|
Tết! Chỉ một danh từ
đó thôi, nhưng khi nghe, người ta liên tưởng đến những tràng
pháo đỏ, nồi thịt kho, dưa giá, bánh chưng, hái lộc… và nhứt
là các loại hoa: đào, mai, cúc.....
Ngày xưa năm nào cũng vậy, vài
ngày trước Tết mẹ tôi thường đi chợ hoa mang về những chậu
cúc vàng tươi và để trước thềm nhà bên cạnh các chậu mai
đang nở để đón mừng xuân sắp sang.
Mỗi quốc gia có phong tục tập quán khác nhau,
vì vậy quan niệm về hoa không giống nhau cũng không có chi
lạ. Như chúng ta biết, nếu người Hy Lạp chọn hoa hồng tiêu
biểu cho tình yêu, thì người Ai Cập chọn hoa sen, người
Trung Hoa chọn hoa mẫu đơn (Pfingsrose/ peony/pivoine),
riêng người Nhật lại chọn hoa cúc. Và với hoa cúc người ta
còn thi vị hóa cho mỗi màu có tiếng nói riêng:
·
cúc
xanh: thủy chung mãi mãi
·
cúc nâu
đồng: sự gặp được nhau là vì sao sáng của định mệnh
·
cúc
vàng: hạnh phúc chiếu sáng vĩnh cửu
·
cúc đỏ:
duyên gặp gở của chúng ta là phúc ân cao quý nhất của cuộc
đời
·
cúc
trắng: tình yêu của chúng ta thiêng liêng, hạnh phúc của
chúng ta tràn đầy phước lành.
Nói về nguồn gốc, theo tài liệu ngành Thực
Vật Học ta thấy cúc xuất xứ từ Trung Hoa. Khoảng 500 năm
trước Tây Lịch Khổng Tữ đã đề cập đến việc trồng hoa cúc. Ở
Nhật vào thế kỷ thứ 8 sau Tây Lịch mới có sự hiện diện của
hoa cúc. Riêng Âu Châu, cúc được mang vào Hòa Lan năm 1688,
nhưng sự trồng hoa cúc thời nầy ở đây không thành công. Đến
năm 1789 M. Blancard ở Marseilles đem ba loại cúc từ Trung
Hoa về Pháp, nhưng chỉ có một trong ba loại nầy sống được,
đó là cúc ''Old Purple'' và vì vậy đã được ghi trong lịch sử
hoa cúc. Ở Anh cuối thế kỷ 18 người ta thấy có 8 loại cúc
được nhập cảng, đến năm 1824 có 24 loại và năm 1826 lên tới
48 loại. Vào năm 1860, nhân dịp thăm viếng Nhật Bổn, ông
Robert Fortune đã đem về nhiều loại cúc mới về Âu Châu.
Trong sự phát triển hoa cúc, chính sự lai giống tiếp của các
loại cúc nầy mà người ta được thêm nhiều giống mới nữa. Ở
châu Úc, hoa cúc được trồng tại Tasmania vào năm 1836, New
South Wales 1843, Victoria 1855 và ở New Zealand 1860. Ở Mỹ
cuối thế kỷ 19 cúc được trồng rất nhiều. Riêng hoa cúc của
Việt Nam hiện tại có xuất xứ từ Trung Hoa, Nhật và Âu châu.
Sự yêu thích hoa cúc
đã thúc đẩy cho người ta tạo lập nhiều hội Hoa Cúc Quốc Gia
trên thế giới. Ở Anh hội Hoa Cúc Anh Quốc được thành lập vào
năm 1846 tại Stoke Newington. Dần dần nhiều hội Hoa Cúc Quốc
Gia của những xứ khác cũng xuất hiện như ở Gia Nã Đại, Úc
Châu, Tân Tây Lan, Mỹ, Pháp và Nam Phi...
Hoa cúc có tên khoa
học là Chrysanthenum vào năm 1753. Nhà Thực Vật Học Thụy
Điển Carl Linné đã đặt cho cúc tên nầy. Chrysenthenum đi từ
chữ Hy Lạp: Chrysos=vàng (gold) và Anthos=bông, hoa. Các nhà
chuyên môn trong ngành đều đồng ý cho rằng Linné đặt tên như
vậy rất đúng vì hoa cúc khởi thủy là một bông nhỏ màu vàng.
Cúc được sắp loại vào
gia đình hoa dạng đầu trạng Asteraceae (Korblütler,
Compositen).
Khác với hoa hồng hay
hoa lan có từng bông riêng rẻ, một hoa cúc mà ta thấy thật
sự là tập hợp của rất nhiều hoa nhỏ nằm cùng trên một đế
hoa. Đó là một trong những đặc điểm của gia đình Asteraceae.
Những hoa nhỏ trên đế hoa gồm có hai loại: loại hoa hình ống
(Röhrenblüten) và hoa hình lưỡi (Zungenblüten). Hoa hình
lưỡi có cánh hoa dài ra nằm phiá ngoài cùng làm thành một
vòng tròn bao quanh phần hoa hình ống nằm chính giữa. Hoa
hình lưỡi có cánh dài chỉ để làm đẹp nhưng không có khả năng
sinh dục. Khả năng nầy chỉ có ở hoa hình ống mà thôi. Tùy
theo sự xếp đặt vị trí của các hoa hình lưỡi: một lớp, nhiều
lớp, đều hoặc không đều... mà người ta sẽ có những hoa với
hình dáng giản dị đến bông tròn đầy cánh. Ở những hoa tròn
đầy ta không thấy rỏ nhóm hoa hình ống vì bị che lấp bởi hoa
hình lưỡi.
Hoa cúc là một loại
hoa đa sắc, đa dáng và đa cỡ. Màu hoa có từ trắng, vàng,
hường, cam, tím, đỏ... và đôi khi có hai màu ở một bông
nghĩa là mặt trên và mặt dưới có màu khác nhau. Cỡ hoa có
loại nhỏ khoảng 1 cm cho đến loại lớn 25cm. Dáng hoa được
người ta phân chia ra làm 13 loại từ hình cầu, hình nhện,
hình Rosette ... ; đặc biệt hoa cúc Pennine Ace với cánh dài
dạng hình muỗng có màu hồng pha trắng rất đẹp.
Dựa vào sự chịu đựng
thời tiết, người ta chia cúc ra làm 3 nhóm:
·
cúc một
năm : không sống qua mùa đông, mỗi năm được gieo giống lại,
thí dụ Chrysanthenum carinatum, C. coronarium.
·
cúc
nhiều năm: sống qua mùa đông ngoài trời như Chrysanthenum
leucanthenum, C. tanacetum, C. maximum.
·
cúc
trồng quanh năm do các nhà vườn trồng để bán bông cắt hoặc
dùng trang trí triển lãm. Cúc nầy sống nhiều năm, nhưng
không chịu được lạnh và phải đem vào nhà kiếng khi mùa đông
đến như cúc Daren Bai Ley, Eve Gray, Bill Wande,...
Ngoài những ưu điểm về
màu sắc và hình dáng cúc còn đặc điểm như dễ trồng, bông lâu
tàn, khi tàn bông chỉ héo lại mà không rụng, giá cả lại phải
chẳng không đắc đỏ như lan hoặc hồng, vì vậy nên rất được ái
mộ. Ngày nay những nhà chuyên môn trồng cúc biết rành về
những điều kiện thích hợp trong sự trồng trọt loại hoa nầy,
nên đã lai giống, tạo ra rất nhiều loại cúc mới có hoa thật
lớn so với bông nguyên thủy. Ở Anh có 5000 loại cúc được ghi
nhận vào năm 1997, còn các nước khác cũng có trên cả ngàn.
Bên cạnh vấn đề trồng
cúc để lấy bông, người ta còn trồng cúc kiểng ở các công
viên, vườn tược. Những người khéo tay có thể uốn cây cúc
thành hình người, thú, đồ vật, hoặc tạo thành cúc nhỏ
(Bonzai). Cúc Bonzai dể tạo hơn các loại cây khác vì chỉ cần
thời gian một năm thôi.
Hiện nay hoa cúc rất
được phổ biến ở Mỹ và đưọc xem là ''Nữ Hoàng'' của các loại
hoa mùa thu, người ta thường tặng hoa cúc cho nhau vào những
dịp thăm viếng. Ngược lại ở Âu Châu cúc được dùng như hoa
tang, nhất là ở Bỉ và Áo hoa cúc thường được thấy trên các
mồ mả.
Hoa cúc không phải chỉ
để trang điểm cho đẹp mà thôi nhưng còn đóng vai trò trong
các lãnh vực khác như y dược, nghệ thuật văn hóa, xã hội...
Đối với người Nhật hoa cúc đóng vai trò rất quan trọng. Ở
Nhật hoa nầy tượng trưng cho ngôi vua: vương miện và ấn dấu
mang hình hoa cúc. Huân chương Hoàng gia Hoa Cúc là Huân
chương cao nhất của giới Chivary (Order of Chivary). Ngoài
ra người Nhật còn có ngày Hoa Cúc Quốc Gia mà họ gọi là ngày
lễ Hạnh Phúc (Festival of Happiness).
Ở Trung Hoa cúc cũng
đóng vai trò quan trọng không kém, điển hình qua hình ảnh
hoa cúc nhan nhản trên các bức tranh tứ mùa ''mai, lan, cúc,
trước'' hoặc trên các chậu bình sứ có từ thời cổ xưa. Như
chúng ta biết, cúc xuất xứ từ Trung Hoa vì vậy người ta
không phải ngạc nhiên khi thấy người Trung Hoa rất thích hoa
cúc và hiện tại trên xứ nầy có đến hơn 3000 loại.
Cúc Chu-Hsien đã được
đặt tên cho một thành phố. Người Trung Hoa chia cúc ra làm
hai nhóm : cúc kiểng để trang trí ngoại cảnh và cúc làm
thuốc. Một loại cúc thuốc nổi tiếng có tên là ''Hangbai''
với bông màu trắng ngà, không lớn như bông cúc kiểng mà chỉ
khoảng bằng đồng tiền. Từ cả ngàn năm nay người ta dùng cúc
nầy như dược phẩm và theo ngành y khoa cổ truyền, tắm với
nước hoa cúc Hangbai sẽ trị được bịnh dị-ứng da, cũng như
uống thường nước trà cúc sẽ giãm nhức đầu và mắt thấy rõ
hơn. Không chỉ riêng ngành y khoa cổ truyền mà y khoa hiện
đại cũng đồng ý cho rằng cúc Hangbai có dược tính cao. Sự
phân chất và thí nghiệm khoa học tại đại học Zhejiang đã xác
nhận tính chất trị liệu của hoa cúc nầy. Trong hoa, lá,
nhánh, rễ của Hangbai có trên 20 chất (thí dụ như sinh tố
B2, acít amin..) trị được các bịnh gây bởi siêu vi khuẩn,
chống áp suất máu cao, những bịnh về mắt...
Hoa cúc đã đi vào văn
chương qua một trong 81 chuyện kể từ bộ sách Liêu Trai Chí
Dị của Bồ Tùng Linh. Theo đó, ngày xưa có một anh chàng tên
Ma Dae-tsai rất ái mộ hoa cúc, nơi đâu có giống mới là anh
tìm đến để mang về trồng. Một hôm trên đường đi tìm cúc mới,
giữa đường anh gặp hai chị em, người chị tên Huang-Yinh và
cậu em trai tên Tau. Sau cưộc đàm thoại tâm đầu ý hiệp về
cách trồng hoa cúc, Ma cảm phục kiến thức của Tau và có cảm
tình ngay, liền mời hai chị em Tau về tạm trú ở nhà mình
cũng như dành cho một mảnh đất riêng để họ trồng cúc. Sau
một thời gian ngắn vườn cúc của hai chị em Tau đầy dẫy những
luống hoa cúc đẹp tuyệt vời. Cây sum xuê đầy hoa đem lại
nhiều lợi tức và nhờ đó hai chị em trở nên khá giả. Sau đó
vì có sự hiểu lầm của Ma về Tau, nên Tau bỏ đi nơi khác
trồng cúc lập nghiệp riêng. Thời gian qua.
Khi vợ Ma qua đời, Ma tục huyền cưới Huang-Yinh. Riêng phần
Tau, dầu rất thành công trong việc buôn bán cúc, nhưng khi
gặp lại Ma và sự hiểu lầm ngày xưa được minh giải, đồng thời
trước sự mời mọc nhiệt tình của Ma, Tau đồng ý trở về ở gần
bên gia đình chị.
Từ đó
cuộc sống nhàn hạ đã làm Tau thích rượu chè. Một ngày kia
quá say Tau vấp té, áo quần sút ra, thân chạm xuống đất
luống cúc và trong phút chốc Tau hóa thành một cây cúc cao
cỡ dạng người với bông lớn bằng nắm tay. Thấy thế Ma sợ hãi,
vội kêu vợ. Nhưng Huang-Yinh bình tỉnh nhổ cây cúc ra khỏi
đất, lấy quần áo phủ lên cây, xong cùng chồng vô nhà và căn
dặn Ma đừng ngó lại.
Sáng
hôm sau Ma không còn thấy cây cúc nữa mà chỉ thấy Tau nằm
ngủ ở chỗ té. Do đó Ma hiểu ra, vợ và em vợ vốn là thần hoa
cúc. Một lần khác Tau lại té vì say rượu và hóa thành cây
cúc như trước. Kỳ nầy Ma không còn sợ nữa, liền nhổ cây ra
khỏi đất và lấy áo quần đắp lại như vợ đã làm lần trước.
Nhưng vì tò mò Ma không bỏ đi mà ngồi đó chờ sự biến dạng
thành người của Tau. Sau một thời gian Ma chỉ thấy cây cúc
héo, nên hoang mang chạy về báo tin cho vợ. Nghe xong
Huang-Yinh hoảng hốt la lên :''Vậy là anh giết em tôi rồi
!'' và vội vàng chạy đến chỗ cây cúc ấy. Nhưng sự việc đã
trễ tràng! Thân và rễ cúc đã hư. Huang-Yinh lo lắng, hái
ngay một cành cúc và đem về trồng trong chậu. Nàng chăm sóc
cẩn thận, vun phân tưới nước ngày ngày. Cành cúc bắt rễ và
lớn dần. Sau chín tháng cây bắt đầu trổ bông. Đó là một loại
cúc thân ngắn, hoa màu trắng và có mùi thơm của rượu, vì vậy
được mang tên là ''Cúc Tau Ngà Say''. Người ta cho rằng nếu
dùng rượu để tưới cúc nầy thì cây sẽ ra bông thật nhiều.
Mỗi
loại hoa đều có một vẻ đẹp riêng, nhưng hoa cúc có nét duyên
dáng đặc biệt vì màu sắc rực rỡ tươi vui. Chính cái đẹp vui
tươi nầy đã gợi ý cho người ta đặt tên con: Kim Cúc, Thu
Cúc, Bạch Cúc, Hồng Cúc... Sự ái mộ hoa cúc đã khiến một
triết gia Trung hoa cho rằng:''Nên trồng hoa cúc, nếu muốn
được hạnh phúc suốt đời !''. Trong ý nghĩ nầy có vài chậu
cúc trang điểm trong nhà vào dịp Tết thật là một điều quý
thay!
(Cho con tôi
Hoàng-Thu)
Trở về Trang Chính
|