|
Keywords:
Circovirus type 2, Post
weaning multisystemic wasting syndrome
Từ
khoảng 5 năm trở lại đây, ngành chăn nuôi heo tại Bắc Mỹ đã phải
gánh chịu nhiều thiệt hại quan trọng gây nên bởi loại Circovirus
type 2 (PCV2)... Heo con (8-12 tuần tuổi) sau thời gian dứt sữa
bị èo uột, ốm o gầy còm, nuôi không lớn, không tăng trọng, khi
thì trắng bạch, khi thì vàng da. Tử số trung bình từ 4% đến 10%.
Dạng cấp tính, thường xảy ra cho heo con, số heo con chết có thể
lên đến 38%. Dạng mạn tính, thường tiếp nối theo ở giai đoạn heo
tơ vỗ béo (grow finish). Trong giai đoạn cuối cùng nầy, tử số ít
hơn nhưng heo vẫn èo uột không tăng trọng và chỉ đạt được trọng
lượng khoảng 30kg trong khi những heo bình thường cùng lứa tuổi
cân được 100kg một cách dễ dàng. Người ta gọi đây là hội
chứng suy thoái gầy còm sau thời dứt sữa (Syndrome de
dépérissement postsevrage, Post weaning multisystemic wasting
syndrome PMWS). Danh từ hội chứng 30kg (The 30kg
syndrome) cũng đôi khi được sử dụng để chỉ bệnh nầy.

Vì
thiếu heo, nhiều lò sát sinh tại Quebec trong những năm qua bắt
buộc phải sa thải bớt công nhân, giảm bớt giờ làm việc thậm chí
có nơi phải đóng cửa dẹp tiệm luôn. Ảnh hưởng kinh tế nói chung
rất to tát. Circovirus cũng được thấy báo cáo hiện nay đang có
mặt tại Việt Nam. Đây là một bệnh rất phức tạp và thường kết hợp
với nhiều bệnh lý khác.
Bệnh ở
heo
Circovirus type 1 được xác định lần đầu tiên vào năm 1974.
Virus nầy được xem như không phải là một tác nhân gây bệnh
(nonpathogenic) ở heo. Năm 1997, một loại virus khác, Circovirus
type 2 được nhận diện như là thủ phạm gây ra bệnh lý hội chứng
suy thoái gầy còm sau thời kỳ dứt sữa ở heo. Ngày nay,
Circovirus thường được thấy kết hợp với những bệnh khác như viêm
phổi, hội chứng bệnh ngoài da và thận (Porcine
Dermatitis-Nephropathy Syndrome), viêm ruột (Enteritis), xảo
thai và xáo trộn sinh sản (Abortion-Reproductive Failure) ở heo
nái, v.v… Circovirus lây nhiễm từ heo nầy qua heo khác qua sự
chung đụng lẫn nhau, qua phân, qua đường hô hấp và qua cả tinh
dịch của heo nọc nữa.
Circovirus type 2 hủy hoại hệ miễm dịch của heo. Ngoài tác dụng
làm cho heo con sau thời dứt sữa và heo tơ
trong giai đoạn vỗ béo bị èo uột chậm lớn hoặc chết đi,
Circovirus còn tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều bệnh khác, nhân
cơ hội cơ thể bị suy yếu sẵn, nhảy vô ăn có và giết hại heo.

Bệnh có
mòi gia tăng nhanh
Tại
tỉnh bang Quebec, năm 2002 có 102 ca Circovirus ở heo được chính
thức chẩn đoán, năm 2003 có 136 ca và chỉ bốn tháng đầu năm 2005
đã có 90 ca Circovirus kết hợp với bệnh Tai xanh ở heo. Ngược
với những năm trước đó, Circovirus tuy rất phổ biến trong chăn
nuôi nhưng nó vẫn chưa đặt thành vấn đề nan giải cho kỹ nghệ
chăn nuôi heo... Không biết tại nguyên nhân gì mà vào những năm
2004 và 2005 bệnh Circovirus lại bộc phát lên dữ dội. Số heo
bệnh và chết rất cao trên khắp tỉnh bang Québec.
Các
chẩn đoán phòng thí nghiệm đều tìm ra được các bệnh tích đặc thù
(pathognomonique) của Circovirus trong các mô bạch huyết (tissus
lymphoides) chẳng hạn như hạch amygdale, hạch bạch huyết, lá
lách và plaques de Payers trong ruột.
Chẩn
đoán được căn cứ trên các bệnh tích đặc thù vừa kể cùng sự hiện
diện của virus qua các phương pháp PCR (Polymerase Chain
Reaction) và phương pháp Immunohistochimie.
Vẫn còn
quá nhiều ẩn số
Vấn đề
Circovirus đã gây nhiều khó khăn bối rối cho giới khoa học.
Circovirus không phải là một virus mới lạ gì. Đây là một virus
rất phổ biến trong chăn nuôi heo từ trước tới nay, thậm chí có
những đàn heo tuy biểu lộ dương tính với Circovirus nhưng chẳng
bao giờ thấy bệnh cả.
Tại sao
chỉ mới có 2-3 năm vừa qua mà bệnh lại bùng lên quá nhanh như
thế? Phải chăng có một yếu tố bí mật X (factor X) hay những yếu
tố phụ trợ (cofacteurs) nào đó khiến bệnh mới có thể bộc phát
mạnh ra như vậy? Các yếu tố phù trợ có thể là virus bệnh Tai
xanh (PRRS) ở heo, Mycoplasme, Parvovirus hoặc các hóa chất
trong dầu thực vật được trộn thêm vào trong các loại vaccin
thương mại. Các yếu tố vừa kể có thể làm gia tăng độc lực của
Circovirus và đồng thời cũng thúc đẩy sự xuất hiện của các triệu
chứng lâm sàng.
Một
khảo cứu Hoa Kỳ có cho biết trong 484 ca bệnh suy thoái gầy
còm thì có 2% ca mà người ta tìm thấy chỉ có Circovirus là
tác nhân duy nhất mà thôi. Đa số các trường hợp còn lại, ngoài
Circovirus ra còn có sự hiện diện của thêm một virus khác hoặc
của một loại vi khuẩn nào đó.
Kết
luận
Bệnh
Circovirus heo hầu như hiện diện khắp mọi nơi thế giới. Thuốc
kháng sinh không thể diệt được virus. Vaccin để chủng ngừa heo
hiện đang được các nhà bác học ngày đêm nghiên cứu. Hiện trên
thị trường có 2 loại vaccin: Circovac do nhà bào
chế Merial Pháp sản xuất tiêm cho heo nái trước khi đẻ. Heo con
bú sữa đầu (colostrum) khi mới đẻ ra sẽ nhận được kháng thể từ
sữa. Đây là phương pháp miễn dịch thụ động. Hiệu quả của vaccin
tùy thuộc vào số lượng colostrum bú vào trong những giờ đầu khi
vừa đẻ ra. Circovac không mấy hữu hiệu đối với heo lớn trong
thời kỳ vỗ béo (grow finish)... Suvaxyn PCV2 do
Cty Fort Dodge Animal Health Hoa Kỳ sản xuất. Chủng cho heo con
4 tuần tuổi và lớn hơn.
Còn quá
nhiều ẩn số chưa có đáp số. Phải chăng kỹ thuật chăn nuôi quá
công nghiệp, quá thâm canh cộng thêm thời gian cho bú sữa mẹ quá
ngắn ngủi nên không có đủ kháng thể bảo vệ heo con và đã làm
thay đổi thế quân bình sinh học của Circovirus? Thật ra tất cả
chỉ toàn là giả thuyết mà thôi. Hiện nay cách phòng ngừa hợp lý
và hữu hiệu nhất được khuyến cáo là việc áp dụng triệt để các
phương pháp vệ sinh chuồng trại như:
*-Hạn
chế sự thăm viếng chuồng trại nhằm giảm thiểu sự lây nhiễm bệnh
tật.
*-Phải
có chương trình diệt trừ chuột bọ, ruồi muỗi để ngừa lây nhiễm.
*-Cho
áp dụng phương pháp “Vườn không nhà trống” hay “Cho vô
hết, Cho ra hết”. (Tout Plein Tout Vide – All In, All
Out): có nghĩa bán hết sạch heo trong chuồng, sau đó sát trùng
tẩy uế kỹ lưỡng, bỏ trống chuồng trong một thời gian dài nhằm
diệt mầm bệnh trước khi cho nhập đợt heo mới (thời gian chuồng
bỏ trống có mục đích để giúp mầm bệnh, vi khuẩn và virus tự tiêu
diệt).
Với
chăn nuôi công nghiệp, rất khó áp dụng biện pháp nầy vì cần phải
sử dụng tối đa diện tích chuồng trại.
*-Tôn
trọng thời gian cách ly (quarantine) heo mới mua. Trong thời
gian nầy nếu heo không bệnh hoặc các kết quả xét nghiệm đều tốt
hết thì chúng sẽ được cho nhập chuồng.
Bệnh
Tai xanh ở heo và bệnh Circovirus là hai bệnh virus gây thiệt
hại kinh tế rất cao. Hai bệnh nầy hiện nay vẫn còn là vấn đề nan
giải của nhiều quốc gia có nền chăn nuôi phát triển. Đối với các
quốc gia Á châu trong đó có VN tình hình càng khó khăn phức tạp
hơn vì bên cạnh chăn nuôi công nghiệp còn có một hệ thống chăn
nuôi gia đình rất ô hợp nên rất khó kiểm soát và quản lý. Vấn đề
thú y dự phòng và ngừa dịch rất khó thực hiện được một cách hiệu
quả vì sự tham nhũng của một số chuyên viên thú y địa
phương cũng như sự a tòng đồng lõa của một số chủ nuôi.
Tất cả cũng chỉ vì $$ mà thôi... Chắc chắn vấn đề dịch bệnh ở
heo sẽ còn được nhắc đến dài dài trong một thời gian khá lâu
nữa. Cũng may cho chúng ta là virus bệnh Tai xanh và Circovirus
không thấy lây sang cho người, nhưng đó không có nghĩa là thịt
heo hoàn toàn trong lành trong giai đoạn nầy. Có ai dám bảo đảm
là thịt heo tại VN không có thể bị nhiễm các bệnh khác, chẳng
hạn như bệnh Liên cầu khuẩn heo (Sterptococcus suis) cũng như
không có cái nầy cái nọ, v.v… trong đó?
Thịt
ruốc, thịt chà bông và nem công chả phượng thấy vậy mà không
phải vậy. Nên nhớ nấu thịt cho thật chín rồi hãy ăn, còn món
tiết canh heo thì xin các bạn chớ có đụng vào./.
Tham khảo:
-Circovirus: Une maladie en émergence. Raizo: Réseau d
‘Alerte et d’nformation zoosanitaire. No
36, 19 mai 2005.
http://www.mapaq.gouv.qc.ca/NR/rdonlyres/F8133C96-F371-4E64-802C-EDF7EA9D54C4/6100/circovirusporcinmai2005no36.pdf
-E.Neuman
et al. Circovirus Infection in
Swine.
http://www.thepigsite.com/articles/1/health-and-welfare/813/pork-health-fact-sheet-circovirus-infection-in-swine
-Lam
thi thu Huong et al. Detection of Porcine Circovirus
from lesions of Postweaning Pig with wasting disease at some
farms in Ho Chi Minh City and adjacent Provinces.
Dept.of Patho & Parasito,Nong Lam Univ.2006
http://www.hcmuaf.edu.vn/cpb/phtqt/biotech2006/papers/cnty/LTTHuong.pdf
-Johanne Elsener.
Une maladie
qui prend de l’ampleur au Québec: Le
Syndrome de Dépérissement Postsevrage (SDPS).
Porc Québec Août 2005.
http://www.agrireseau.qc.ca/porc/documents/Special_SDPS_JElsener.pdf
-David G-S
Burch. PMWS/PCVD is there a way to its control?
http://www.octagon-services.co.uk/articles/PMWSvaccine.htm
Montreal, August 09, 2007
Print this
site

Trở về Trang Chính
|