|
Keywords:
Distomatosis,Trematode, Fluke
Thủy sản cũng như các loài động vật đều có
thể nhiễm giun sán nhưng chỉ có một số mới truyền sang cho người
mà thôi. Gần đây báo chí bên nhà có nói nhiều về sự bộc phát của
bệnh sán lá, khoa học gọi là distomatosis, do cá truyền
sang cho người tại một số tỉnh ở VN. Các giới chuyên môn nghĩ
rằng bệnh lý nầy có nguyên nhân chính từ tập tục ăn gỏi cá sống
hoặc ăn cá nấu không thật chín. Nghiên cứu tại VN cho biết có
từ 45% đến 80% cá nuôi tại một số vùng đã bị nhiễm sán lá rất
trầm trọng. Tại Nam Định, nơi thường có tập tục ăn gỏi cá sống,
thì số người bị nhiễm sán lá từ cá có thể lên đến 65%, và cá
nuôi thì bị nhiễm lối 44,7%. Tại Nghệ An, chó mèo và heo bị
nhiễm sán lá từ cá truyền qua với tỷ lệ 13-38%. Riêng An Giang
và Nghệ An là hai tỉnh không có tập quán ăn gỏi cá sống cho nên
số người bị nhiễm sán lá từ cá chỉ ở mức độ từ 0,1 đến 1% mà
thôi (VietnamNet 18/10/2006).
Nhiễm sán lá là một vấn đề rất nghiêm trọng
tại vùng Đông Nam Á, đặc biệt là Trung Quốc,ViệtNam, Thái Lan,
Lào và Cam Bốt.
Cá nhiễm những loại sán lá nào?
Về mặt ký sinh trùng học, người ta phân ra
làm 3 nhóm giun sán sau đây:
-Giun (nematode,roundworm) còn gọi là
lãi tròn.
-Sán dây (cestode,teania) còn gọi là
sán dây hay sên vì nó có nhiều đốt như mắt xích xe đạp.
-Sán lá (trematode,douve,fluke) chỉ có
một mảnh như lá, hình dẹp.
Tùy theo nơi định vị của sán lá trưởng thành
trong cơ thể mà người ta chia ra :
1-Sán lá gan (liver fluke): Sán lá họ Fasciolidae
2- Sán lá phổi (lung
fluke): Sán lá họ Troglotrematidae
3- Sán lá ruột
(intestinal fluke): Sán lá họ Heterophyidae
Bệnh nhiễm sán lá gan tại ViệtNam cũng không
phải là một vấn đề mới mẻ gì, nhưng gần đây nó mới được tung ra
một cách ầm ĩ.
Nhiều tổ chức quốc tế đã trợ giúp Việt Nam
trong việc nghiên cứu và phòng trị bệnh nhiễm sán lá trong dân
chúng. Chương trình FIBOZOPA (Fish borne zoonotic Parasite), một
dự án nghiên cứu sán lá từ cá truyền cho người do Đan Mạch tài
trợ cho VN, đã xác định được một số sán lá thuộc họ
Heterophyidae.
Cá nước ngọt
nuôi trong ao hồ lẫn cá sống trong thiên nhiên sông rạch (nước
lợ) đều có thể bị nhiễm sán lá y như nhau.
Chu trình tăng trưởng (life cycle)
của sán lá ruột họ Heterophyidae.
Để có thể gây nhiễm cho người, ấu trùng sán
lá cần phải ở một giai đoạn nhất định nào đó trong chu trình
tăng trưởng của nó. Giai đoạn ấu trùng (larvae)
bắt buộc phải kinh qua 2 ký chủ trung gian
(intermediate host), đó là con ốc và kế tiếp là
con cá.
-Sán lá trưởng thành (adult) dài
2mm/ngang0,3-0,4mm sống trong niêm mạc ruột của người,
của các loài gia súc (Trâu, bò, heo chó, mèo) cũng
như của các loài thủy cầm thí dụ như các loài chim ăn cá
dưới ao. Tất cả đều là ký chủ thật sự (definitive
host) của sán lá. Sán lá trưởng thành chỉ phát triển trong
các ký chủ thật sự vừa kể mà thôi…Trong ruột, sán lá trưởng
thành đẻ trứng theo phân ra ngoài và nhiễm vào ao hồ và trở
thành trứng thụ (embryonated eggs). Đó là những trứng có
chứa ấu trùng sán lá ở giai đoạn Miracidia. Đây là giai
đoạn để chẩn đoán (diagnostic stage).
-Ốc sống trong nước ăn trứng
sán lá. Miracidia chui vào ruột ốc và kinh qua 3 giai
đoạn ấu trùng Sporocysts-à
Rediae-à
Cercariae. Cuối cùng Cercariae được thải vào nước lội tự
do đến khi tìm được một loài cá hoặc một loài thực vật nào thích
hợp để kết nang trên đó.
Cercariae xuyên qua da cá và kết thành nang
trong thịt cá để trở thành ấu trùng Metacercariae. Đây là
giai đoạn gây nhiễm (infective stage).
Ăn phải cá có chứa ấu trùng sán lá, người sẽ
bị nhiễm bệnh sán lá.
(Xin xem sơ đồ Metagonimus yokogawai life
cycle của CDC).

Các loại sán lá quan trọng tại Á châu
Food borne Trematodes of medical
importance and public health significance in Asia.
FAO/WHO
1-
Sán lá gan:
- Family Fasciolidae
*
Genus Fasciola
Species F. gigantica (dài20-30mm/8-13mmn )
F.hepatica
Sán lá
gan Fasciola, hình dẹp, đầu nhỏ
F.gigantica là loài to nhất.
Sán
trưởng thành sống trong bụng các loài thú ăn cỏ
như
trâu, bò, dê, cừu. Chúng được xem như ổ chứa
của
sán Fasciola. Người bị lây nhiễm vì rủi ro
(accidental host)
ăn phải rau cải bị nhiễm ấu trùng.
Sán đẻ
trứng trong mật, xuống ruột rồi theo phân
ra
ngoài, trở thành ấu trùng Miracidia và bị một
loại
ốc đặc biệt thuộc họ Lymnaeidae ăn vào.
Sau 3
lần biến đổi trong ốc, ấu trùng được ốc nhả
ra
ngoài để trở thành ấu trùng Metacercariae
lội tự
do trong nước. Cuối cùng ấu trùng tìm
được
một loài cây thích hợp mọc dưới nước để
kết
nang và chờ đến khi có dược gia súc hoặc
được
một người nào đó ăn vào… Ấu trùng vào ruột,
thoát
ra khỏi vỏ nang, xuyên qua ruột vào xoang
bụng
và từ đó lần mò tìm đường vào gan định vị,
rồi
chui vào trong ống mật để trưởng thành và đẻ
trứng
tại đây. Thời gian từ lúc nhiễm đến khi đẻ
trứng
cũng mất đôi ba tháng. Sán có thể định vị cả
chục
năm trong ống mật.
Người
bị nhiễm vì ăn sống các loại thực vật mọc
dưới nước hay những nơi quá ẩm thấp.
(xin
xem sơ dồ Fasciola hepatica life cycle CDC)

·
Genus Fasciolopsis
Species
F.buski
Đây là
loại sán lá ruột to nhất ở người.
Heo
thường được xem là ổ chứa (reservoir) của
sán lá
F.buski. Sán trưởng thành trong ruột non.
Người
bị nhiễm do ăn thực vật mọc dưới nước.
-
Family Opisthorchidae
·
Genus Clonorchis
Species
C. sinensis (dài 10-25mm/3-5mm), còn được gọi là
Chinese liver fluke.
Người
bị nhiễm từ cá.
Sán lá
định vị trong gan, trong hệ thống mật và trong ống dẫn của tuyến
tụy tạng. Sán lá trưởng thành có thể sống 25 năm trong gan của
chúng ta.
·
Genus Opisthorchis
Species
O. viverrini
Người
bị nhiễm từ cá.
Sán lá
định vị trong hệ thống mật.
2-
Sán lá phổi:
-Family Troglotrematidae
·
Genus Paragonimus
Species
complex
Người
bị nhiễm từ cua và từ tôm nước ngọt (crayfish).
Sán lá
định vị trong phổi và màng phổi, đôi khi vào trong não, gây biến
chứng rất nguy hiểm.
3-
Sán lá ruột:
-Family Heterophyidae
(sán dài
0.5-2mm/ ngang0.3-0.4mm)
·
Genus Haplorchis,
Species H.taichui
·
Genus Metagonimus, Species
M.yokogawai
Người
bị nhiễm từ cá.
Sán lá
định vị trong niêm mạc ruột non.

Có nguy hiểm đến sức khỏe hay không?
Triệu chứng thay đổi tùy theo loại sán, tùy
theo số lượng sán nhiều hay ít, tùy nơi định vị và tùy theo thời
gian mới nhiễm hay đã bị nhiễm từ nhiều năm rồi.
Nói chung triệu chứng ban đầu lúc ấu trùng di
chuyển có thể là đau bụng, thường là ở vùng hạ sườn phải
(upper right quadrant), nôn mửa, tiêu chảy, biếng ăn, mất
cân…Một thời gian sau thì có triệu chứng gan mật, vàng da vv…Sán
lá gan Fasciola gigantica to nhất, thường làm nghẽn bít
hệ thống mật và gây tổn hại mô gan. Báo Thanh Niên Daily ngày
Sept 22 /2006 có nói đến một ca tại Quảng Bình sán lá gan xuyên
qua da và chui ra khỏi lồng ngực lúc bệnh nhân đang được bác sĩ
khám. Một vài loài như sán lá phổi Paragonimus westermani
có thể gây ra những triệu chứng trầm trọng khi chúng vào trong
phổi, trong các hạch hoặc trong não.
Chẩn đoán bằng cách nào?
Thông thường chẩn đoán qua việc xét
nghiệm phân của bệnh nhân để tìm trứng sán. Phương pháp nầy
tỏ ra không mấy hữu hiệu nếu mực độ trứng quá ít ỏi hoặc thử
không đúng thời gian sán đẻ trứng. Rất khó chẩn đoán qua triệu
chứng lâm sàng vì bệnh nhiễm sán lá cũng rất dễ lầm lẫn với một
số bệnh lý khác chẳng hạn như với cancer gan, bệnh viêm gan,
abcès gan, bệnh đau ruột, đau bao tử hay bệnh lao phổi
tuberculosis qua sự kiện đàm có màu rỉ xét trong trường hợp
bị nhiễm sán lá phổi. Nếu bị nhiễm lâu ngày thì các triệu chứng
có tính cách mãn tính hơn. Thời gian đầu lúc mới bị nhiễm, thử
nghiệm máu thường thấy số lượng bạch cầu eosinphiles tăng
rất cao hơn bình thường. Có thể làm siêu âm gan
(echography) để hổ trợ chẩn đoán.
Có thể thử máu áp dụng các test huyết
thanh học:
-
Test
hemaglutination tìm kháng nguyên antigen f2 của sán
Fasciola.
-
Elisa test.
-
Test immunofluorescence.
-
Tremkit project
(do the Natural Resources Institute UK hướng dẫn) có đưa ra 2
phương pháp xét nghiệm rất tiến bộ. Phương pháp thứ nhất dựa
trên kháng thể monoclonal antibodies. Với phương pháp
nầy, người ta có thể làm mass screening để chẩn đoán mỗi
lần rất nhiều người cùng một lúc để xem coi ai đã bị nhiễm sán
lá mà không cần phải phân biệt riêng rẽ 3 loại sán lá
Opisthorchis viverrini, Opisthorchis felineus và
Clonorchis sinensis. Kế hoạch trị liệu nhờ đó mà được hoạch
định mau chóng. Một phương pháp khác cũng rất chính xác dựa tên
kỹ thuật polymerase chain reaction PCR để xác định DNA
của sán lá mặc dù ở mật độ nhiễm sán thật ít. Phương pháp nầy
rất đắt tiền nên chỉ được sử dụng trong việc khảo cứu mà thôi.
Có thuốc trị không?
Thuốc uống do bác sĩ kê toa. Có thể nêu các
thuốc đặc trị như:
1-
Praziquantel
(PZQ): tên thương mại Biltricide.
2-
Triclabendazole (TCZ): tên thương mại Egaten, Fasinex.
3-
Albendazole.
4-
Bithional.
5-
Nitazoxamide.
Những điểm cần lưu ý
-
Sán lá chỉ
có thể phát triển và tồn tại lâu dài nếu trong ao hồ hội đủ các
yếu tố như có sự hiện diện của một loại ốc thích hợp sống trong
nước, cây cỏ thảo mộc dưới nước, cá tôm sống ở nước ngọt và sau
hết phải có người hay một loài động vật nào đó ăn vào. Cá chép
(carp) thuộc họ Ciprinidae thường là ký chủ trung gian của sán
lá Clonorchis sinensis và của sán lá Opisthorchis spp.
-
Điều kiện
khí hậu và điều kiện kinh tế xã hội của Việt Nam rất thuận lợi
để bệnh sán lá dễ phát triển và dễ lây truyền.
-
Người bị nhiễm qua việc ăn cá sống, nấu không
đủ chín hoặc ăn sống các loại rau cải mọc dưới nước đã bị nhiễm
ấu trùng sán lá. Thí dụ tại VN có
thể thấy rau muống ruộng, rau dừa, ngó sen, rau ngổ, rau bồn
bồn, rau chút, rau bông súng, rau cần ống. Tại hải ngoại có rau
cresson sauvage mọc dưới nước (watercress) cần
phải để ý vv…
Ướp
muối, ngâm dấm hoặc hong khói rất khó diệt được ấu trùng sán lá
trong cá.
Theo
FDA, giữ cá ở nhiệt độ trừ 20 độ C trong vòng 7 ngày hoặc trừ
35 độ C
trong vòng 15 giờ có thể diệt được ấu trùng Metacercariae
với điều kiện là bề dầy của cá không được trên 15cm (6
inches). Phương pháp nầy chỉ có thể thực hiện trong các nhà
máy mà thôi. Trong thực tế, người ta tự hỏi cá nhập cảng từ Á
châu bán tại các chợ Tàu, chợ VN ở hải ngoại có đáp ứng được
điều kiện nầy hay không?
-
Nhiễm sán lá
sẽ dẫn đến các bệnh về gan, phổi và ruột.
-
Nấu cá và rau cải thật chín sẽ diệt được sán
lá đồng thời giúp làm giảm nguy cơ
bị nhiễm các loại ký sinh trùng.
-
Xây cầu tiêu
và nuôi gia súc như heo, trâu bò, dê cừu trên ao cá cũng như
việc dùng phân súc vật để nuôi cá là lý do làm gia tăng bệnh sán
lá.
-
Tập tục ăn
uống, ăn rau sống, ăn gỏi cá sống, ăn sushi, sashemi, lẩu cá cua
tôm tép, nhúng dấm, luộc không đủ chín rất nguy hiểm.
-
Ngày nay, kỹ
nghệ nuôi trồng thủy sản (aquaculture) đang phát triển
rầm rộ tại ViệtNam, Trung Quốc, Thái Lan…Việc toàn cầu hoá mậu
dịch chắc chắn đã tạo điều kiện thuận lợi trong vấn đề xuất cảng
cá tôm nhiễm ấu trùng sán lá đi khắp cả các nơi trên thế giới.
-
Trong các
chợ Tàu và chợ Việt tại hải ngoại, đa số cá tôm đông lạnh thường
được nhập cảng từ ViệtNam, Thái Lan, Trung Quốc, Ấn độ và Nam Mỹ
là những quốc gia có vấn đề sán lá rất nghiêm trọng.
-
Việc giáo dục
dân chúng về hiểm họa ăn cá sống là điều cần phải thực hiện cấp
bách.
Tại Canada thì sao?
Tài liệu của Stanford University cho biết sán
lá họ Heterophyidae được phát hiện rất nhiều tại Brazil, vùng
Điạ trung Hải, Ukraine, Trung Đông, Ai Cập, Hawaii, Đại Hàn, và
nhất là vùng Đông nam Á. Cũng có báo cáo về sự hiện diện của
loại sán lá nầy ở Alaska, Hoa Kỳ và ở cả Canada nữa.
Vấn đề nhiễm sán lá từ cá chưa phải là một
vấn đề thật sự quan trọng tại Canada. Phần lớn các bệnh nhân đều
là di dân từ những vùng Á châu đến định cư tại Bắc Mỹ.Theo các
giới trách nhiệm thì cá sản xuất tại Canada không nguy hiểm cho
người tiêu thụ. Nguy cơ thật sự là cá tôm đông lạnh nhập từ Đông
nam Á. Cơ quan CDC Hoa Kỳ cho biết họ từng làm test xét nghiệm
và đã phát hiện ra được sự hiện diện của ấu trùng
Metacercariae sán lá trong cá đông lạnh đến từ Á Châu. Để
phòng ngừa sự lây truyền bệnh sán lá, Canada từ nhiều năm nay đã
cấm nhập cảng một loại cua sống chinese crab hay
mitten crab (vì nó có 2 chùm lông ở 2 càng chính). Lý do là
loại cua nầy (tên khoa học là Eriocheir sinensis) thường
bị nhiễm ấu trùng sán lá phổi Paragonimus westermani rất
nguy hiểm cho người tiêu thụ.
Trong công việc khám thịt hằng ngày tại nhà
máy mổ bò St Cyrille de Wendover, Quebec Canada, tác giả thỉnh
thoảng vẫn phát hiện được sự hiện diện của sán lá gan
Fasciola trong ống mật của bò hạ thịt.
Kết luận
Từ lâu, Tổ chức Y Tế Thế giới (WHO) và Tổ
chức Lương Nông Thế giới (FAO) đã cảnh báo các quốc gia vùng
Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam về hiểm họa cá nước ngọt nhiễm
sán lá lây truyền cho người. Đây là một vấn đề y tế công cộng vô
cùng quan trọng ảnh hưởng cho cả thế giới. Năm 1995 WHO đã ước
lượng vùng Đông Nam Á có khoảng 9 triệu người bị nhiễm sán lá và
Trung Quốc có lối 20 triệu người bị nhiễm mà trầm trọng nhất là
vùng tỉnh Quảng Đông ở về phía Nam. Riêng Việt nam có trên 7
triệu người nằm trong diện nguy hiểm có thể bị nhiễm sán lá gan
trong đó có 1 triệu người đã bị nhiễm thật sự. Tổ chức FIBOZOPA
gần đây cũng đã cho biết số người bị nhiễm sán lá tại vùng sông
Hồng, Bắc Việt Nam, có thể phải nhiều hơn gấp bội so với những
số được nêu ra từ trước (mực độ nhiễm 15%-20%). Tại những vùng
nhiễm sán, WHO cũng quan tâm đến sự xuất hiện của một số bệnh lý
như bệnh cancer ác tính ống dẫn mật Cholangiosarcoma,
bệnh sỏi túi mật gallstones (do nhiễm sán lá Opisthorchis
và sán lá Clonorchis), bệnh tiêu chảy và bệnh loét bao tử
peptic ulcers (do nhiễm sán lá Haplorchis và sán lá
Metagonimus). Phải chăng sự hiện diện của sán lá đã ảnh hưởng
đến sự xuất hiện của cancer cholangiosarcoma và của sỏi
mật?
Sán lá nhiễm từ cá không phải là hiểm họa duy
nhất tại Việt Nam. Bệnh giun đầu gai (Gnathostoma) do
việc ăn cá sống, ăn thịt rắn,và ếch nhái là một hiểm họa khác
mà chúng ta cũng cần phải quan tâm mỗi khi ăn. Ngoài ra cũng
không nên thờ ơ với bệnh thịt heo gạo cysticercosis do
sán dây Taenia solium gây ra, thịt heo nhiễm giun bao
Trichinella spiralis, và thịt bò gạo do sán dây Taenia
saginata …Cẩn thận với các món quá ngon như gỏi cá sống,
sushi, sashimi, nem chua, bò tái chanh, thịt bò beefsteak chiên
nửa sống nửa chín …nếu ăn ở bên nhà.
Tổ chức Lương Nông Thế Giới FAO nhìn nhận là
tại Á châu, việc kiểm soát và giải quyết mối nguy cơ nhiễm sán
lá từ thực phẩm (FBT: foodborne trematodes) là một vấn đề vô
cùng khó khăn và phức tạp cần phải có sự quyết tâm và phối hợp
nhịp nhàng của rất nhiều lĩnh vực chuyên môn. Giáo dục dân chúng
để thay đổi lối sống, quan tâm hơn đến vệ sinh, thay đổi tập tục
và thói quen ăn uống, như đừng bao giờ ăn cá sống, cũng như
đừng ăn sống các loại rau cỏ mọc dưới nước là công việc cần
phải làm trước mắt. Chuyện coi vậy mà không phải dễ làm đâu!
Bệnh cá nhiễm sán lá lây truyền cho người tại
Việt Nam là một sự kiện tất yếu không làm ai ngạc nhiên hết!
Để kết luận, tác giả xin mượn lời cảnh báo
có vẻ bi quan của TS Đặng thị Cẩm Thạch, Trưởng Phòng Ký Sinh
Trùng (Viện Sốt Rét, Ký Sinh Trùng- Côn Trùng Trung Ương):
“…Việt Nam hiện có lối 60 triệu người đang bị nhiễm giun sán các
loại!...” (VietNamNet 26/9/2006).
Không biết lời báo động trên có
làm cho người dân mình lo sợ và thay đổi cách ăn uống hay không?
Tài liệu tham khảo :
-
Report A
Joint WHO/FAO Workshop on Foodborne Trematode Infections in
Asia, Hanoi, VietNam 26-28 Nov 2002.
-
FIBOZ0PA:
Fishborne Zoonotic Parasites in VietNam.
-
Research
into Incidence and Control of Foodborne Trematode Infections In
Freshwater Fish. FAO
-
Potential
Food Safety Hazards, CDC
-
Potential
Hazards in Cold-Smoked Fish: Parasite, FDA
-
Fiche
Technique Santé Sécurité-Matières infectieuses: Fasciola
hepatica, Fasciola gigantica, Clonorchis sinensis, Agence de
Santé Publique du Canada.
-
Canadian
Hazards Guide-Fish and Fish Products, Canadian Food
Inspection Agency.
-
Hidden
health problems caused by fish-borne trematodes, New
Agriculturist on-line, http://www.onefish.org
-
Metagonimus
yokogawai & Fasciola hepatica life cycle, The Centers for
Disease Control & Prevention CDC.
-
Heterophyidiasis, an emerging zoonotic parasitic zoonosis,
Stanford Univ.
-
Cá nhiễm sán
truyền sang người, VietnamNet 18/10/2006
-
Flatworm
infection spreading in Vietnam through eating raw food,
ThanhNien Daily Sept 22,2006
Montreal, Oct 27, 2006
Print this
site

Trở về Trang Chính
|