|
Ăn chay
(còn được gọi
là ăn lạt) không phải là vấn đề mới mẻ gì đối với người
VN mình. Ngược
lại, các dân tộc Tây phương,
từ vài chục năm nay đã xem việc không
ăn thịt, không ăn cá là một phương
pháp dưỡng sinh
mới để duy trì một sức khỏe tốt. Trong bài viết nầy vấn đề ăn
chay được trình
bày qua cái nhìn của khoa học dinh dưỡng.
Các lý do khác, như tôn
giáo, tín ngưỡng,
bảo vệ súc vật bảo vệ môi sinh và sinh thái đều nằm ngoài khả
năng hiểu biết của người
viết.
ĂN
CHAY CŨNG CÓ LẮM KIỂU
Thường
thì ăn chay có nghĩa là không ăn thịt và cá cũng như
bất cứ sản phẩm nào xuất phát từ loài
vật. Nếu uống sữa và ăn những sản phẩm được
làm từ sữa thì gọi là lacto vegetarian...Không uống sữa
nhưng lại ăn
hột gà, đó là ovo vegetarian...Còn vừa dùng cả sữa lẫn
hột gà thì người
ta gọi là ovo lacto vegetarian...Những ai ăn chay trường
một cách khắc khe thuần túy thì tiếng Anh gọi là những vegan
còn tiếng Pháp là végétarien strict hay végétalien.
Kiểu ăn chay nửa vời hay ăn uyễn (semi vegetarian) thì
không ăn thịt đỏ (thịt heo, bò, dê, cừu) nhưng
lại dùng thịt trắng (thịt gà, gà Tây),
cá, trứng gà và sữa...Dễ nhất là ăn chay kiểu tài tử, nghĩa là
bỏ bớt thịt cá, ăn nhiều rau đậu, tàu hũ và lúc nào cảm thấy
cần, lúc nào thèm, lúc nào nhớ thì ăn cũng như nếu cuối tuần
phải tiệc tùng, party liên miên, đám cưới
đám giỗ lu bù, ăn nhiều thịt nhiều dầu mỡ quá, thì bù lại thứ
hai hoặc thứ ba nên ăn chay để giúp cơ thể
nghỉ xả hơi đôi
chút trong 1-2 ngày...Đây là lối ăn đổi món, giúp cơ thể nghỉ
ngơi, bớt dầu bớt mỡ. Ăn thịt hoài cũng ngán, lâu lâu đổi bữa,
ăn chay lạ miệng cũng thấy ngon!
ĂN
CHAY CÓ ÍCH LỢI GÌ?
Một chế
độ ăn chay được
chuẩn bị kỹ lưỡng
dựa trên cơ sở
dinh dưỡng quân
bình sẽ giúp cho chúng ta có một sức khỏe tốt. Các nhà khoa học
đều cho biết là nhờ không ăn thịt, không ăn cá nên số lượng
chất béo bão hòa (saturated fat), là loại chất béo xấu
tiêu thụ cũng giảm bớt đi...Chất béo bão hòa có khuynh hướng
kích thích gan sản xuất thêm cholesterol và làm tăng hàm lượng
của chất nầy trong máu lên cao. Hậu quả là làm xơ
cứng động mạch, làm nghẽn mạch vành
của tim, gây đau thắt ngực, tăng nguy cơ đột quỵ tim, tăng áp
huyết động mạch và có thể dẫn đến tai biến mạch máu não! Thực
phẩm chay thường
dùng đều có nguồn gốc thực vật nên chứa nhiều chất xơ
nhưng chứa rất ít chất béo bão hòa.
Tuy nhiên có 2 loại dầu thực vật cần nên để ý vì chúng có chứa
một tỷ lệ chất béo bão hòa thật cao, đó là dầu dừa (kể cả nước
cốt dừa) và dầu cọ (palm oil). Ngoài việc
ngừa được các
bệnh về tim mạch và giúp giảm phần nào áp huyết động mạch, người
ăn chay ít mắc phải những bệnh mãn tính, cũng như
ít bị hiện tượng kết tụ sỏi sạn trong
thận và trong túi mật. Việc ăn chay còn có thể làm giảm nguy cơ
xuất hiện của một số bệnh ung thư,
như cancer
ruột già, cancer vú và cancer tiền liệt tuyến (prostate).
Năm 2002, tập chí Metabolism có đăng bài khảo cứu của G.s David
Jenkins về vấn đề ăn chay. Thí nghiệm đã được
thực hiện tại đại học Toronto và bệnh viện St Michael’s ở
Canada. Kết quả cho biết, việc ăn chay có thể làm giảm hàm lượng
cholesterol xấu (LDL) trong máu xuống 29%. Hạt hạnh nhân (almond)
là một loại thức ăn rất tốt để kéo cholesterol xuống một cách
thật đáng kể. Thực phẩm chay chứa nhiều chất xơ,
ít chất béo, ít calories nên giúp người
ăn chay ít hay bị táo bón và ít bị bị béo phì hơn
những người ăn
mặn... Đối với bệnh tiểu đường
loại II, là loại bệnh rất phổ biến và thường
xảy ra ở những người
trên 40-50 tuổi, chế độ ăn chay có thể rất có ích cho họ để ổn
định phần nào đường
lượng máu! Đại
học North Calorina Hoa Kỳ cho biết một chế độ dinh dưỡng
gồm nhiều rau đậu và trái cây tươi,
cộng thêm việc năng vận động và tập thể dục thường
xuyên là những nhân tố cần thiết để làm giảm nguy cơ
xuất hiện bệnh chứng loãng xương
(osteoporosis)
ở phụ nữ. Ngoài những sự ích lợi vừa kể thì rau quả, ngũ cốc
cũng như các
loại hạt còn chứa nhiều vitamins và các chất chống oxyt hóa (antioxydants)
như vitamin E,
vitamin C và chất bêta caroten. Các chất nầy thanh lọc
bớt chất bẩn trong tế bào và giúp chúng hoạt động một cách hữu
hiệu hơn.
Các nhà khoa học đều nghĩ rằng các
chất antioxydants đã dự phần quan trọng trong việc làm
giảm nguy cơ
xuất hiện của một vài loại bệnh ung thư! Gần đây, tập chí y học
British Medical Journal có đăng kết quả khảo cứu về mối liên hệ
giữa việc ăn chay và sự thông minh của 8000 người tình nguyện
tại University of Southampton trong vòng 20 năm. Họ đo chỉ số
thông minh IQ của các em nhỏ lúc 10 tuổi, sau đó là đo lại IQ
lúc được 30 tuổi. Tờ báo nầy nói rằng những người theo chế độ ăn
chay từ nhiều năm và đồng thời cũng có uống hoặc dùng sản phẩm
làm từ sữa thì đến lúc 30 tuổi họ có chỉ số thông minh IQ là
105, tức là cao hơn gần 5 điểm so với IQ của những người ăn mặn!
ĂN
CHAY PHẢI CHO ĐÚNG CÁCH
Nguyên
tắc chính là phải có sự quân bình giữa các chất dinh dưỡng.
Để tránh tình trạng thiếu chất bổ, người
ăn chay phải biết cách phối hợp nhiều loại thức ăn lại với nhau.
Tùy theo lối ăn chay của mỗi người
mà có cần nên uống thêm sữa hoặc các loại supplements như
Calcium, vitamin D, vitamin B12 hoặc chất sắt (Fe) hay
không. Nên quan tâm đặc biệt đến các chất dinh dưỡng
sau đây:
PROTEIN: Chất đạm giúp tạo lập
tế bào, mô, hormones, enzyms, và các chất kháng thể. Proteins có
được là do sự
kết hợp của nhiều chuỗi amino acids...Có tất cả 20
amino acids, phần lớn đều do cơ
thể sản xuất ra. Phần còn lại, gồm 9 amino acids cơ
thể không tạo được
mà phải nhờ thực phẩm đem vào từ bên ngoài. Người
ta gọi 9 amino acids nầy là những amino acids
thiết yếu (essential amino acids). Chúng rất cần thiết
trong việc tổng hợp Protein. Thịt được
gọi là protein trọn vẹn (complete protein) vì có chứa hầu
như đầy đủ các
amino acids thiết yếu. Ngoài thịt ra, trứng (lòng trắng)
và sữa đều là nguồn Protein rất tốt...Thực phẩm gốc thực
vật vì thường
thiếu một hay nhiều amino acids thiết yếu nên được
xem là protein không trọn vẹn (incomplete protein) kém
chất lượng hơn
Protein gốc động vật. Tùy theo loại
thực phẩm mà thành phần và số lượng
amino acids thiết yếu chứa đựng sẽ khác nhau. Ngũ cốc,
đậu (đậu trắng, đậu đỏ, đậu xanh, đậu nành, đậu lentils,
đậu Lima, đậu peas, v.v…) và các loại hạt, như
hạt dẻ (nut), hạt hạnh nhân (almond) đều có chứa
chất đạm Protein. Trong chế độ ăn chay, việc kết hợp nhiều
loại thức ăn lại với nhau là điều rất cần thiết và mới mong có
đủ số amino acids thiết yếu để có thể tổng hợp được
Protein trọn vẹn!
KẼM (Zn): Giúp
vào việc tăng trưởng
và tái tạo tế bào...Kẽm cũng rất có ích trong tiến trình làm
lành các vết thương.
Thịt là nguồn cung cấp kẽm tốt nhất, kế đến là sữa bò và lòng đỏ
hột gà. Các thực phẩm có nguồn gốc thực vật sau đây đều có chứa
chất kẽm: rau đậu, các hạt thô (tức là chưa
kinh qua quá trình chà xát làm cho trắng cho nhuyễn), mọng lúa
mì, bắp cải, carotte, củ cải đỏ, hạt hạnh nhân, v.v… Kẽm từ
nguồn thực phẩm gốc động vật dễ được
hấp thụ hơn kẽm
từ nguồn gốc thực vật. Người
ăn chay cần phải ăn nhiều rau quả mới mong thỏa mãn đủ nhu cầu
về chất kẽm!
SẮT (Fe): Rất
cần thiết cho hồng huyết cầu để chuyển vận oxy đến các mô...Muốn
thỏa mãn đủ nhu cầu về chất sắt, người
ăn chay cần ăn thật nhiều rau cải có lá xanh đậm, nhiều đậu,
mọng lúa mì (wheat germ), các loại bánh mì làm từ hạt thô
(wholemeal bread), hạt dẻ, hạt hạnh nhân, v.v… Để giúp
chất sắt được
hấp thụ một cách dễ dàng, cần nên ăn thêm các loại thức ăn có
chứa nhiều vitamin C như cam,
quít, bưởi.
Tránh uống chung với nước
trà và café vì 2 chất nầy ngăn trở việc hấp thụ của chất sắt...Ở
thực phẩm gốc động vật thí dụ như thịt bò và gan đều có chứa rất
nhiều chất sắt. Chất sắt ở nguồn gốc động vật được cơ thể hấp
thụ dễ dàng hơn chất sắt nguồn gốc thực vật!
VITAMIN B 12
(cyanocobalamin): cần trong việc tạo
lập hồng huyết cầu, có ích cho tủy xương,
giúp tế bào
phân cắt và tăng trưởng
cũng như bảo vệ
bao myelin của dây thần kinh...Cobalamin còn dự
vào việc tổng hợp của vài loại amino acids, của acids béo và của
ADN. Vitamin B12 hoạt động phối hợp với chất folic acid
hay folate (Vitamin B9) trong các biến dưỡng
vừa kể. Vậy Vitamin B12 từ đâu mà có? B12 được
tổng hợp bởi một vài loại vi sinh vật sống trong bộ máy tiêu hóa
của thú vật. Ở các loài thú nhai lại (ruminant) như
trâu, bò, dê, cừu, hươu,
nai, vi sinh vật trong dạ cỏ (rumen) tức là bao tử thứ
nhất có nhiệm vụ chuyển hóa chất cellulose từ rơm rạ và
cỏ ra thành các chất dinh dưỡng,
đồng thời cũng tổng hợp ra vitamin B12. Một khi hấp thụ vào máu,
B12 được phân
phối đi khắp nơi.
Ở loài bò, gan là cơ
quan chứa nhiều B12 nhất, kế đến là thận. Ở người,
phần kết tràng (colon) của ruột già là nơi
vi khuẩn tổng hợp B12, nhưng
vitamin nầy không được
hấp thụ tại đây mà lại bị thải ra ngoài theo phân...Trong môi
sinh, một vài loại vi khuẩn trong đất cũng tổng hợp được
vitamin B12. Để cho việc tổng hợp B12 có thể xảy ra được
cần phải có sự hổ trợ của một bần tố (oligoelement), đó
là cobalt. Chất nầy hiện diện trong đất và trong rau cỏ.
Thú vật lúc ăn cỏ thường
ăn luôn cả đất cát có chứa vitamin B12, nhờ vậy chúng thỏa mãn
đủ nhu cầu về vitamin nầy... Đối với con người,
chúng ta thường
rửa sạch rau quả mỗi khi ăn. B12 hiện diện trong đất cát bám bên
ngoài mặt các rau quả nầy, phần lớn đều bị trôi đi hết. Ở một số
loài vật như
thỏ, chúng thường
có thói quen ăn phân trở lại mỗi khi được
bài tiết ra ngoài. Sự kiện nầy giúp chúng thỏa mãn đủ nhu cầu về
B12...Các nhà khoa học đều xác nhận rằng hầu như
tất cả các thức ăn nguồn gốc thực vật
đều không có chứa vitamin B12, ngoại trừ một vài loại
thực phẩm, như
đậu nành ủ lên men Miso (giống như
tương) của Nhật
Bản và Tempeh của Nam Dương,
tảo vi sinh Spurilina, Chlorella và rong biển
Nori, Wakame, v.v…Các loại thực phẩm vừa kể đều có
chứa phần lớn những chất tương tự
như vitamin
B12, nhưng lại
không có hoạt tính (inactive), khoa học gọi chúng
là B12 analogues, cơ
thể không thể sử dụng được.
Chỉ một số rất ít B12 còn lại mới là B12 thật sự hữu dụng mà
thôi! Ngoài ra, các loại men dinh dưỡng
như men bia (brewer’s
yeast) cũng có chứa B12. Men bia dưới
dạng viên hoặc bột được
dùng để uống hoặc pha vào nước
trái cây nhằm mục đích bồi bổ sức khỏe. Spurilina và men
bia được thấy
bán trong các tiệm thuốc tây và trong các tiệm bán thực phẩm
thiên nhiên...Nói tóm lại, nguồn cung cấp B12 tốt nhất của chúng
ta vẫn là từ các sản phẩm gốc động vật. B12 có nhiều nhất trong
gan bò (100gr gan chứa 60mcg B12), kế đến là trong thận, thịt bò
(100gr có 0.6mcg B12), thịt gà (0.3mcg), thịt heo (0.6mcg),
trong cá (4-5mcg), hột gà (0.5mcg), tôm cua sò và trong sữa,
fromage (0.25-0.5mcg)...Khi chúng ta dùng những thực phẩm có
chứa Vitamin B12, chất hydrochloric acid trong
dịch vị tiêu hóa sẽ giúp phóng thích B12 ra ngoài. Đồng thời một
chất khác được
gọi là yếu tố nội tại (intrinsic factor) tiết ra từ niêm
mạc bao tử sẽ kết hợp với vitamin B12. Lúc đi qua phần hồi tràng
(ileum) của ruột non, B12 sẽ được
các thụ thể chuyên biệt (specific receptors) tại đây hấp
thụ vào máu. Ruột già không hấp thụ được
B12. Trong cơ thể,
phần lớn B12 được
dự trữ trong gan. Nhu cầu hằng ngày của chúng ta về B12 rất
ư là thấp,
khoảng 2.5 - 3mcg (micrograms). Nhu cầu nầy phải cao hơn đối với
phụ nữ trong thời gian mang thai hoặc đang cho con bú. Vì thực
vật không có B12 nên các người
ăn trường chay
thuần túy (vegan) cần phải uống thêm các supplement có
chứa B12, hoặc dùng những loại sản phẩm hay thức ăn đã được
tăng cường (fortified)
thêm B12. Nhờ gan có khối dự trữ dồi dào cho nên trong điều kiện
ăn uống thiếu B12, thì cũng phải từ 3 năm trở lên mới thấy các
triệu chứng của việc thiếu vitamin B12 xuất hiện ra. Thường
thì bệnh nhân sẽ cảm thấy bần thần mệt mỏi, kèm theo các dấu
hiệu của hiện tượng
thiếu máu, dễ bị lạnh, lâu ngày sẽ có các triệu chứng thần kinh,
thay đổi tâm tính, trí nhớ kém, trầm cảm, tê tay tê chân, mất
thăng bằng lúc đi đứng, v.v…Bệnh thiếu máu do thiếu B12 được
gọi là bệnh thiếu máu ác tính (pernicious anemia) rất
nguy hiểm. Đôi khi ăn uống đầy đủ B12 nhưng
vẫn bị thiếu máu như
thường, trường
hợp nầy xảy ra khi B12 không được
hấp thụ ở ruột non vì thiếu sự trợ giúp của hydrochloric acid
hoặc thiếu chất nội tại của bao tử. Ngoài ra, rượu,
thuốc lá, vài loại thuốc ngừa thai và các thuốc làm giảm độ chua
(antacid) của bao tử cũng có thể làm giảm phần nào sự hấp
thụ của B12. Hiện nay Vitamin B12 là đề tài tranh luận chính yếu
giữa phe ăn chay và phe ăn mặn!.
VITAMIN D: Giúp cơ
thể hấp thụ Calcium từ thực phẩm...Tia
cực tím của ánh sáng mặt trời cũng là nguồn cung cấp vitamin D
cho chúng ta bằng cách chuyển hóa chất 7-dehydrocholesterol
ở dưới da ra
thành vitamin D. Tại các quốc gia Tây phương
một số thức ăn thức uống có thể được
nhà sản xuất cho tăng cường
thêm vitamin D chẳng hạn như
sữa bò, sữa đậu nành, margarine hoặc các loại
thực phẩm cho trẻ em. Vitamin D có nhiều trong lòng đỏ hột gà,
trong dầu cá, trong cá biển có nhiều mỡ như
cá salmon, mackerel, cá mòi sardin, trong
tôm tép, trong gan, v.v…Vitamin D rất cần cho các cháu bé, cho
phụ nữ mang thai hoặc đang cho con bú cũng như
cho các bác lớn tuổi.
CALCIUM: Rất
cần cho xương
và răng...Sữa bò là nguồn cấp calcium tốt nhất. Không ít nước
trái cây, sữa đậu nành và sữa bò bán ở thị trường
đã được tăng cường
thêm Calcium và vitamin D. Các thực phẩm có nhiều Calcium là:
bông cải xanh broccoli, cải pok choi, bông cải
trắng (cauliflower), cải bắp (cabbage), đu đủ,
carrot, hạt hoa hướng
dương (sunflower),
hạt dẻ Brazil (Brazil nuts), hạt hạnh nhân,
sung khô, mọng lúa mì,
cacao, rong biển (seaweed), tàu hũ (có calcium sulfate),
mật đường (molass),
các loại đậu, hạt mè còn nguyên vỏ...Nên biết rằng trà, rượu,
café và các loại thực phẩm có chứa chất oxalate (thí dụ
rau mồng tơi)
cũng có thể chứa chất phytate (có trong cám và cereal
thô) đều có thể làm giảm việc hấp thụ Calcium!

ĂN
CHAY KHÔNG THỂ THIẾU ĐẬU NÀNH
Đậu
nành là thực phẩm nồng cốt trong một chế độ ăn chay. Từ đậu nành
người ta làm ra
vô số món ăn chay, như
các loại tàu hũ (tofu), tàu hũ ki (dried bean
curd), tương miso,
các loại tương ngọt,
tương mặn,
chao, nước tương
và xì dầu. Đậu nành chứa một tỷ lệ
chất đạm cao nhất (trên 30%) trong nhóm đậu và cũng cao hơn
các loại ngũ cốc (8%-15% đạm). Đậu
nành chứa ít chất béo bão hòa, là loại chất béo xấu. Ngược
lại tỷ lệ chất béo không bão hòa (chất béo tốt) của nó lại rất
cao, đặc biệt là loại không bão hòa đa thể (polyunsaturated).
Chất nầy có thể giúp làm giảm cholesterol trong máu. Đậu nành có
chứa alpha linolenic còn được
gọi là oméga-3. Các nhà dinh dưỡng
đều nói rằng omega 3 rất tốt để ngừa các bệnh về tim
mạch, để làm giảm áp huyết và để củng cố hệ miễn dịch!
Oméga-3 có nhiều trong các loại cá biển vùng nước
lạnh như cá
salmon và cá mackerel, v.v…Đậu nành không có
cholesterol, vì chất nầy chỉ thấy hiện diện trong các thực phẩm
gốc động vật mà thôi. Đậu nành cũng không có chứa đường
lactose (lactose free), vì vậy sữa đậu nành rất thích hợp
cho những người nào bị bất dung nạp với lactose (lactose
intolerance) mỗi khi uống sữa bò. Đậu nành có chứa hầu hết
các amino acids thiết yếu, có nhiều chất khoáng, chất xơ
và vitamins (nhưng
không có B12). Nhờ những tính chất nầy
nên người ta thường
dùng tàu hũ để thay thế thịt trong chế độ ăn chay...100gr đậu
nành rang cho 36.5gr protein, đậu nành nấu chín cho 16.6gr,
miso 11.8gr, tàu hũ cứng 15.8gr, sữa đậu nành 2.8gr. Đối với
người VN mình,
tàu hũ có thể được
chế biến ra thành rất nhiều món ăn cũng ngon lắm. Nào là kho,
chiên, xào, hấp hoặc nấu canh. Còn món tàu hũ trắng và mềm nữa,
chế nước đường
thắng với tí gừng, dùng để ăn chơi
cũng hấp dẫn dữ lắm. Đây là chưa
kể đến tài nấu nướng
của các bà chị khéo tay, có thể biến tàu hũ và mì căn ra thành
vô số «món mặn» ăn cũng bắt cơm
dữ lắm.
Dân Tây Mỹ thì họ xem tofu như
một loại
thức ăn lành (healthy food), tốt cho sức khỏe, tuy biết
vậy nhưng tofu
cũng chưa phải
là một món ăn hấp dẫn đối với họ. Theo người
viết thì Tofu bán ở các siêu thị Tây ăn không mấy ngon và cũng
không mấy thích hợp với «gu» của người
mình. Tàu hũ mua ở chợ Á Đông ăn vẫn thích hơn.
Nói đến tàu hũ thì cũng phải kể luôn món sữa đậu nành (soymilk).
Đây là một loại thức uống rất bổ dưỡng.
Tại các chợ Tây cũng như
chợ Tàu đều có bán rất nhiều loại sữa đậu
nành. Phần lớn sữa nầy đều được
cho tăng cường
thêm vitamins A, D, B12, riboflavin (B2), kẽm Zn,
phosphorus và calcium, v.v… Cũng có nhiều loại sữa được
pha thêm nước
trái cây, vanilla hoặc lá dứa. Theo nhận xét riêng của người
viết, thì các loại sữa đậu nành bán ngoài chợ đều quá ngọt,
vì vậy không mấy thích hợp cho những ai phải kiêng cữ đường...Tốt
nhất chúng ta nên xuống phố Tàu mua một cái máy, cuối tuần chiụ
khó nhín chút ít thì giờ xay làm 4-5 lít sữa đậu nành theo gu
của mình, để dành uống trong tuần, vừa bổ, vừa hạp vệ sinh mà
cũng lại rẻ nữa duy chỉ hơi mất công một chút thôi...Ngoài các
chất dinh dưỡng
và chất đạm ra, đậu nành còn chứa những chất isoflavones
thuộc nhóm phytoestrogens. Đây là những hormones
thiên nhiên tương
tợ như
oestradiol là hormone sinh dục
của phụ nữ. Ăn tàu hũ và uống sữa đậu nành thường
xuyên rất tốt cho các bà trong thời kỳ mãn kinh (menopause).
Chất phytoestrogens sẽ bù đắp lại phần nào sự suy giảm
oestradiol trong thời gian nầy, đồng thời nó làm nhẹ đi các
triệu chứng bất lợi như
các cơn bốc
hỏa (flushing), hồi hộp khó chịu, niêm mạc âm hộ bị khô,
tâm tính thay đổi bất thường hay xì nẹt quạu quọ bất tử, đổ mồ
hôi ban đêm, và ngăn ngừa chứng loãng xương!
Có tài liệu còn nói ăn đậu nành có thể
giúp giảm nguy cơ xuất hiện cancer vú.
Đậu nành cũng có chứa chất sterol
có khả năng kéo cholesterol xấu LDL trong máu xuống và giúp ngừa
được các bệnh về tim mạch. Các nhà khoa học Âu Mỹ đoán rằng có
thể nhờ thường ăn tàu hũ và đậu nành nên phụ nữ Á châu ít bị
cancer vú hơn so với các bà đầm Mỹ châu và Âu châu?
Kỹ
nghệ đậu nành bùng phát quá mạnh và quá nhanh từ vài chục năm
nay. Những lợi ích của đậu nành đối với sức khỏe đã được hầu như
tất cả các nhà dinh dưỡng trên khắp thế giới đều nhìn nhận và ca
ngợi hết lời. Có lẽ vì lý do nầy nên kỹ nghệ dậu nành cũng có
thể bị nhiều người ganh ghét vì họ bị cạnh tranh. Đặc biệt gần
dây Internet có đăng bài Tragedy and Hype của hai tác giả
Sally Fallon và Mary G Inig viết trong báo Nexus Úc châu. Trong
bài báo nầy, đậu nành bị kết án là nguyên nhân của nhiều thứ
bệnh tật. Không biết họ viết chuyện nầy với dụng ý gì?
Bài báo đã cảnh giác người tiêu thụ đừng nên dùng đậu nành vì
chất Isoflavone của đậu nành thuộc nhóm hormone nữ nên có thể
gây hại cho tuyến giáp trạng (glande thyroide), giảm số
lượng tinh trùng gây nên tình trạng vô sinh ở nam giới.
Isoflavone còn ngăn trở tác dụng của hormone testosterone
khiến các cháu trai trở thành pêđê hết «Soy is making
kids gays». Sữa đậu nành Soy Formula dùng cho trẻ em
Hoa Kỳ được ví như những viên thuốc ngừa thai đối với các cháu
bé (birth control pills for babies) vì có chứa hormone
nhóm estrogen, đậu nành làm teo não, gây bệnh
Alzheimer’s, và làm tăng nguy cơ cancer vú ở phụ nữ nữa. Ghê
quá! Nguồn tinh quái ác nầy rất khó kiểm chứng và cũng không có
kèm theo một dẫn chứng khoa học nào đáng tin cậy cả!! Cũng không
có một nhà khoa học quốc tế hay một tạp chí khoa học đứng đắn
nào đề cập và hậu thuẩn đến vấn đề trên. Tuy vậy, mặc dầu là tin
dỏm từ đầu tới cuối nhưng nó cũng đã gây hoang mang trong dư
luận không ít!
Có
người cũng đặt nghi vấn và tự hỏi có phải chăng đây là một đòn
phản công ngầm của kỹ nghệ sữa American Dairy Association hay
không?
MISO, TƯƠNG,
CHAO, NƯỚC
TƯƠNG,
XÌ DẦU
Các
loại nước chấm
dùng để ăn chay thường
được làm từ đậu
nành...Miso, tương,
chao, nước tương,
xì dầu là những món rất phổ thông đối với người
VN. Tương
miso, gốc Nhật Bản, cũng thấy có bán tại các chợ Á đông. Có
nhiều loại miso, như miso
làm từ gạo (rice miso), từ đậu nành ủ cho lên men (soymiso)
hoặc từ lúa mạch barley. Miso có thứ thì lỏng sền sệt, có
thứ đặt hơn.
Miso có nhiều màu như trắng,
vàng và nâu đỏ.
Miso trắng là loại ngọt, các thứ khác là loại
miso mặn.
Soymiso có chứa vitamin B12,
nhưng tỷ lệ có được cũng tùy thuộc cách biến chế…Theo phương
thức cổ truyền,
đậu nành được ủ cho lên men trong những thùng cây tuyết tùng (cedar)
trong vòng cả 1-2 năm nên thường cho
một tỷ lệ B12 rất cao...Miso
sản xuất theo lối công nghiệp,
thời gian ủ rất ngắn nên được gọi là quick
miso.
Lẽ dĩ nhiên miso công nghiệp phẩm chất và tỷ lệ B12 không thể
sánh bằng loại miso sản xuất theo lối cổ truyền được!
Miso thường được dùng để nêm vào soupe
gồm có tàu hũ,
rong biển và nấm shiitake,
v.v…
theo kiểu Nhật Bản.
Nói về tương thì Trung Hoa dẫn đầu về món nầy.
Có rất nhiều loại tương được chế biến từ đậu nành.
Tại Bắc Mỹ, không ai mà không biết
hiệu tương ngọt
Hoisin sauce bán ở các chợ Á đông. Người
mình cũng không kém họ. Chúng ta cũng có rất nhiều loại tương
quốc hồn quốc túy, chẳng hạn như
tương bần
và tương Cự Đà.
Bên cạnh tương,
thì cũng phải nói đến chao, cũng từ
đậu nành mà ra. Ngày nay, tương,
chao, nước tương
và xì dầu đã trở thành những món chấm
rất thông dụng cho cả ăn chay cũng như
cho cả ăn mặn. Ngày xưa, lúc quê hương
còn khó khăn, tương chao là những món chấm rất phổ thông và rất
bình dân trong những bữa cơm hằng ngày của nhiều gia đình.
Thời đó,
vào những ngày mùng một và ngày rầm mỗi tháng, người viết thỉnh
thoảng thấy ở chợ Vườn Chuối, Saigon có bán một loại chao đặc
biệt gọi là chao chùa. Chao nầy có màu trắng, hơi sền sệt, và có
mùi thum thủm không khác gì mùi hột gà ung hay blue cheese,
nhưng ăn vào thì lại rất bùi và rất béo. Mua vài trái dưa leo
và một bó rau lang về luộc chấm với chao cũng xong được một bữa
cơm…Nước tương (soy sauce) được sản xuất qua phương pháp
thủy phân (hydrolysis) đạm đậu nành. Năm 1999, cơ quan
Joint Food Safety and Standards Group của Anh Quốc đã cảnh giác
mọi người về sự hiện diện của một chất độc trong các loại nước
tương (soy sauce) và dầu hào (oyster sauce) nhập
cảng từ Á châu. Đó là chất 3-monochloropropane-1-2 (3-MCPD). Đây
là một nhiễm hóa chất trong nhóm Chloropropanolols thấy
trong các loại đạm thực vật được thủy phân bằng acid (acid
hydrolysed vegetal protein). Chất 3-MCPD có thể gây cancer
nếu ăn thật nhiều và ăn thường xuyên. Tại Canada, Cơ quan kiểm
tra thực phẩm (CFIA) vẫn thường xuyên theo dõi và kiểm tra nồng
độ chất 3-MCPD của tất cả mặt hàng loại nầy nhập cảng từ Á châu.
Tương chao có bổ dưỡng gì không?
Theo tài liệu của Ds Trần việt Hưng và Bs
Trần Quan Tuấn Anh trong bài “từ B12 và vấn đề ăn chay”,
thì 100gr soymiso có chứa 0.21mcg B12,
tương bần 0.11mcg,
tương ngọt 0.09mcg,
chao trắng 0.02
- 0.15mcg...Có
một điểm cần nên nhớ là miso,
tương, chao,
nước tương và xì dầu đều rất mặn vì có chứa rất nhiều muối
sodium, ăn
nhiều, ăn
thường xuyên sẽ
có hại cho tim thận,
và có thể làm tăng áp suất động mạch.
Vậy hãy cẩn thận!
NẾP SỐNG CỦA NGƯỜI ĂN CHAY CÓ ẢNH HƯỞNG GÌ?
Nhìn chung
thì người ăn chay thường có sức khỏe khả quan hơn người ăn mặn.
Tại sao vậy? Các nhà khoa học nghĩ rằng các người ăn chay đa số
là những người có ý thức rất cao về dinh dưỡng và sức khỏe. Họ
thường có một nếp sống ngăn nắp, đều độ, ít rượu chè, hút sách,
nghiện ngập. Họ cũng thường là những người năng vận động, tập
thể dục đều đặng và thường xuyên. Chính nhờ những điều kiện nầy
cộng với việc ăn chay đã giúp cho họ có được một sức khỏe tốt.
Tuy nhiên cũng có một số nhà khoa học khác nói rằng các người ăn
chay ít bị bệnh hoạn không phải là tại nhờ họ không ăn thịt,
nhưng chính là nhờ họ ăn rất nhiều rau đậu và trái cây tươi. Các
loại thực phẩm nầy rất tốt vì có chứa nhiều chất chống oxyt hóa
và các hoạt chất (bioactive) có khả năng làm giảm nguy cơ
xuất hiện của một vài loại ung thư.
GIỚI
HẠN CỦA VIỆC ĂN CHAY
Ăn chay
không có gì nguy hiểm cho sức khỏe nếu ăn đúng cách,
biết phối hợp nhiều loại thức ăn với nhau. Vấn đề nầy
thay đổi tùy theo tuổi tác, tùy theo nếp sinh hoạt cũng như tùy
theo kiểu ăn chay của mỗi người. Các cháu bé nhỏ tuổi, các chị
đang mang thai, các lực sĩ cũng như những ai có tình trạng sức
khỏe và nhu cầu đặc biệt thì không nên ăn chay. Các ông thường
hay nói, ăn chay thường xuyên dám làm mình yếu đi bị “hết xí
quách” bất tử, bài vỡ học lâu thuộc làm cô giáo buồn lòng hết
sức. Ăn chay mà vẫn dùng trứng và bơ sữa fromage thì không có gì
trở ngại cả. Ăn chay có thể là một vấn đề sức khỏe đối với người
ăn chay trường theo kiểu khắt khe thuần túy, nghĩa là không đụng
tới bất kỳ món gì xuất phát từ loài vật. Ăn kiểu nầy, “vụ đó”
dám tịch ngòi luôn nghe không các bạn già “liền ông”, nếu không
tin bạn thử ăn chay trường ròng rã liên tục trong vòng hai ba
tháng thì biết liền. Nhu cầu về Calcium và B12 khó được thỏa mãn
đầy đủ được, ngoại trừ họ cần phải uống thêm các supplements có
chứa 2 chất nói trên...Nói tóm lại, nên ăn các loại hạt và ngũ
cốc thô vì chúng còn giữ nhiều chất dinh dưỡng và vitamins. Tuy
vậy, hạt thô lại chứa khá nhiều chất phytic acid có thể
làm giảm đi phần nào sự hấp thụ calcium. Một vấn đề nan giải
khác là liệu thực phẩm sử dụng có chứa đầy đủ số amino acids
thiết yếu hay không? Phần lớn thức ăn gốc thực vật lại không có
đầy đủ các amino acids, hoặc có nhưng ở mức quá thấp. Sự
thiếu của một hay của nhiều amino acids thiết yếu sẽ ngăn
trở phần nào việc hấp thụ của những amino acids khác một
cách trọn vẹn và ảnh hưởng không ít đến việc tổng hợp chất đạm.
Đây là lý do tại sao có rất nhiều người ăn chay bị rơi vào tình
trạng thiếu protein. Một chế độ ăn chay đầy đủ và quân bình cần
phải có sự đa dạng về các chất như các loại ngũ cốc thô, các
loại đậu, các loại hạt có dầu (đậu phọng, mè, hạt hoa hướng
dương, hạt lanh (linseed), các loại hạt dẻ (nuts),
sữa và các sản phẩm làm từ sữa, trứng gà, rau cải, trái cây tươi
và khô, các loại men dinh dưỡng, mọng lúa mì, v.v…Nhân tiện tác
giả cũng xin nêu ra đây với sự dè dặt là có tin đồn một số nhà
sản xuất thức ăn chay đóng hộp ở Đài Bắc và ở một số nơi khác,
nhằm mục đích kinh doanh ham lời đã cố tình cho trộn thêm nước
thịt hoặc thịt vào các mặt hàng chay giả mặn. Hèn gì ăn rất ngon
không khác gì đồ mặn cũng dễ hiểu mà thôi...Các lon đồ chai bán
ở chợ thường có chứa cả khối dầu và chất béo, và điểm nầy là sự
thật 100%. Cẩn thận với các lon chay giả mặn bán ở các chợ Á
Đông tại hải ngoại như thịt gà chay, thịt vịt chay, lẩu dê chay,
cá chay…Một nhận xét khác của người viết là cơm chay ở chùa ngày
chúa nhật, đặc biệt là mấy món xào và kho thường có quá nhiều
dầu và chất béo. Mỡ dầu và chất béo không có tha một ai hết dù
ăn ở ngoài chợ hay ăn ở trong chùa!
KẾT
LUẬN
Thực tế cho thấy trên thế
giới khuynh hướng ăn chay càng ngày càng bành trướng thêm lên
mãi. Các biến cố dồn dập, như bệnh bò điên, bệnh dịch cúm gà,
thịt nhiễm vi khuẩn E.coli, salmonella, thịt chứa
kháng sinh, hormone, hóa chất lạ, thịt bị chiếu xạ (irradiated),
cá tôm nhiễm chất độc dioxin, BPC…đã làm mọi người
e dè lo ngại mỗi khi ăn uống. Riêng tại Canada, thống kê cho
biết có lối 4% dân số đã chọn giải pháp ăn chay. Trên thế giới
cũng có rất nhiều danh nhân và tài tử nổi tiếng đã theo chế độ
ăn chay. Ăn chay đã trở thành một cái mode. Giới kỹ nghệ
thực phẩm cũng phải thích nghi theo thị hiếu mới của dân chúng.
Phần lớn các siêu thị đều có gian hàng bán đồ chay. Sản phẩm
chay thường có mang 2 chữ Vege hoặc Veggie...Nào
là veggie dogs (hot dogs làm bằng tofu), veggie burger,
veggie lasagna, veggie chicken, Pizza végétarien…Mc Donald’s đã
cho ra lò món Mc Vege, nhưng cũng chưa mấy phổ biến cho
lắm...Nhà hàng Subway có Sous marin végétarien...Cty Tartex chi
nhánh của cty Nestlé tung ra thị trường loại pâte Raviolis chay.
Tất cả đều được làm từ nguyên liệu đậu nành...Chợ Á Đông cũng có
bán nhiều loại đồ hộp để ăn chay. Tại một vài thành phố lớn ở
Canada, cũng có thấy xuất hiện vài tiệm cơm chay của người VN.
Nhà hàng chuyên bán đồ ăn chay của Canada thì có rất nhiều. Tại
Toronto và Montreal thì có nhà hàng Commensal. Đối với người VN
chúng ta, các nhà hàng nầy có thể rất sang trọng, nhưng đắt quá,
lại nữa cũng không hợp với “gu” của mình...Ngon nhất vẫn là bữa
cơm chay thịnh soạn do bà xã nấu ở nhà gồm có canh chua chay, bì
cuốn chay, đồ kho, mắm chưng chay hoặc mắm ruột chay, ăn với cơm
nóng vừa mới chín tới. Ôi! thật là ngon hết biết...Gần đây, tờ
Thời báo ở Canada có đăng bài phóng sự về phong trào ăn chay tại
Saigon. Mấy món chay được kê ra đều rất cầu kỳ và thật hấp dẫn
với những cái tên rất lạ tai, tưởng chừng đâu như toàn là món
mặn. Có một sự thật cần phải nói ra đây là hiện giờ trận giặc
giữa phe ăn chay và phe ăn mặn đang diễn ra một cách âm thầm
nhưng rất quyết liệt. Hai phía thường hay chê bai, chỉ trích và
đã kích lẫn nhau. Bên nào cũng cho mình là đúng, là chân lý mà
thôi! Để bảo vệ quyền lợi của mình, giới kỹ nghệ thực phẩm không
ngớt tổ chức những cuộc vận động hành lang, và tung ra vô số
quảng cáo đề cao sự bổ dưỡng vô song của thịt. Phe ăn chay cũng
không thua gì, họ phản công lại và đe dọa mọi người về hiểm họa
bệnh tật và cancer do thịt có thể gây ra…Họ còn tố cáo phe ăn
mặn đã phóng đại các ảnh hưởng tiêu cực, như ăn chay sẽ bị mất
sức khỏe, ăn chay sẽ bị thiếu vitamin B12, dễ bị thiếu máu, dễ
bị hết xí quách, v.v…. Họ diện dẫn, là nếu ăn chay mà bị bệnh
hoạn, thiếu máu thì hằng triệu dân ở phía Bắc Ấn Độ, vì hoàn
cảnh hay vì tín ngưỡng là những người đã theo chế độ ăn rau quả
ngũ cốc từ cả hằng ngàn năm nay rồi mà có ai bị thiếu máu đâu,
họ vẫn còn sống phây phây ra đó? Các nhà khoa học thì lại nghĩ
khác, và đưa ra giả thuyết như vấn đề vệ sinh yếu kém, phóng uế
bừa bãi ngoài đồng (trong phân có vitamin B12), sử dụng phân
người trong việc trồng tỉa, sâu bọ côn trùng thải phân trên rau
cải, nước nôi thiếu thốn nên rửa rau quả không sạch sẽ, và nhờ
vậy mà vitamin B12 bám phía ngoài rau quả nầy sẽ không bị trôi
mất đi. Tất cả những điều vừa kể đã giúp người Ấn độ thỏa mãn đủ
nhu cầu về B12. Một số những người nầy, sau đó may mắn được cho
đi định cư ở Anh quốc. Tại nơi đây họ vẫn tiếp duy trì chế độ ăn
chay trường, nhưng chỉ sau 3-4 năm thì không ít người trong nhóm
đã mắc phải tình trạng thiếu máu ác tính. Tại sao vậy? Câu trả
lời của một số nhà khoa học là tại Anh quốc cuộc sống quá vệ
sinh, không có ai phóng uế ngoài đồng cỏ, sâu bọ côn trùng hầu
như đã bị các loại thuốc trừ sâu diệt hết, vả lại nước nôi dồi
dào nên họ đã rửa trôi đi hết vitamin B12 trên rau cải. Họ bị
thiếu B12 vì ăn chay kiểu khắc khe mà không uống thêm supplement
B12, hoặc không dùng những loại thực phẩm đã được tăng cường
thêm vitamins...Còn một sự kiện khác cũng khó giải thích được và
thường được thiên hạ nói đến, đó là việc các nhà sư Trung Hoa
và Nhật Bản ăn chay trường quanh năm suốt tháng mà họ vẫn luôn
luôn khỏe mạnh, thế là sao? Có lẽ là
nhờ Thiền, nhờ Zen, nhờ tập Taichi, nhờ hít thở, nhờ tập Khí
công hay nhờ họ đã áp dụng một môn phép dưỡng sinh nào đó chăng?
Người ta tự hỏi phải chăng tuy là ăn chay tịnh nhưng trong thức
ăn thức uống của các sư
đều có chứa đầy đủ các dưỡng
chất cần thiết rồi hay có một yếu tố nào đó mà khoa học chưa
hề biết đến? Các nhà bác học cần phải nghiên cứu thêm và cũng
cần nên đồng nhất hơn nữa các phương cách
đo lường và thí
nghiệm.
Để
chấm dứt, tác giả xin mượn
ý kiến của một nhà bác học lừng danh thế giới đã nói về vấn đề
ăn chay như sau:
“Không gì ích lợi cho sức khỏe con người,
và cũng đồng thời làm
tăng cơ may
sinh tồn trên quả địa cầu bằng việc tiến hóa đến một chế độ ăn
chay” (Nothing will benefit human health and increase
chances for survival of life on Earth as much as evolution to a
vegetarian diet. Albert Einstein)./.
Tài liệu
tham khảo:
- How
healthy is a vegetarian diet. NSW Health, Australia.
-
Vous songez à devenir végétarien. Université d’Ottawa.
-
Perspectives on vegetarianism.National
Institute of Nutrition, Canada.
- Từ
vitamin B12 và vấn đề ăn chay. Ds Trần v Hùng & Bs Trần Q.
Tuấn Anh.
- Nước
tương và dầu
hào, Bs Thú y Nguyển thượng
Chánh,Thời Báo Canada 24-05-2002.
-
Vegetarians are more intelligent, The Daily Mail, Dec 15,
2006
-
Tragedy and Hype, Sally Fallon & Mary G. Inig
-
What about soy? John Robbins, The Food Revolution
-
Inside stories of evil imitations, Shi-Chai Chen, Taipei 2004
Montreal, Dec 27, 2006
Print this
site

Trở về Trang Chính
|