. Các
ấu trùng nầy sống trong những sợi bằng chất nhờn và phần
cuối bụng của chúng có khả năng phát sáng.

Ấu trùng Arachnocampa
luminosa
Phần lớn các sinh vật
đều có khả năng chiếu sáng. Tuy vậy đối với sinh vật sống
trên đất liền, chúng ta nhận thấy chỉ một số rất ít có khả
năng nầy so với những sinh vật sống ở dưới nước. Ở nước mặn,
ở biển đa số quá bán đều có khả năng chiếu sáng, nhưng ở
nước ngọt chỉ có loài ốc độc nhất Latia neritoides ở Tân Tây
Lan phát sáng được mà thôi.
Tài liệu khoa học khảo
cứu cho ta thấy từ loài sinh vật đơn bào (Protozoen) cho đến
đa bào (Metazoen) đều có thể phát ánh sáng. Trong nhóm sinh
vật đơn bào phải nói đến loại giả túc Rhizopoda và chiên mao
Flagellata. Ở loại Rhizopoda (vi sinh đơn bào di chuyển bằng
giả túc như Amöben) đáng kể nhứt là vi khuẩn Radiolaria và
Collozorum inerme. Bên cạnh đó còn có một số loại khác sống
bám vào những chổ trũng của da hay những cơ quan đặc biệt
của các loài mực hoặc cá sống sâu trong lòng biển và làm các
cơ quan nầy chiếu sáng. Hiện tượng đó gọi là „sự chiếu sáng
cộng sinh“ (Leuchtsymbiose) vì vi khuẩn cho mực và cá ánh
sáng để tìm mồi, ngược lại nhận chất dinh dưỡng và dưỡng khí
khi sống bám vào mực/cá.
Nhìn sang nhóm
Flagellata (vi sinh đơn bào di chuyển nhờ một màng mỏng như
cái đuôi) ta phải đề cập đến con „tia sáng ban đêm“
(Nocticula scintillans). Loại nầy sống trên mặt nước biển và
tụ thành từng đàn lớn. Về đêm khi Nocticula bị quấy phá bởi
những làn sóng biển, bởi tàu bè qua lại hoặc bởi những hạt
nước mưa rơi xuống thì hàng trăm hàng ngàn Nocticula sẽ
chiếu sáng lên, tạo nên những làn sóng biển rực rỡ. Đôi khi
những ngọn sóng nầy lan đi và tạt vào các ghềnh đá, văng
tung lên như những tràng pháo bông đẹp tuyệt vời. Một hiện
tượng ngộ nghĩnh đáng nói ở Mosquito Bay, một vịnh ở đảo
Vieques vùng biển Karibik. Ở đây, vào đêm sau khi người ta
tắm biển xong, lên bờ thì cả người sẽ chiếu sáng một màu
xanh da trời hết sức huyền bí; nếu ai không biết chắc sẽ sợ
hãi, còn nếu biết thì chẳng có gì lạ, vì màu đó là do một
loại rong biển chiếu sáng bám vào người khi tắm phát ra.
Rong biển đơn bào nầy rất nhỏ có tên Pyrodinium bahamense
(Panzergeißleralgen) và chiếm khoảng 190000 đơn bào trong
một lít.

Sóng biển với Nocticula
Bước
sang nhóm sinh vật đa bào, đầu tiên nên nói về sứa đêm
Pelagia nocticula, đó là loại sứa sống ngoài biển khơi và về
đêm chiếu sáng như những trái banh có màu trắng hường. Loại
nầy có nhiều ở Đại Tây Dương và Địa Trung Hải. Riêng loại
sứa Rote Rippenqualle, sống trong lòng biển sâu dưới 1000
thước, biết dùng sự chiếu sáng để đe dọa hay đánh lạc kẻ thù
bằng cách phát ra từng dãy sáng khi bị nguy hiểm. Một loại
sứa nhỏ khác có tên Colobonema khi bị tấn công, biết tự hủy
bỏ một phần tua chiếu sáng (Glitzertentakel) của mình để
đánh lừa, làm kẻ thù bận rộn với miếng mồi nhỏ, trong khi
sứa lội mất đi vào bóng tối của lòng biển sâu. Trong nhóm
san hô, Federkoralle có thể phát ra nhiều loại ánh sáng
xanh, trắng, tím hay tím lợt. Ngoài ra Rindenkoralle,
Steinkoralle hay Seerose cũng chiếu sáng rất khá. Ở loài
trùng một số ít cũng có khả năng nầy, như trùng Microscolex
phosphoreus ở miền nhiệt đới hay trùng biển Chaetopterus
variopedatus chiếu sáng xanh đậm hoặc tím đậm. Một hiện
tượng lạ ở loại trùng biển Odontosyllis enopla là cứ mỗi lần
trong một tháng, đặc biệt hai ngày sau trăng tròn và đúng
khoảng 57 phút sau khi mặt trời xuống, từng đoàn trùng cái
sống trong đá san hô lội lên mặt biển, tụ tập thành một vòng
tròn chiếu sáng màu xanh lá cây, khiêu dụ các trùng đực lội
lên để giao hợp. Tại sao trùng có thể định được đúng thời
điểm cho sự giao hợp như vậy đến nay người vẫn không biết
được. Trong loài nhuyễn thể có sò Pholas dactylus, ốc Latia
và ốc Phyllirhoe cũng có đặc tính chiếu sáng. Riêng loài mực
Euprymna scolopes sống ở ngoài biển khơi Hawai chiếu ra ánh
sáng màu xanh da trời. Thật sự khi mới nở ra, mực con
Euprymna không chiếu sáng được, nhưng sau đó mực bắt những
vi sinh chiếu sáng (Leuchtbakterien) bằng các râu (Tentakel)
có lông nhỏ và cho vào cơ quan chiếu sáng của mình.

Pelagia nocticula
Về loài đa túc trước
hết phải kể đến loài tôm Euphansia. Mỗi bên của tôm có năm
cơ quan phát sáng, đó là các điểm tròn nằm ở những chân tôm
thưộc phần ngực và khớp bụng đầu. Riêng loại tôm Nhật
Cypridina hilgendorfi không tự chiếu sáng, nhưng lại tiết ra
hai chất căn bản cho hiện tượng phát sáng và khi hai chất
nầy tác dụng với nhau trong nước ánh sáng sẽ được phát ra.
Một đặc tính khá ngộ nghĩnh của con rít Scolioplanes
scrassipes là khi bị chọc phá nó sẽ phát ra ánh sáng thật
xanh. Ánh sáng nầy do những tuyến chiếu sáng ở phía bụng nơi
các khớp mình có mang chân.
 Sang
đến loại côn trùng, đom đóm có lẻ là côn trùng chiếu sáng
gần gũi với chúng ta nhất với loại đom đóm lớn Lampyris
nocticula và đom đóm nhỏ Phausis (Lamprohiza) spendicula. Cơ
quan chiếu sáng của đom đóm nằm ở phía dưới phần cuối của
bụng và sự chớp tắt được điều khiển bởi hệ thần kinh. Với
khả năng chiếu sáng nầy những nàng đom đóm cái làm dấu hiệu
„tỏ tình“ với các chàng đom đóm đực. Để thực hiện điều nầy,
các nàng Lampyris nocticula không có
cánh tìm mô đất cao mà đậu và cố đậu như thế nào để phơi
bụng ra cho các chàng đom đóm bay trên cao thấy cơ quan
chiếu sáng đó. Trong vị trí khiêu gợi như vậy, đom đóm cái
chớp tắt liên tục thật sáng và chỉ ngừng lại khi chàng đáp
xuống hoặc khi không được các chàng để ý đến và bay luôn. Để
chứng tỏ không thua gì các nàng trong việc tìm lứa đôi,
những đom đóm đực thuộc họ Pteroptyx chiếu sáng ở phần bụng
để làm dấu hiệu kiếm các nàng; và trong rừng ở Borneo, thoạt
tiên người ta thấy lơ thơ đôi đốm sáng trên các cây lớn, rồi
càng lúc càng nhiều, cứ chớp tắt chớp tắt theo chu kỳ đều
đặn. Cách làm ký hiệu cùng lượt của các chàng như vậy thành
công hơn là chớp sáng một mình đơn độc vì các nàng thấy dễ
và sự chiếu sáng tập thể nầy vô tình làm cây rừng sáng ra
trong đêm tối như các cây được treo đèn trong dịp Giáng
sinh.
Trong lòng biển, càng
xuống sâu thì việc sống còn càng khó khăn vì chuyện kiếm mồi
hay chuyện tìm đôi lứa không phải là chuyện dễ. Để tồn tại
các sinh vật phải biến dạng cho thích hợp với môi trường
sống và điều ta thấy rõ nhất là cơ quan chiếu sáng. Ở loài
cá Laternefisch thuộc họ Myctophidae, để dễ nhận diện tránh
sự lầm lẫn ăn thịt cùng giống nhau, những cơ quan chiếu sáng
nằm thành hàng trên mình cá như những vẩy sa cừ có cách sắp
xếp thật đặc biệt tùy từng giống cá. Riêng loài cá
Anglerfisch, vi cá đầu tiên trên lưng (erster Rücken-
flossenstrahl) biến dạng dài ra và thòng đến phía trước
miệng, phần cuối cùng biến thể thành một cục tròn chiếu sáng
giống như cục nhử mồi. Những cá nào khác tò mò đến gần tức
khắc bị làm mồi ngay. Hoàn hảo hơn nữa là ở loài cá
Galathea-thauma, trực tiếp ở vòm khẩu cái (Gaumendach) có
một cơ quan chiếu sáng (Hauptlappen), cá chỉ cần há miệng
rộng, mồi thấy sáng chun vô miệng là bị nuốt luôn. Một vài
loài cá sống dưới biển sâu khác dùng cơ quan phát sáng làm
sáng tỏ nơi sống tối tăm quanh mình để tìm mồi, thí dụ loại
cá thuộc họ Stormiatidae có dạng giống như con lươn dài 30
cm; cá có thể phát ra một lằn sáng màu xanh làm sáng một
khoảng 60 cm trước mặt và những sinh vật khác lọt vào làn
sáng nầy sẽ làm mồi cho cá.
Sau khi biết được
những sinh vật có thể phát sáng, bây giờ chúng ta đi dần vào
cơ nguyên của sự phát ra ánh sáng nầy. Năm 1887 một khoa học
gia người Pháp, ông Raphael Dubois, lần đầu tiên tìm thấy ở
chất nhờn tiết ra từ sò Pholas dactylus hai chất chính đóng
vai trò quan trọng cho hiện tượng phát sáng sinh vật
(Biolumineszenz), đó là chất Luciferin và phân hoá tố
Luciferase. Luciferin còn được gọi là chất mang ánh sáng và
khi tác dụng với dưỡng khí (bị oxýt hóa để phát ra ánh sánh)
cần sự xúc tác của Luciferase. Trong hiện tượng ôxýt hóa
Luciferin, năng lượng được chuyển hóa thành quang năng không
bị mất nhiệt vì vậy ánh sáng phát ra được gọi là ánh sáng
lạnh (kaltes Licht). Ở phản ứng hoá học nầy, sự biến đổi
năng lượng thành quang năng với một hiệu xuất trên 90% phần
trăm, điều mà ngay ở kỷ nguyên nguyên tử của chúng ta chưa
có một máy nào có thể đạt được. Để so sánh, đèn điện mà
chúng ta dùng hằng ngày chỉ có hiệu năng khoảng 2-4% tức là
96-98% năng lượng bị mất đi dưới hình thái nhiệt. Mặt khác
tuy hiệu xuất biến thành quang năng cao nhưng cường độ ánh
sáng phát ra của sinh vật nầy rất yếu. Muốn được cường độ
sáng của ngọn đèn cầy người ta phải cần 6000 con đom đóm
Lampyris nocticula hay 40 con đom đóm to Pyrophorus
noctilucus ở Nam Mỹ. Vì vậy chúng ta cũng không ngạc nhiên
vì sao dưới lòng biển sâu không sáng lộng lẫy như phòng dạ
hội, mặc dù khoảng hai phần ba các sinh vật sống ở đó có khả
năng chiếu sáng. Hiện tương hoá học trên xảy ra trong những
tế bào sinh ánh sáng (photogene Zellen) và có thể tóm tắt
như sau:
Luciferin + O2 + ATP --- (Luciferase)à
Luciferin-ôxýt-hóa + AMP
+ PP + H2O + Ánh sáng
Ánh
sáng lạnh nầy không có chứa các tia tử và hồng ngoại tuyến
(Ultraviolett-/Ultrarotstrahlen) và có độ dài sóng 520 đến
600 micron ở loài đom đóm Lampyris. Người ta còn chia nguồn
sáng nầy thành hai loại tùy theo nơi xuất phát. Nếu thật từ
chính tế bào của sinh vật chiếu ra thì được gọi là nguồn
sáng chính (primäres Leuchten) và nếu từ hiện tượng chiếu
sáng cộng sinh (Leuchtsymbiose) tức là do vi khuẩn sống cộng
sinh với sinh vật phát ra thì người ta gọi là nguồn sáng phụ
(sekundäres Leuchten).
Các
sinh vật có khả năng chiếu sáng xử dụng ánh sánh trong nhiều
lãnh vực khác nhau từ chuyện tình cảm dễ thương để tìm và
kết hợp lứa đôi, báo hiệu đồng loại biết nhau cho đến những
mưu mô làm bẫy bắt mồi, soi đường đi săn, dụ mồi đến gần,
hăm dọa thù địch, khuyến dụ côn trùng (như trường hợp các
loại nấm), .....
Con
người cũng lợi dụng sự chiếu sáng nầy để dùng trong lãnh vực
khoa học, nhất là trong kỹ thuật phối hợp yếu tố di truyền
(Gentechnik). Người ta đã đưa yếu tố di truyền của con đom
đóm
vào cây thuốc lá để cây nầy chiếu óng ánh hoặc cho yếu tố di
truyền chiếu sáng (Leuchtgene) vào rễ của những cây đậu nành
để dễ kiểm soát nhu cầu phân bón vì khi cây thiếu chất Nitrô
(Stickstoff) sẽ chiếu sáng màu xanh đậm. Trong việc kiểm
soát nước lọc (Kläranlagen), sinh vật phát sáng là một
phương tiện kiểm soát đơn giản và hiệu nghiệm, vì nếu ở nước
có chất độc thì những vi sinh (Mikrorganismen) sẽ không
chiếu sáng nữa. Xa hơn, các khoa học gia còn ứng dụng ánh
sáng sinh vật trong chương trình khảo cứu chống bịnh ung thư
như người ta đã cho yếu tố di truyền phát sáng của một loại
sứa Aequorea vào con chuột. Yếu tố nầy làm cho chuột chiếu
sáng màu xanh lá cây khi gặp tia tử ngoại tuyến
(Ultraviolett).

"Artificial"
bioluminescence induced by generic engineering of a tobacco
plant
Ngoài
vấn đề áp dụng trong khoa học, người ta còn dùng ánh sánh
sinh vật nầy trong những lãnh vực thực tế khác. Chẳng hạn,
loại tôm nhỏ (Muschelkrebs có dạng như sò) với tên Vargula
hilgendorfil ở Nhật có khả năng chiếu sáng (và dĩ nhiên có
chứa Luciferin và Luciferase), do đó vào thời thế chiến thứ
hai, lính Nhật hay mang theo những tôm khô nầy, để khi cần
coi bản đồ họ chỉ cần bóp nát chúng, cho một ít nước miếng
vào thì phản ứng hoá học xảy ra làm sáng đủ để đọc mà địch
quân không thấy họ được. Giản dị hơn nữa, ở Mexico trong dịp
lễ lộc các cô thường gắn loại Cucuyo-Käfer lên tóc chiếu
sáng để làm đẹp với các chàng trai.
Theo
như các giả thuyết hiện đại, người ta cho rằng vào thời xa
xưa sự sống trên mặt đất là sự sống hiếm khí. Dưỡng khí đối
với những sinh vật nầy là chất độc. Nhưng về sau, dưỡng khí
được tạo lập và tích tụ trong khí quyển, những sinh vật nầy
phải thích ứng với hoàn cảnh mới và tìm cách biến đổi dưỡng
khí sang một dạng khác vô hại. Con đường biến đổi hay nhất
đó là tạo thành nước (và cơ quan chiếu sáng là „nhà máy“ để
biến đổi „dưỡng khí độc“ nầy khi tác dụng với Luciferin như
hoá trình trên). Theo đà thời gian và qua những hiện tượng
sậu biến, các sinh vật đời sau không những dùng được dưỡng
khí mà còn cần dưỡng khí cho sự sống, do đó cơ quan phát ánh
sáng của những sinh vật hiện tại phần lớn chỉ là di tích
thừa thãi mà thôi. Dầu sao, tuy không cần thiết cho sự sống
như ở thời yếm khí xa xưa, nhưng nguồn sáng lạnh nầy vẫn còn
mang lợi ích cho nhiều sinh vật trong việc tìm kiếm bạn
tình, soi sáng đường tìm mồi, đánh lừa tự vệ….và cho loài
người chúng ta, còn gì thơ mộng, gợi cảm hơn cảnh…
Đêm qua đom đóm lập lòe
Ngỡ
sao rơi rụng ven hè nhà ai
(Cho các con, những Nguồn Sáng của Ba Mẹ)
Trở về Trang Chính
|