|
Có một
điểm tương đồng ở tất cả mọi người, dù già hay trẻ, dù Ta hay
Tây ai nấy cũng đều thích ngọt cả... Một món ăn có vị ngọt vẫn
dễ hấp dẫn khẩu vị hơn là một món ăn nhạt nhẽo vô vị.
Một lời
nói ngọt ngào dù cho không thật lòng đi nữa, vẫn làm mát lòng
người nghe hơn là một lời nói móc lò xỏ ngọt, chua cay, đầy đố
kỵ hơn thua cao thấp!
Thèm
ngọt là một nhu cầu thiết yếu của cơ thể, để củng cố năng lượng.
Carbohydrate hay Glucide là
những hợp chất bao gồm đường (sugar), bột đường hay tinh
bột (amidon, starch) và chất xơ (fibre).
Những
chất nầy rất cần thiết cho chúng ta để sống. Nhưng ngọt quá đôi
khi cũng nguy hiểm lắm đó!
Ngọt
mật chết ruồi mà! Lời đường mật làm cho con người mù oán, si mê
điên dại.
Hảo
ngọt quá đôi khi cũng làm cuộc đời thêm khốn khổ rắc rối…
Các loại đường
Đường
là chất phụ gia (additif alimentaire, food additive) đứng
hàng đầu tại Hoa Kỳ. Các chất đường thiên nhiên sau đây được xem
là tiêu biểu và thông dụng nhất:
*-Đường
cát (table sugar, white sugar, granulated sugar):
Đường cát là loại đường thông dụng nhất hiện nay trên thế giới.
Màu trắng, hạt nhuyễn mịn hay to, được trích lấy và biến chế từ
mía đường hoặc từ củ cải đường (beets). Tên khoa học của
đường cát là sucrose hay saccharose. Đường cát đã
chịu qua nhiều giai đoạn tẩy trắng bằng hóa chất nên rất tinh
chế, cho nên có người nói rằng ăn đường cát thường xuyên sẽ
không tốt cho sức khỏe.
*-Đường
thô (raw sugar): Có được trong giai đoạn đầu của việc
sản xuất đường. Đường thô màu xậm và hạt to hơn đường cát trắng.
Tại Hoa Kỳ, sau khi lấy bớt chất bẩn ra, đường thô được bán với
những tên như demerera, turbinado, hoặc
muscavado.
*-Đường
nâu (brown sugar, sucre roux, cassonade): Màu từ sậm
tới lợt. Đây là 90% đường cát có trộn 10% mật đường. Rất được
nhiều người sử dụng vì họ nghĩ rằng loại đường nầy có vẻ thiên
nhiên cho nên tốt cho sức khỏe hơn mấy loại đường cát trắng tinh
chế?
*-Đường
bột (confectioner’s sugar, powdered sugar):
Đây là loại đường nhuyễn y như bột. Đôi khi người ta thêm tinh
bột bắp để giúp đường khỏi bị đóng cục. Đường bột được dùng để
áo bên ngoài của các loại bánh ngọt.
*-Đường
trái cây (fructose): Hiện diện một cách tự nhiên
trong các loại trái cây.
*-Đường
của sữa (lactose): Các loại sữa đều có chứa
lactose một cách tự nhiên. Ít ngọt.
*-Đường
lúa mạch (maltose)
*-Mật
đường (molasse):
Sau khi đường cát được trích lấy, chất nước còn lại được gọi là
mật đường. Chất nầy có màu đen, vị ngọt hơi đắng và có chứa
nhiều chất khoáng như magnesium và chất sắt. Mật đường
được dùng để nuôi gia súc, để cất rượu cồn ethyl alcohol,
hoặc để làm bánh.
*-Sirop
bắp (corn syrup): Còn được gọi là high fructose
corn syrup vì chứa rất nhiều fructose. Đường
glucose của tinh bột bắp được chuyển thành fructose.
Sirop bắp được sử dụng rất rộng rãi trong kỹ nghệ biến chế thực
phẩm.
*-Sirop
nhựa cây phong (sirop d’érable, maple syrup): Đây là
sirop quốc hồn quốc túy của Canada. Nhựa cây phong được trích
lấy khoảng tháng ba khi trời bớt tuyết và trời bắt đầu hơi ấm
áp, đến cuối tháng tư lúc cây đâm chồi thì ngưng hứng nhựa. Bốn
mươi gallons nhựa cây phong đem nấu cho được một
gallon sirop. Từ sirop nhựa cây phong người ta còn biến chế
thành nhiều thành phẩm khác rất ngon như beurre d’érable, tire,
kẹo, v.v...
*-Mật
ong (honey): Rất thay đổi tùy loại mật. Nói chung,
mật ong chứa nhiều đường fructose (levulose) 38%,
dextrose 31%, sucrose 1%, nước 17% và vitamins.
*-Đường
nghịch chuyển (invert sugar): Có được qua phương pháp
làm thủy phân sucrose ra đường glucose
(dextrose) và đường fructose với một tỷ lệ bằng nhau.
Đường nghịch chuyển ngọt hơn đường cát, và thường được dùng để
làm chậm lại hiện tượng kết tinh (thí dụ trong các lọ mứt) cũng
như để giữ ẩm đổ lâu hơn nhất là đối với các loại bánh ngọt có
chứa rất ít chất béo, nhờ vậy sản phẩm sẽ lâu khô và có vẻ tươi
mới.
+
Ở Việt Nam, ngoài những loại đường thông thường như vừa kể bên
trên, mình cũng có nhiều loại đường rất đặc biệt và rất bình
dân, đó là: đường thẻ, đường móng trâu, đường chảy dùng để nấu
chè hoặc kho cá vì nó rẻ tiền. Đường xắc, dùng làm nước mắm hoặc
để ăn xoài tượng sống ngon khỏi chỗ chê.
Vùng
Tân Châu, Châu Đốc thì có đường thốt lốt, ngọt dịu và thơm nữa.
Muốn
sang hơn thì ăn đường phổi, đường phèn, nhưng những loại đường
nầy cũng không mấy thông dụng cho lắm.
Rồi còn
đường mạch nha kéo trên bánh tráng bánh phồng nữa.
Ba bốn
chục năm về trước, lúc quê hương còn trong khói lửa, đường là
một nhu yếu phẩm, thường bị khan hiếm một phần do con buôn đầu
cơ tích trữ cho nên giá mua rất đắt.
+Tại
Canada, lúc bán sale mua đường có khi còn rẻ hơn là mua
muối.
Đường đơn giản hay đường hấp thụ nhanh
(Sucre simple ou à absorption rapide)
Đây là
đường thiên nhiên theo nghĩa thông thường mà chúng ta hiểu…Những
chất tạo vị ngọt nầy được thấy trong bánh, kẹo, chè, chocolat
hoặc trong các loại nước ngọt loại regular như Pepsi,
Coca, Soda, Seven Up, v.v…
Đường
mía (saccharose), đường trái cây (fructose), đường
sữa (lactose) là những thí dụ điển hình.
Trong
ruột, đường đơn giản chuyển thành glucose và được hấp thụ
vào máu một cách rất nhanh chóng.
Khi
đường huyết glycémie tăng, lập tức tụy tạng sẽ tiết ra
insuline để giúp tế bào hấp thụ glucose vào đồng thời
kéo đường huyết xuống mức bình thường.
Đường phức tạp hay đường hấp thụ chậm
(Sucre complexe ou à absorption lente)
Vị hơi
ngọt và gồm có bột đường (tinh bột) và các chất xơ. Tinh bột
được thấy trong bánh mì, khoai Tây, cơm, gạo, ngũ cốc và trong
các loại pasta như nouille, macaroni, spaghetti, v.v...
Chất xơ
có nhiều trong rau, cải, hoa quả, đậu, trong hạt dẻ (walnuts)
cũng như trong các loại cereal làm từ hạt thô
(wholemeal grain, grain entier)...
Đường
phức tạp cần sự tác động của một số enzymes để chuyển ra
thành glucose rồi mới được hấp thụ vào máu. Bởi lý do
nầy, cho nên đường huyết tăng lên chậm hơn so với trường hợp
đường đơn giản.
Đường
phức tạp rất cần cho các hoạt động biến dưỡng của cơ thể.
Đường
đơn giản và đường phức tạp không thể thay thế lẫn nhau được.
Ăn nhiều đường quá có hại sức cho khỏe
không?
Đường
đơn giản và đường phức tạp đều tạo ra năng lượng.
Một
gram đường cho ra 4 calories. Năng lượng dư thừa sẽ được dự trữ
dưới dạng glycogen và mỡ... Ăn ngọt thường xuyên quá, mập
ra cũng dễ hiểu mà thôi.
Tình
trạng béo phì dễ dẫn đến các bệnh tim mạch, tăng huyết áp và
tiểu đường. Ngoài ra, việc ăn nhiều đường, kể cả đường thiên
nhiên như đường trái cây và mật ong cũng vậy, có thể đưa đến
tình trạng hư răng nếu không chịu súc miệng đánh răng kỹ lưỡng.
Ăn
nhiều bánh kẹo ngọt cũng có thể làm chất triglyceride
(một loại chất béo xấu) trong máu gia tăng.
Năm
2005, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho biết trên thế giới có vào
khoảng trên 170 triệu người mắc bệnh tiểu đường và con số nầy có
thể tăng gấp đôi vào năm 2030. Chỉ riêng Hoa Kỳ cũng có trên 21
triệu bệnh nhân.
Thực
phẩm quá dồi dào đường cũng như quá nhiều dầu mỡ và chất béo bão
hòa, cộng thêm việc thiếu vận động là những nhân tố dẫn đến tình
trạng béo phì, bệnh tim mạch và bệnh tiểu đường type II còn được
gọi là Diabetes mellitus .
Bệnh
tiểu đường đã chiếm 8% ngân sách về y tế tại các quốc gia kỹ
nghệ. Người ta còn gọi đây là bệnh của nhà giàu, nhưng thực tế
cho thấy bệnh tiểu đường không tha nhà giàu cũng như không bỏ
nhà nghèo.
Bệnh tiểu đường là bệnh gì?
Tiểu
đường là một bệnh mạn tính do tụy tạng không có khả năng tiết
insulin, hay tiết không đủ số cần thiết hoặc insulin không hữu
hiệu trong việc giúp hấp thụ đường glucose từ máu vào tế bào.
Tiểu
đường type II (non insulin
dependent diabetes) chiếm đa số 90% , thường xảy ra cho
những người trung niên trở lên, nhưng hình như ngày nay giới trẻ
tiêu thụ quá nhiều fast foods cũng có khuynh hướng mắc
bệnh tiểu đường type II...
Tiểu
đường type I (insulin dependent
diabetes, juvenile diabetes), là một loại bệnh tự
miễn (autoimmune) hủy hoại tế bào bêta của tụy tạng nên
không thể tiết được hormone insulin. Bệnh nầy chiếm 10% và
thường thấy ở trẻ em và thiếu niên. Người bệnh cần phải được
tiêm insuline mỗi ngày và chích suốt cuộc đời.
Ngoài
ra, đôi khi chúng ta thấy một loại bệnh tiểu đường ở phụ nữ
lúc đang mang thai (gestational diabetes). Bệnh
thường khỏi sau khi sanh, nhưng có thể có nhiều nguy cơ tái phát
thành bệnh diabetes type II sau nầy.
Bệnh có
thể do di truyền hoặc thụ đắc (acquise).
Mệt
mỏi, mất cân, ăn nhiều (polyphagia), uống nước nhiều
(polydipsia) và đi tiểu nhiều (polyuria) là những dấu
hiệu chính của bệnh tiểu đường.
Nguy
hiểm nhất là bệnh có thể gây những biến chứng về mắt
(rétinopathie diabétique) đưa đến mù lòa, làm suy thận
(insuffisance rénale), hoặc dẫn đến các bệnh lý về tim mạch
(cardiopathies), về thần kinh (neuropathie diabétique)
hoặc làm loét chân (ulcération des pieds) đưa đến việc
cưa chân... Bệnh nhân chết vì các biến chứng của bệnh tiểu đường
gây ra mà thường nhất là bị hư thận.
Có rất
nhiều loại thuốc uống để kềm hãm đường huyết, và nếu trường hợp
quá nặng thì cần phải chích insuline mỗi ngày. Đa số
thuốc đều có phản ứng phụ (side effects) bất lợi. Tùy
theo tình trạng sức khỏe của mỗi người cũng như sự hiện diện của
biến chứng mà bác sĩ kê toa một loại thuốc nào đó, hoặc đổi
thuốc khác, hoặc điều chỉnh liều lượng của món thuốc cho thích
hợp hơn, v.v...
Người
bị tiểu đường cần phải thay đổi nếp sống, kiêng cữ đủ thứ, tránh
các loại thức ăn ngọt, cơm gạo, xôi chè, bánh trái chế biến từ
bột tinh chế (refined). Cần tránh thức ăn chứa nhiều mỡ
dầu, ngoài ra cũng cần phải kiên trì vận động tập thể dục thường
xuyên mỗi ngày.
Tập chí
New England Journal of Medicine, Feb7/2008 có đăng bài nghiên
cứu về bệnh tiểu đường. Đây là kết quả của một công trình khảo
cứu nằm trong chương trình Diabetes Prevention Program DPP do
National Institute of Diabetes and Digestive and Kidneys
Disease
s tài trợ, và thực hiện từ nhiều năm qua trên 3000 người có dấu
hiệu nói lên nguy cơ có thể bị bệnh tiểu đường type II trong
tương lai.
Đó là
sự béo phì (obesity) và sự rối loạn khả năng dung nạp
glucose (Impaired Glucose Tolerance), có nghĩa là đường
huyết nằm cao hơn mức bình thường 6,1mmol/L nhưng dưới 7mmol/L.
Bác sĩ gọi tình trạng nầy là Prédiabétique.
Nếu
đường huyết từ 7mmol/L trở lên thì đó là bệnh diabetes thật sự.
Kết quả
khảo cứu đã cho biết là, một chế độ dinh dưỡng thích nghi, vừa
phải và cộng thêm một chương trình thể dục đều đặn 30 phút/ngày
sẽ giúp giảm 58% nguy cơ bị bệnh tiểu đường type II, so với 22%
nếu chỉ uống Metformin là loại thuốc rất thông dụng để làm hạ
đường huyết xuống mà thôi.
(By
adopting a moderate, consistent diet and exercice program, many
people with one or more risk factors for type II diabetes can
stop the disease before it becomes irreversible).
http://diabetes.niddk.nih.gov/about/dateline/spri02/1.htm
Một chế
độ dinh dưỡng thích nghi có nghĩa là ăn nhiều rau cải trái cây,
đậu, hạt dẻ, thực phẩm làm từ bột thô không tinh chế
(unrefined complex carbohydrate), giảm việc ăn thịt đỏ (heo,
bò) và thay thế bằng thịt trắng như thịt gà hay cá. Ngoài ra,
cần nên tránh ăn nhiều dầu mỡ và muối.
Trong
quá khứ, North Calorina University và Toronto University (Dr
David Jenkins) đã thực hiện nhiều khảo cứu về dinh dưỡng nói lên
sự ích lợi của việc ăn chay để ngừa bệnh tiểu đường và
cholesterol trong máu. Tuy vậy, cũng cần nên biết là ăn chay
phải cho đúng cách nếu không thì cũng vẫn bị bệnh tiểu đường như
thường.
http://www.vietbao.com/?ppid=45&pid=6&nid=99927
Khi đi
du lịch xa, bệnh nhân cần phải đến pharmacie lấy đủ thuốc dùng
trong suốt thời gian du lịch. Bệnh nhân mỗi ngày nên tự đo mức
độ đường huyết của mình bằng cách chích lấy một giọt máu ở đầu
ngón tay và đọc kết quả qua máy glucometer để biết tình
trạng thật sự của mình lúc đó.

Bệnh
tiểu đường cần phải được theo dõi và chữa trị suốt đời.
Tại Hoa
Kỳ, một số thuốc trị tiểu đường thường thấy sau đây:
|
Class of Agent |
Generic Name |
Trade Name(s) |
|
Sulphonylureas:
1st generation* |
tolbutamide
chlorpropamide
tolazamide |
Orinase®
Diabinese® |
|
Sulphonylureas:
2nd generation |
glyburide
glipizide
glimepiride |
Diabeta®, Micronase®,
Glynase®, Glucotrol®,
Glucotrol XL®, Amaryl® |
|
Benzoic Acid Derivatives |
repaglinide |
Prandin® |
|
Biguanides |
metformin |
Glucophage® |
|
Thiazolidinediones |
troglitazone
roziglitazone
pioglitazone |
Rezulin®
Avandia®
Actos® |
|
Alpha-glucosidase inhibitors |
acarbose
miglitol |
Precose®
Glyset® |
|
* This is not a complete list of 1st
generation sulphonylureas. Their only current
indication is cost. When costs of generic second
generation sulphonylureas become low enough, there
will not be an indication for first generation
agents any longer in the treatment of diabetes. |
Tại
Canada, các thuốc sau đây thường được bác sĩ kê toa:
-
Metformin
(Glucophage)
-
Glyburide
(Diabeta)
-
Pioglitazone
(Actos)
-
Gliclazide
(Diamicron)
Không
ít bệnh nhân tiểu đường, đồng thời với thuốc Tây, họ cũng tự
động uống thêm các loại thuốc thiên nhiên để mong giúp hạ đường
huyết cho nhanh.
Kết quả
thật sự ra sao khó có ai biết được.
http://www.yduocngaynay.com/5-5NgTChanh_HaDuongHuyet_ThuocThienNhien.htm
Nói tóm
lại, lối sống vội vả + ăn nhiều fast foods + ù lì thiếu
vận động, là những nguyên nhân quan trọng cho sự bộc phát của
những bệnh tim mạch và bệnh tiểu đường.
Người bị bệnh tiểu đường có thể dùng đường
được không?
Theo l’Association Canadienne du
Diabète, thì họ vẫn có thể ăn ngọt
được, nhưng phải ăn một cách điều độ chừng mực và vừa phải thôi.
Họ cũng có thể thay thế đường bằng cách ăn trái cây, rau cải,
hoặc bằng các sản phẩm của sữa.
Trong
một ngày họ không được ăn quá giới hạn tối đa 10%
calories từ các thức ăn ngọt. Thí dụ, một người có nhu cầu năng
lượng là 2000 calories/ngày, thì 10% tương đương là 200
calories.
Biết
rằng 1gr đường cho 4 calories...
200
calories sẽ là năng lượng của 50 grams (12 muỗng café) đường tạo
ra.
Trên
đây là những chỉ dẫn chung chung mà thôi. Bệnh trạng mỗi người
mỗi khác, nên chỉ có bác sĩ điều trị mới có thẩm quyền quyết
định.
Các nhà
khoa học Âu Mỹ đều nói rằng không có mối liên hệ trực tiếp
cho thấy đường là nguyên nhân gây ra bệnh diabetes type II.
Nhưng về mặt sinh lý học, rất có thể đường gây ra bệnh
diabetes một cách gián tiếp, chẳng hạn như
trong trường hợp chúng ta thường tiêu thụ những thức ăn thức
uống có chỉ số đường huyết (glycemic index) cao, khiến
tụy tạng bị mệt mỏi và trở nên yếu đi, vì phải thường xuyên tiết
insuline.
Gs Jim
Mann thuộc Đại Học Otago, New Zeland cũng nhận định rằng đường
gây béo phì và tình trạng nầy sẽ dẫn tới bệnh diabetes. Mập
bụng (abdominal obesity) là một mối nguy cơ (risk
factor) làm xuất hiện bệnh tiểu đường type II..
Trong
thực tế, rất khó tách rời ảnh hưởng của đường trong bệnh
diabetes. Thêm đường vào thức ăn thức uống chỉ làm tăng calories
ăn vào chớ chẳng làm gia tăng giá trị dinh dưỡng của sản phẩm.
Các khảo cứu về bệnh tiểu đường những năm gần đây nghi ngờ các
loại nước ngọt có gaz như Coca, Soda, Pepsi, Seven Up, v.v...đã
dự phần quan trọng trong sự xuất hiện của bệnh diabetes.
Vậy thì Fructose có tốt hơn không?
Đây là
đường trích từ trái cây. Fructose ảnh hưởng ít hơn các loại
đường khác trong việc làm gia tăng đường huyết, vì vậy từ trước
tới giờ các bệnh nhân diabetes thường được khuyên nên sử dụng
đường fructose để tạo vị ngọt, nhưng ngày nay thì fructose mất
dần sự sáng chói của nó.
Được
biết rằng ảnh hưởng của fructose không mấy quan trọng trong việc
kiểm soát đường huyết, vì nó không kích thích sự tiết insuline,
và tai hại hơn nữa là nó làm tăng hàm lượng loại chất béo xấu
triglyceride lên.
Sự gia
tăng triglyceride trong máu là một yếu tố làm tăng nguy cơ bệnh
tim mạch. Thí nghiệm trên súc vật cho thấy fructose còn làm tăng
sự kháng insuline (résistance à l’insuline), đồng thời
cũng làm thay đổi hiện tượng dung nạp glucose (tolérance au
glucose) và hiện tượng cao máu.
Thí
nghiệm lâm sàng sơ khởi thực hiện ở người, còn cho biết fructose
làm tăng cân do tác dụng xấu trên hàm lượng của hai hormones
liên hệ tới sự no (satiété) và sự đói (appétit)...
Đó là hormones leptine và ghréline.
Chỉ số đường huyết
(Glycemic index, GI)
là gì?
GI do
Gs David Jenkin, Canada nêu ra đầu tiên vào năm 1981. Ý niệm
nầy lần hồi đã thay thế ý niệm đường đơn giản và đường phức tạp
đã lỗi thời.
Chỉ số
đường huyết là vận tốc chuyển hóa của một carbohydrate ra
thành glucose để được hấp thụ vào máu.
Một
thức ăn có GI càng cao thì đường huyết càng tăng nhanh. Vì
vậy, các nhà dinh dưỡng khuyên chúng ta nên dùng
những thức ăn nào có GI thấp để ngăn ngừa bệnh béo phì,
bệnh tim mạch và tiểu đường type II.
Trong
thực tế, người ta thường pha trộn lẫn lộn các loại thức ăn có GI
khác nhau trong các bữa ăn hằng ngày. Nhìn chung, các loại đường
phức tạp như ngũ cốc, cơm gạo, bánh mì, pasta, spaghetti,
và các loại rau cải xanh là những thực phẩm chứa nhiều dưỡng
chất và chất xơ.
Đối với
những loại carbohydrate nầy, thì đường huyết sẽ tăng chậm
hơn là nếu dùng các loại đường đơn giản quá tinh chế như đường
cát trắng chẳng hạn.
Tuy
vậy, cũng có một vài ngoại lệ, một số chất đường phức tạp như
gạo trắng, pain blanc, bắp, khoai Tây lại có GI
cao hơn một số đường đơn giản.
GI cũng
có thể thay đổi tùy theo nhiều yếu tố khác nhau như: tùy theo
kích thước các phân tử tạo nên sản phẩm, chẳng hạn như cereal
càng nhuyễn, càng tinh chế thì có GI càng cao; tùy theo cơ
cấu sinh hóa (thí dụ gạo Basmati chứa nhiều đường
amylose nên có GI thấp hơn gạo trắng hạt dài, là thứ gạo
chúng ta ăn hằng ngày); tùy theo cách biến chế nấu nướng, như
khoai Tây nấu chín trong nồi có GI thấp hơn khoai Tây đút lò;
bột khoai Tây (purée, flocon de pomme de terre) có GI cao
hơn GI khoai Tây nguyên củ; carotte tươi có GI thấp hơn GI
carotte nấu chín, v.v…
Trong
lĩnh vực thể thao, ý niệm GI rất được các vận động viên quan tâm
đến.
Trước
hôm ngày tranh tài, nên ăn những loại thực phẩm có GI thấp và GI
trung bình, như pasta, spaghetti, chuối, yogurt để dự trữ
năng lượng…
Ngày
tranh tài, thì dùng những thức ăn dễ tiêu, có GI cao như các
thỏi bánh kẹo ngọt có nhiều đường và vitamins.
Ngay
sau khi kết thúc cuộc thi đấu, nên ăn những món có GI cao để bù
đấp lại nhanh chóng năng lượng tiêu hao.
Đây là
một nguyên tắc thường được các người tham dự các cuộc chạy
marathon áp dụng.
Tải lượng đường huyết
(charge glycémique, glycemic load
hay
GL)
là gì?
Ý niệm
rất mới mẻ trong dinh dưỡng.
GL bổ
túc cho chỉ số đường huyết GI. Tải lượng đường huyết GL có tác
dụng ước định khả năng làm tăng đường huyết của một phần chuẩn
(par portion, per serving) của một thức ăn nào đó.
Người ta tính GL bằng cách lấy GI nhân cho số lượng glucides (g)
chứa trong phần chuẩn của sản phẩm, sau đó chia cho 100:
GL= GI x quantity glucides (g) per serving/100
Thí dụ:
1 serving cereal corn flake 30g có GI 82 và có chứa 25g glucide.
GL của nó sẽ là
25 x
82/100 = 20,5
Tóm
lại, GI là thước đo chất lượng của glucides và GL là
thước đo số lượng của glucide hiện diện trong một thức
ăn.
Tải
lượng GL của một phần chuẩn thức ăn:
-
GL thấp nếu
dưới 10
-
GL trung
bình từ 11 đến 19
-
GL cao nếu
từ 20 trở lên
Tải
lượng GL trong một ngày:
-
thấp nếu
dưới 80
-
cao nếu từ
120 trở lên
Tiêu
thụ thức ăn có GI cao mà đồng thời chứa ít chất xơ thì rất dễ
làm xáo trộn đường huyết. Lâu ngày có thể làm tăng nguy cơ xuất
hiện bệnh diabetes type II và bệnh tim mạch.
Ý niệm
tải lượng đường huyết GL được nhiều nhà dinh dưỡng ưa chuộng hơn
ý niệm chỉ số đường huyết GI, vì lý do GL phản ảnh đồng thời số
lượng và chất lượng của glucide trong một thức ăn.
Chỉ số đường huyết GI của một vài
loại thực phẩm.
+Thức ăn chuẩn là Glucose có GI = 100
+Thức ăn có GI thấp hơn 55:
Đậu
nành -
đậu phọng (15), đậu xanh (30), đậu trắng
(38), đậu đỏ (40), sữa (30), yogurt (35), cam (40), táo pomme
(39) , biscuit khô (55), bột lúa mạch oat (50), bún
(35), gạo Basmati có nhiều amylose (50),
carotte tươi (35), fructose hay đường trái cây (20),
gạo lức - đậu petit pois - khoai lang -
bánh mì multigrain - pain au son
(45), rau cải xanh - tomate - cà tím,
ớt xanh - hành tỏi - nấm rơm (10), bưởi (22), cam
(43), trái poire (36), khoai mỡ (51), xoài (55), trái
pêche tươi (28), nước trái táo pomme (48), nho tươi
(43).
+Thức ăn có GI trung bình 56 - 69:
Càrem
(59), nước cam lon (65), chuối (62), đu đủ (60), pain blé
entier, wholemeal bread (69), trái kiwi (58), nho khô
(64), đường cát sucrose, saccharose (65), khóm (66).
+Thức
ăn có GI cao trên 70:
Carotte
chín (85), pain blanc (70), cơm trắng gạo hạt dài (72)
chứa ít amylose, gạo tấm broken rice (86), nếp
(98), các loại cereal, cornflakes (80), mật ong (
90), Pepsi Coca (70), riz instantané (90), maltose
beer (110), khoai Tây chiên fries hay
khoai đút lò (95), khoai tây nấu chín (70), dưa hấu (72),
bí rợ (75), corn chip (72), bánh biscuit
khô cracker (78), bánh mì baguette (95).
**Chú ý: Cơm, nếp (xôi chè,
bánh tét, bánh chưng, v.v...), bánh mì baguette, là những món mà
đa số người VN mình đều ăn thường xuyên.
Đây
cũng là những món có GI cao rất dễ làm tăng đường huyết.
Nên
tránh hoặc ăn thật ít nếu chúng ta đang có vấn đề tiểu đường.
Nên
thay thế chúng bằng những thức ăn có chỉ số GI thấp như bún,
miếng, rau cải luộc hoặc cơm gạo Basmati...
Ăn để giảm mập
«Je
mange, donc je maigris»...
Đây là
tựa đề một quyển sách của Michel Montignac. Ông này là người
Pháp và cũng là một nhà dinh dưỡng tự học lấy, nhưng ông ta lại
có sáng kiến độc đáo đánh trúng vào yếu điểm của dân Tây phương
là ai ai cũng đều sợ mập cả.
Theo
Montignac, thì năng lượng calories không đáng cho ta quan tâm
đến. Thịt, mỡ, chất đạm, chất béo cũng không đáng ngại. Thủ phạm
của tình trạng béo phì, vẫn theo Montignac, là đường, và các
carbohydrate quá tinh chế (raffiné, refined), như các
loại khoai Tây, white bread, đường cát trắng, v.v…
Muốn
giảm cân thì cần tránh những thực phẩm có GI cao, chỉ nên dùng
những thức ăn nào có GI thấp dưới 50 mà thôi, và phải
biết cách phối hợp các loại thức ăn với nhau cũng như cần ăn
nhiều rau cải trái cây có nhiều chất xơ. Ăn bao nhiêu thức ăn
cũng được, ăn cho đến no thì thôi, không cần phải hạn chế số
lượng ăn vào.
Lẽ dĩ
nhiên, là ý niệm quá cách mạng của Montignac đã làm phần lớn các
nhà dinh dưỡng nhảy nhỏm lên hết. Phương pháp Montignac đã bị
công kích, đã phá khắp mọi nơi. Tuy vậy, Montignac vẫn tìm được
một số đồng minh cho thuyết dinh dưỡng của mình.
Tại
Quebec/Canada, Bs Dumesnil chuyên khoa tim mạch đã hết lòng bênh
vực Montignac. Ông lang Tây này nói là đã áp dụng thành công và
hiệu quả phương pháp Montignac, và nó đã giúp ông sụt được 21 kg
trong vòng có 6 tháng mà thôi (?).
Rất
nhiều người trên thế giới đã theo phương pháp Montignac và xem
nó như một loại mode trong cuộc sống vậy.
Hiệp
hội các nhà dinh dưỡng Quebec đã đưa ra nhận xét là phương pháp
Montignac là dỏm, rất nguy hiểm và thiếu cơ sở khoa học cũng như
thiếu những thử nghiệm lâm sàng đáng tin cậy...
Thực
chất của phương pháp Montignac là việc giảm thiểu đáng kể của số
lượng calories ăn vào mà thôi. Phương pháp này cũng nguy hiểm vì
nó không quan trọng hóa các loại chất béo và mỡ dầu ăn vào, cũng
như nó không đặt nặng việc cần phải vận động tập thể dục để có
một sức khỏe tốt.
Ai chê,
ai khen mặc ai, Montignac vẫn phây phây và đã trở thành triệu
phú nhờ vào hằng triệu sách bestseller của ông bán ra,
cũng như vô số trung tâm dinh dưỡng theo phương pháp Montignac
mọc lên khắp thế giới.
Chế độ ăn uống ít chất
đường/bột đường
(Low carb
diet)
Từ hơn
30 năm nay, tại Hoa Kỳ, Bs Robert Atkins, chuyên khoa tim mạch
đã hết lòng quảng bá và bảo vệ thuyết dinh dưỡng do ông đề xướng
ra, đó là cách ăn uống ít đường và bột đường, nhưng ăn nhiều
thịt nhiều mỡ để giảm cân. Tiếng Anh gọi là Low carb diet.
Theo
ông ta, ăn nhiều carbohydrate sẽ tạo ra nhiều glucose
trong máu, đồng thời tụy tạng sẽ tiết nhiều insulin. Số
glucose thặng dư được chuyển thành mỡ và chất insulin
sẽ giúp vào sự tích tụ của mỡ trong cơ thể. Thông thường, lối
60% năng lượng của cơ thể có nguồn gốc từ các loại đường và bột
đường ăn vào.
Vậy
muốn giảm mập thì phải giảm chất carbohydrate xuống còn
lối 40g/ngày và tăng khối lượng chất đạm của thịt ăn vào. Trong
tình trạng thiếu glucose này, cơ thể bắt buộc phải làm
thoái biến số mỡ dự trữ ra thành các acid béo và gan sẽ chuyển
chúng thành các chất ketones. Chất này là nguồn năng
lượng của cơ thể trong điều kiện ăn uống ít chất carbohydrate.
Hiện
tượng sinh hóa này khoa học gọi là benign dietary ketosis
và là căn bản của Atkins diet.
Thuyết
low carb của Atkins có vẻ ngược đời nên đã bị cộng đồng
khoa học chỉ trích thậm tệ và cá nhân Bs Atkins bị ngạo báng hết
cỡ.
Mặc dù
vậy, Low carb diet cũng được hằng triệu người Hoa
Kỳ hoan nghênh, trong số có nhiều tài tử Hollywood.
Họ nói
Atkins diet đã thật sự giúp họ giảm cân một cách mau lẹ?
Bs
Atkins và phe nhóm của ông ta đã trở thành triệu phú nhờ vào
việc bán sách chỉ dẫn phương pháp dinh dưỡng Low carb
cũng và như nhờ vào sự khai thác các cơ sở kinh doanh Atkins
Nutritionnals.
Ngày
nay, phong trào dinh dưỡng Low carb diet đã trở thành một
lối sống mới đối với một số lớn người tiêu thụ, cho nên kỹ nghệ
thực phẩm và các hệ thống nhà hàng fast foods như Mac
Donald cũng nhảy vô ăn có, tạo ra vô số sản phẩm ít đường và bột
đường để mong giành giựt thị trường với các sản phẩm Atkins.
Beer
low carb chai 12 oz chứa 2.5g carbohydrate và 97
calories, trong khi loại beer regular có 13g carb. và 146
calories.
Vậy
thực chất của low carb diet là gì? có tốt cho sức khỏe
hay không? Hầu như tất cả các nhà khoa học về dinh dưỡng đều
chống đối mãnh liệt phương pháp dinh dưỡng của Bs Atkins. Họ
nói, low carb diet có thể có hiệu quả ngắn hạn, nhưng rất
nguy hiểm cho sức khỏe về lâu về dài.
Một chế
độ nhiều đạm động vật, nhiều mỡ dầu nhất là cholesterol và chất
béo bão hòa sẽ dẫn đến các bệnh về tim mạch, làm nghẽn mạch máu,
gây tai biến mạch máu não và làm gia tăng nguy cơ xuất hiện của
vài loại cancer.
Ngoài
ra, một khẩu phần quá nhiều đạm động vật có thể rất có hại cho
thận, cho gan và dễ dẫn đến tình trạng loãng xương
(osteoporosis). Vì thiếu chất bột đường (gạo, bánh mì,
pasta, ngũ cốc, đậu) và rau quả nên cơ thể sẽ thiếu rất
nhiều dưỡng chất thiết yếu như vitamins cũng như thiếu chất xơ
khác để có được một sự tiêu hóa tốt.
The
American Heart Association cũng đã
bày tỏ nỗi lo ngại của mình đối với phương pháp Atkins. Dòng đời
không phải lúc nào cũng bằng phẳng cả đâu. Một biến cố quan
trọng gần đây đã làm mọi người bàng hoàng và hoài nghi về thuyết
dinh dưỡng Atkins.
Ngày 8
tháng 4 năm 2003, cha đẻ của thuyết low carb diet trượt
té trên đường phố New York, bị hôn mê bất tỉnh trong 9 ngày rồi
chết sau đó. Phúc trình khám nghiệm cho biết nạn nhân 72 tuổi,
rất béo phì cân được 258lbs là sức nặng trên mức quy định sức
khỏe, và rất có thể ông ta đã chết vì bệnh tim.
Lẽ
đương nhiên, bà vợ và phe nhóm của Bs Atkins đã cực lực cải
chính và nói rằng nạn nhân đã chết vì bị chấn thương sọ não mà
thôi. Theo họ, ông có vẻ mập vì đã được tiếp quá nhiều dịch
truyền? Họ nghi phúc trình bệnh viện là âm mưu triệt hạ uy tín
của Bs Atkins cũng như để đã phá thuyết low carb diet
mà thôi?
Thật ra
lúc còn sống, nhân một buổi phỏng vấn Tv, Bs Atkins đã xác nhận
là ông cũng có vấn đề tim nhưng mà nhẹ thôi.
Không
biết trong tương lai sẽ còn thuyết gì nữa đây?
Ai cũng
sợ bệnh, ai cũng sợ chết hết, cho nên những gì nghe được, có vẻ
hơi bùi tai và hơi hợp lý một chút thì rất dễ bị mê hoặc.
Đường hóa học và các chất thay thế đường
Đây là
những chất có vị ngọt nhưng tạo ra rất ít calories.
Người
ta chia chúng ra làm 2 nhóm:
1)-
Nhóm có tính dinh dưỡng (édulcorants nutritifs):
Xylitol, Sorbitol và Mannitol,
là những chất được làm từ trái cây. Người ta còn gọi những chất
nầy là đường rượu (sucre alcoolique). Chúng có vị ngọt,
nhưng lại có thêm tính nhuận trường nữa. Ăn trên 30g/ngày có thể
bị tiêu chảy...
Mỗi
gram của các chất này chỉ cho ra có 2 calories, trong khi đường
cát cho ra 4 calo.
Các
loại đường này không mấy phổ biến cho lắm, chỉ thấy được sử dụng
trong một số sản phẩm, chẳng hạn như trong kẹo chewing gum.
2)-
Nhóm không có tính dinh dưỡng (édulcorants non nutrtifs):
Những
chất này không tạo ra năng lượng, nhưng lại có vị ngọt gấp cả
trăm lần đường cát. Chúng thường được đựng trong các bao nho nhỏ
màu xanh, vàng hoặc hường để chúng ta bỏ vào café.
Kỹ nghệ
thực phẩm cũng sử dụng các loại đường hóa học này để tạo vị ngọt
cho các loại sản phẩm nhược năng lượng (hypocaloric) và
các thực phẩm diet. Đây là những chất tổng hợp hóa học để
tạo vị ngọt (édulcorant synthétique) và thường được phân
chia ra làm hai nhóm:
* nhóm
thế hệ thứ nhất: saccharine, sodium cyclamate, aspartame.
* nhóm
thế hệ thứ nhì: sucralose (Splenda), acésulfame-potassium
(Sunnet, Sweet One, Acek)), neotame, alitame.
Thông
dụng nhất, là chất aspartame mà chúng ta thấy trong các
thức ăn thức uống diet.
Tuy
nhiên cũng có dư luận cho rằng ăn thường xuyên các loại đường
hóa học sẽ không tốt cho sức khoẻ.
Phe
chống đối đường hóa học quả quyết rằng chất aspartame gây
nhức đầu (migraine) cũng như có thể gây cancer não.
Được
biết một phần aspartame sẽ chuyển thành methanol trong
bao tử và chất nầy sau đó sẽ phân hóa thành formaldehyde và
acide formique là chất độc cho hệ thần kinh.
Họ còn
nói là trong cơ thể aspartame còn bị phân cắt ra thành acide
aspartique và phénylalanine.
Đối với
những người bị bệnh phenylketonuria (PKU), là một bệnh rất hiếm
thấy do sự lệch lạc của một gene, khiến cơ thể không tạo ra được
enzyme để khử chất phenylalanine, do đó chất nầy tăng nhiều
trong máu và gây tổn hại đến hệ thần kinh trung ương.
Thí
nghiệm cho thấy, chất saccharine (Twin, Sweet N Low) ở
liều lượng thật lớn nó có thể gây cancer bọng đái ở loài chuột.
Ngày
nay tại Canada, saccharine và sodium cyclamate
(Sucaryl, Twin sugar) bị rút ra khỏi danh sách các chất phụ gia
và bị cấm sử dụng trong kỹ nghệ, nhưng vẫn còn được cho phép sử
dụng với liều lượng nhỏ để chúng ta tự bỏ vào café.
Phe cổ
võ chất aspartame lẽ đương nhiên là giới kỹ nghệ thực phẩm, nhà
nước, FDA, Health Canada, các trung tâm nghiên cứu trong các đại
học, National Cancer Institute Hoa Kỳ, Tổ chức Autorité
Européenne de Sécurité des Aliments EFSA, Tổ chức y tế thế giới
OMS, tổ chức Lương nông FAO thuộc Liên Hiệp Quốc...tất cả đều
khẳng định là trong điều kiện sử dụng bình thường, chất
aspartame rất an toàn cho sức khỏe cũng như chẳng có mối
liên hệ nào với bệnh cancer cả.
Được
biết chủ nhân ông của aspartame là đại tổ họp quốc tế
Monsanto.
Trên
thế giới, aspartame (Nutrasweet, Equal, Egal,
Canderel...) được sử dụng rộng rãi trong khoảng 6000 loại mặt
hàng và sucralose có mặt trong lối 4000 sản phẩm.
Ý niệm
về sự an toàn hoặc không an toàn của đường hóa học rất thay đổi
tùy theo từng quốc gia... Alitame được sử dụng tại
Mexique, Úc châu và Trung quốc, nhưng Canada và Mỹ thì cấm...
Riêng neotame, một chất tạo vị ngọt anh em với
aspartame thì được FDA Hoa kỳ chấp thuận từ 2002, nhưng
Canada thì chưa cho phép.
Nói
chung, các nhà dinh dưỡng đều đồng ý là các loại đường hóa học
có thể giúp ích một phần nào cho con người, nhưng không thể xem
chúng là một giải pháp thỏa đáng để giúp ta có một hàm răng tốt,
để giảm cân, hoặc để kềm hãm bệnh tiểu đường.
Năm
2007 vừa qua, Bs Ramachandran Vasan, Hoa Kỳ, trong khảo cứu thực
hiện trên một nhóm 9000 ngàn người trung niên đã cho biết, là có
sự liên quan mật thiết giống như nhau, giữa sự tiêu thụ mỗi ngày
trên một lon 355ml sođa loại thường regular tức là
có chứa đường và loại diet (không có đường
sugar free), cùng với sự xuất hiện của hội chứng biến
dưỡng (metabolic syndrome) như tăng mỡ vùng bụng, cao
máu, tăng hàm lượng chất béo xấu triglyceride, giảm hàm lượng
chất cholesterol tốt HDL và tăng đường huyết.
Tất
cả các nhà khoa học kể cả Bs David Jenkins (St Micheael’s
Hospital Toronto) đều bối rối trước khám phá quá mới mẻ nầy
«Before we were saying take the diet drink and you’re ok.
Now we’re saying:
watch it»...
Bs
R.Vasan người thực hiện cuộc khảo cứu đăng trong tạp chí
Circulation: Journal of the American Heart Association cũng thắc
mắc trước kết quả. Ông ta đưa ra giả thuyết rất có thể những
người uống một hai lon soda một ngày đồng thời cũng là những
người ăn nhiều calories, nhiều chất béo bão hòa và nhiều
trans fat đều là những chất béo xấu cũng như họ là những
người ù lì ít chịu hoạt động...(We really don’t khnow, this
soda consumption may be a marker for a particular dietary
pattern or lifestyle. Individuals who drinks one or more sodas
tend to be people who have greater caloric intake. They tend to
have more of saturated fats and trans fats in their diet, they
tend to be more sedentary, they seem to have lower consumption
of fibre)...
Một
khảo cứu khác do Ts Susie Swithers thực hiện tại Purdue Univ.
Indiana và được đăng trong tạp chí Behavioral Neuroscience cho
biết thức ăn thức uống nhược năng nghĩa là chỉ có chứa đường hóa
học saccharine hoặc aspartame đều có khuynh hướng
làm xáo trộn chức năng nhận biết calories của não.
Bình
thường khi ăn ngọt thật sự, cơ thể sẽ nhận biết ngay số calories
ăn vào để sau đó kích động biến dưỡng để đốt số năng lượng thặng
dư và tăng thân nhiệt lên.
Trường
hợp sử dụng đường hóa học saccharine để tạo cảm giác ngọt giả
tạo, nhưng chẳng có calorie nào kèm theo thì cơ thể tăng nhiệt
độ rất ít và vì thế sẽ bị mập ra. Thí nghiệm đã được thực hiện
trên loài chuột. Đây là một giả thuyết rất mới mẻ và trái ngược
với ý niệm cũ là việc sử dụng các chất tạo vị ngọt hóa học như
aspartame, saccharine để giúp giảm cân.
Cần nên đọc kỹ nhãn hiệu
Thông
thường trên mỗi loại thực phẩm sản xuất theo lối công nghiệp đều
có liệt kê bản nguyên liệu (ingredients) sử dụng. Các
chất nầy đều được xếp theo thứ tự quan trọng từ nhiều tới ít,
và từ trước ra sau.
Các
danh từ tận cùng bằng chữ OSE là đường, như sucrose,
fructose, dextrose, saccharose, maltose…
Đôi khi
chúng ta cũng thấy ghi trên nhãn hiệu những câu có hàm ý đặc
biệt về một chất dinh dưỡng nào đó.
Tại
Canada, cơ quan Kiểm traThực phẩm (CFIA) có trách nhiệm ấn định
và kiểm soát sự xác thực của các nhãn hiệu. Sau đây là một vài
thí dụ:
*FAIBLE
TENEUR EN SUCRE (Low sugar): không được chứa nhiều hơn 2g
đường cho một phần chuẩn hay xuất ăn (par portion, per
serving)
*SANS
SUCRE AJOUTÉ, NON SUCRÉ (No sugar added, unsweetened):
sản phẩm có thể chứa đường một cách tự nhiên, chẳng hạn như các
loại nước trái cây, nhưng ngoài ra không có một loại đường nào
khác (như đường cát, mật ong, mật đường) được thêm vào hết.
*SANS
SUCRE (sugar free): không được chứa hơn 0.25g đường cho
100g sản phẩm và cũng không được có hơn một calorie cho mỗi
100g. Loại thức ăn nầy chứa ít đường và ít calo nhất và được xem
là thực phẩm ăn kiêng diète.
*TENEUR
RÉDUITE EN CALORIE: sản phẩm chứa 50% calorie ít hơn so với
những sản phẩm bình thường đồng loại.
*ALIMENT HYPOCALORIQUE: là những thực phẩm có số calorie giảm
cũng như không thể chứa hơn 15 calories cho mỗi phần chuẩn hay
xuất ăn.
*SOURCE
DE FIBRES ALIMENTAIRES: ít nhất phải chứa 2g chất xơ cho mỗi
phần chuẩn.
*SOURCE ÉLEVÉE DE FIBRES: phải chứa ít nhất 4g chất xơ cho mỗi
phần chuẩn.
*SOURCE TRÈS ÉLEVÉE DE FIBRES: phải có ít nhất 6g chất xơ
cho mỗi phần chuẩn.
Khuyến cáo của cơ quan Liên Hiệp Quốc
Tổ chức
Y tế Thế Giới (WHO) và Cơ Quan Lương Nông Quốc Tế (FAO) vừa phối
hợp nghiên cứu và đồng khuyến cáo mọi người nên cắt giảm số
calories do đường mang vào xuống dưới mức 10%.
Nói một
cách dễ hiểu, nếu tổng số nhu cầu của một người là 2000
calories/ngày, thì calories do đường tinh chế tạo nên phải thấp
hơn 200.
Được
biết, 1g đường cho 4 calories, 1 muỗng café đường có khoảng 16
calories và 1 lon Coke regular chứa lối 9 muỗng đường tương
đương với 145 calories.
Mục
đích của Cơ Quan Liên Hiệp Quốc là nhằm giúp ngăn chặn phần nào
các loại bệnh mạn tính cũng như các bệnh về tim mạch, bệnh béo
phì, bệnh tiểu đường và một vài loại cancer.
Để duy
trì một sức khỏe tốt, chúng ta cần theo đuổi một chế độ dinh
dưỡng ít dầu mỡ, ít đường, ít muối, không được dùng quá
2400 mg sodium hay 5g muối tương đương với 1 muỗng café
muối ăn trong 1 ngày.
Đồng
thời cần phải ăn nhiều rau cải, trái cây tươi và nên vận
động, tập thể dục thường xuyên.
Chắc
chắn là khuyến cáo nầy không làm hài lòng kỹ nghệ bánh kẹo và kỹ
nghệ nước ngọt rồi. Một tài liệu khảo cứu mới vừa được phổ biến
trong tạp chí JAMA, August 2004 cũng đưa kết luận là các loại
nước ngọt classic hay regular như Coke, Pepsi,
Soda….vì chứa quá nhiều đường nên là một trong nhiều nguyên nhân
quan trọng làm gia tăng sự xuất hiện của bệnh tiểu đường type II
ở Hoa Kỳ.
Một khảo cứu đã làm nhiều nhà khoa học bối
rối
http://www.medscape.com/viewarticle/570063
Từ
trước tới giờ, các nhà khoa học vẫn cho rằng kim chỉ nam trong
vấn đề trị liệu bệnh tiểu đường là việc kiểm soát đường huyết
glycémie để đem nó xuống mức bình thường hoặc gần với mức bình
thường cũng như việc phòng ngừa các biến chứng về tim mạch do
đường huyết cao gây nên.
Theo
Association canadienne du Diabète, thì mức glycémie bình thường
(sau khi đã nhịn ăn 8 tiếng đồng hồ) phải ở mức thấp hơn
6.1mmol/L và nếu từ 7.0mmol/L trở lên là bị diabetes.
Còn
theo American Diabetes Association, glycémie normale phải thấp
hơn 110mg/dl, và nếu trên 126ml/dl là bị tiểu đường.
Tuy
nhiên, một công trình khảo cứu về đường huyết vừa được phổ biến
trong Medscape Medical News Feb 12/2008 đã làm tất cả các nhà
khoa học sửng sốt và hết sức bối rối.
Khảo
cứu nầy được thực hiện tại Hoa kỳ từ nhiều năm qua trên hơn
10.000 người trung niên hoặc ở lớp tuổi cao hơn đang mắc bệnh
tiểu đường type II.
Khảo
cứu mang tên: Action to Control Cardiovascular risk in
Diabetes (Accord).
Qua đối
chiếu và so sánh kết quả của bốn năm theo dõi thí nghiệm thì họ
thấy trong nhóm bệnh nhân áp dụng phương pháp trị liệu tích cực
để hạ glycémie (intensive glycemic control arm)
xuống được gần mức bình thường thì chính trong nhóm nầy lại có
số người bị tử vong vì bệnh tim mạch như nhồi máu cơ tim cao hơn
nhóm bệnh nhân đã theo đuổi một cách ít tích cực và hời hợt
trong việc kiểm soát đường huyết.
Rõ ràng
đây là kết quả trái ngược với những gì khoa học mong đợi. Thí
nghiệm đã bị đình chỉ ngay sau đó.
Các giả
thuyết được đưa ra để giải thích kết quả trên: tử vong thường
xảy ra ở nhóm bệnh nhân tuổi đã cao trên 62, đồng thời cũng đã
mắc phải bệnh về tim mạch như cholesterol cao hoặc có huyết áp
cao từ trước đó, cũng có thể do hiện tượng tương tác
interaction giữa nhiều loại dược phẩm với nhau, hoặc do sự
kiện sử dụng các loại thuốc để làm hạ đường huyết xuống một cách
quá nhanh.
Tuy
vậy, các nhà khoa học vẫn duy trì nguyên tắc làm hạ đường huyết
xuống mức bình thường như một giáo điều trong việc chữa trị bệnh
tiểu đường.
Quả
thật là điều khó giải thích rất bối rối cho mọi người!.
Kết luận
Thời
đại nào, xã hội nào cũng thế, thức ăn ngọt vẫn dễ hấp dẫn mọi
người.
Tại
Canada, từ 1986 đến 1996, các sản phẩm ngọt đã tăng vọt lên hơn
102%, trong số này nước ngọt tăng hơn 5%.
Số
người bị béo phì tăng lên một cách đáng ngại, 25% ở trẻ em và
50% ở người lớn.
Công ty
Coca Cola và Pepsi Cola không ngừng tìm mọi cách để xâm chiếm
thị trường, và khai thác thị hiếu hảo ngọt của dân chúng, đặc
biệt là giới trẻ em, sinh viên học sinh.
Các nhà
dinh dưỡng thường xếp các loại thức ăn thức uống bán trong máy
(bánh, kẹo, chip, chocolat, Coca Pepsi, v.v...) vào nhóm tạp
phẩm (junk food), không bổ dưỡng gì hết vì chứa nhiều
calorie rỗng (empty calorie), nhiều đường, nhiều
caffeine, nhiều gaz và chất hóa học...nhưng lại không có hoặc có
rất ít vitamins.
Sức
mạnh của đồng tiền là như thế đó! Ai chết mặc ai, tiền ông bỏ
túi.
Cuối
cùng, cũng cần phải nói đến một loại vị ngọt cũng khá hấp dẫn
đối với một số các đấng mày râu bất luận tuổi tác, nhưng lại hay
có tính hảo ngọt thích mật, thích đường.
Nếu
thuận nhân hòa địa lợi hay gặp hoàn cảnh thuận tiện, tiền bạc
xủng xỉn và cộng thêm một sinh lực dồi dào thì tính hảo ngọt lại
càng dễ bộc phát ra hơn nữa.
Tuy
không làm tăng đường huyết, nhưng nó lại làm tăng adrenaline
và nhịp tim nhiều lắm. Đôi lúc nó cũng có thể làm xáo trộn
luôn cả một mái ấm gia đình nữa.
Ôi
hảo ngọt là như thế đó!
Tài liệu tham khảo:
*
The glycemic index
www.mendosa.com
http://www.mendosa.com/gilists.htm
*Montignac, Conseils en nutrition.
www.montignac-intl.com
*Jennifer R Scott, An Overwiew to the Atkins Diet. May
06, 2007
http://weightloss.about.com/od/theatkinsdiet/a/atkinsoverview.htm
*AHA
Scientific Position on Carbohydrates & Sugars. Feb 10,2008
http://www.americanheart.org/presenter.jhtml?identifier=4471
*Matthias B. Schulze et al, Sugar- Sweetened
Beverages, Weight Gain, and Incidence
Of Type 2 Diabetes in Young and Middle-Aged Women; JAMA,
August 25,
2004, No 8
http://jama.ama-assn.org/cgi/content/abstract/292/8/927
*Passport santé.net. Sucré sans
sucre et sans danger?
http://www.passeportsante.net/fr/Actualites/Dossiers/DossierComplexe.aspx?doc=edulcorant_do
*CBC News. Diet soft drinks linked
to health risks: study. july 24, 2007
http://www.cbc.ca/health/story/2007/07/24/sodapop-consumer.html
*Susie Swithers,Terry Davidson. Study: Artificial sweetener
may disrupt body’s ability to count calories.
Behavorial NeuroScience, Purdue Univ. Indiana. July 2004
http://www.purdue.edu/UNS/html4ever/2004/040629.Swithers.research.html
*AHA Dietary Guidelines. Feb 10, 2008
http://circ.ahajournals.org/cgi/reprint/102/18/2284.pdf
*Dr S.Hughes. Intensive-Glycemic- Control-Arm ACCORD Stopped.Medscape
Feb12, 2008
http://www.medscape.com/viewarticle/570063
*Bs
Nguyễn văn Thịnh. Công trình nghiên cứu mới về bệnh đái đường
làm sửng sốt các thầy thuốc. Thời sự y học số 64.
Yduocngaynay.com Feb 12, 2008
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr64.htm
*Bs Thú y Nguyễn thượng Chánh: Cây cỏ ngọt. khoahoc.net
Dec 2006
http://www.khoahoc.net/baivo/nguyenthuongchanh/141206-caycongot.htm
Montreal, March 01, 2008
Trở về Trang Chính
|