|
Calcium
hay chất vôi là khoáng chất chính để tạo bộ xương và răng .
Calcium cũng dự phần quan trọng trong việc co thắt của các bắp
cơ và mạch máu cũng như trong 1 số hoạt động biến dưỡng khác.
Calcium được đem vào cơ thể từ các nguồn thực phẩm . Để được
hấp thụ và dự trử trong xương, Calcium cần phải có sự hổ trợ của
vitamin D . Người ta ví xương như 1 saving account còn
máu là 1 checking account của Calcium . Calcium được lần
hồi rút từ xương, thải vào máu để sử dụng , đồng thời cũng có 1
số Calcium khác từ thực phẩm ăn vào được đem bù đấp lại vào
trong xương. Ở tuổi niên thiếu vì nhu cầu tăng truỡng cao , tốc
độ bù đấp Calcium nhanh hơn tốc độ mất Calcium từ xương . Càng
về già thì tiến trình trên đi ngược lại , theo thời gian , tốc
độ Calcium đem vào xương để bù đấp chậm hơn so với số Calcium sử
dụng , vì vậy xương trở nên xốp, yếu đi và dể gãy , đó là bệnh
loãng xương ( osteoporosis) .
Bệnh
loãng xương là gì ?
Đây là
bệnh xảy ra khi xương thiếu chất Calcium nên nó trở nên xốp ,
yếu và có thể dể gãy mổi khi bị té ngã . Bệnh thường xảy ra ở
những người lớn tuổi. Thống kê cho biết cứ 1 trên 4 người đàn bà
trong thời kỳ mãn kinh , và 1 trên 8 người đàn ông tuổi trên 55
đều bị bệnh loãng xương ở những mức độ khác nhau . Tuổi càng già
càng dể bị bệnh loãng xương . Bệnh thường hay thấy xảy ra ở các
dân tộc da trắng , và ở các sắc dân Á Châu, mà đặc biệt nhất là
ở những người có tầm vốc nhỏ con . Có nhiều nguyên nhân dẩn đến
bệnh loãng xương như dinh dưỡng thiếu chất Calcium , thiếu
hormone estrogen ở phụ nử trong thời kỳ mãn kinh . Ngoài
ra yếu tố di truyền , một vài loại dược phẩm và một số bệnh tật
cũng có thể đưa đến bệnh loãng xương . Bệnh nhân thường hay cãm
thấy đau lưng khi khom xuống để bưng đồ vật nặng . Xương cổ tay
, và cổ xương đùi là 2 nơi dể bị gãy mổi khi té ngã . Lâu ngày,
lưng bị còm , bị gù và chiều cao vì lẻ đó bị giảm đi , trường
hợp nặng bệnh nhân có thể trở thành tàn phế . Theo thống kê, tại
Hoa Kỳ hằng năm có từ 15-20 triệu bà bị bệnh loãng xương , kéo
theo trên 1 triệu tường hợp gãy xương mà trong số nầy phải kể
250.000 ca gãy xương háng ( hip fracture) và làm thiệt
mạng 50.000 cụ bà vì biến chứng của tai nạn trên .
Thực
phẩm nào chứa nhiều calcium ?
Calcium
có nhiều trong sữa, trong fromage , trong yogurt và nói
chung trong các sản phẩm chế biến từ sửa . Trong nhiều loại thức
uống bán trong siêu thị , chẳng hạn như sữa đậu nành và nước cam
lon cũng thường được nhà sản xuất cho tăng cường thêm chất
Calcium và vitamin D .Calcium còn được thấy hiện diện trong :
các loại đậu , hạt hạnh nhân , mè còn võ , trong cãi
broccoli , cãi Pok choy , cãi Kale , Collards,
green turnip ,bắp cãi , artichaut, trong rau cần
Tây , rau dền , rau mồng tơi , trong cá salmon, trong cá mòi
sardine còn xương ,và trong tôm cua sò hến v…v… Một vài loại
thức ăn có chứa chất oxalate ( rau mồng tơi, rau dền)
hoặc chất phytate ( có trong cám, trong các ngủ cốc còn
nguyên hạt) . Hai chất này ngăn cản phần nào sự hấp thụ Calcium
chứa đựng trong trong các loại thực phẩm vừa kể .
Có
chứa từ 275mg Calcium trở lên :
-
250ml sữa ,
175ml yogurt , 250 ml sữa đậu nành có tăng cường thêm calcium ,
50 gr fromage cứng .
Có
chứa từ 165mg đến 274mg Calcium :
-
30ml hạt mè
còn võ, 90gr cá salmon còn xương
Có
chứa từ 55 mg đến 164 mg Calcium :
-
60ml hạt
hạnh nhân, 125 ml cãi broccoli, 125 ml đậu nấu chín , 5-8 con sò
cở trung bình .
Thực
phẩm nào chứa nhiều vitamin D
Rất ít
thực phẩm có chứa vitamin D . Vitamin D có thể được thấy trong
các loại sữa , trong margarine đã được cho tăng cường thêm chất
nầy . Vitamin D cũng thấy trong các loại cá có nhiều mỡ , trong
lòng đỏ hột gà , trong cá mòi sardine, trong cá salmon , cá
herring,và cá mackerel v…v…Phơi nắng 15-20 phút cũng đủ để cho
da tạo ra vitamin D . Dưới tác dụng của tia cực tím , của ánh
sáng mặt trời chất cholecalciferol ở dưới da được chuyển
ra thành vitamin D3 không hoạt tính và sau đó được đưa đến gan
để trở thành chất 1,25-dihydroxycholecalciferol, hay là
vitamin D thật sự có hoạt tính . Nghiên cứu mới đây tại Quebec
(2005) cho biết rằng trong giai doạn mới bắt đầu mãn kinh (
perimenopause), Calcium và vitamin D có thể giúp các bà
ngừa được phần nào nguy cơ bị cancer vú . Trong thí nghiệm vừa
kể, các phim chụp cho thấy mật độ mô vùng vú có vẻ trong sáng
hơn ở nhóm người sử dụng thường xuyên các loại thực phẩm giàu
Calcium và vitamin D.
Nhu cầu vitamin D ở người lớn là 400-
800 UI / ngày . Có thể chấp nhận nồng độ tối đa 2000 IU
vitamin D trong 1 ngày nhưng người ta khuyên không nên sử
dụng liều lượng nầy trong 1 thời gian lâu dài . Vitamin D là
vitamin tan trong chất béo, và nó có thể tích tụ trong cơ thể.
Sự thặng dư vitamin D lâu ngày có thể làm nhức đầu, nôn mữa,
giảm cân, mõi mệt và hiếm thấy hơn, nó có thể gây tiêu chãy ,
gia tăng lượng nước tiểu ( polyuria ), làm hại thận và
làm tăng nồng độ Calcium trong máu lên nhiều.
Vitamin D có chứa trong 100 gr thực phẩm
:
- 1
muỗng canh dầu cá thu ( cod, morue) : 1360 IU (
international unit )
- Cá
salmon chín : 360 IU
- Cá
mackerel chín :345 IU
-
Cá sardine trong lon có dầu : 270 IU
- 250
ml Sữa gạn kem có tăng cường thêm vitamin D : 98 IU
- Gan
bò nấu chín : 30 IU
- Lòng
đỏ hột gà : 25 IU
Vitamin D có thể tương tác với các loại thuốc sau đây
-
Antacides có
Magnesium ( thuốc làm giảm acid dạ dầy ) : có thể làm tăng chất
Magnesium trong máu lên ( hypermagnesemia ), nhất là ở
các người bị suy thận sẳn .
-
Cholestyramine, Colestipol (thuốc trị cholesterol), và Dầu xổ (mineral
oil) đều làm giảm hấp thụ vitamin D tại ruột . Nên uống các
loại thuốc nầy 1 giờ trước hoặc 4 giờ sau khi đã uống vitaminD.
-
Digoxine
(thuốc trị bệnh tim ) : có nguy cơ gia tăng Calcium trong máu
lên nhiều ( hypercalcemia) .
-
Phenytoine,Phenobarbital (thuốc trị kinh phong co giật ) : làm
giảm vitamin D bằng cách biến chúng trở thành những chất không
còn hoạt tính .
-
Thiazide (
thuốc lợi tiểu để làm hạ huyết áp) : có nguy cơ làm tăng nồng độ
Calcium trong máu .
Các
loại supplément calcium
Trong
thiên nhiên Calcium thường ở dưới dạng phối hợp với 1 vài chất
khác để cho ra những hợp chất ( compound) Calcium như :
Calcium carbonate, Calcium phosphate, Calcium citrate …Nồng độ
Calcium hữu dụng chứa trong hợp chất còn được gọi là
elemental Calcium . Tùy theo loại hổn hợp mà số lượng
elemental Calcium có khác nhau . Khi mua các loại supplement
Calcium nhớ đọc kỷ coi nó chứa thật sự bao nhiêu elemental
Calcium ?
-
Calcium carbonate : chứa 40 % Calcium và được
chế biến từ võ sò hến . Hấp thụ chậm .
Có thể gây sình hơi và táo bón . Nên uống sau bửa ăn . Nguồn
Calcium thường được lấy từ võ sò hến . Đây là loại Calcium rẽ
tiền và rất thông dụng trên thị trường hiện nay .
-
Calcium
citrate : chứa 20 % Calcium, hấp thụ nhanh , có thể uống trước
hoặc sau bửa ăn. Đắt tiền .
-
Calcium
lactate : có 13 % Calcium ,uống sau khi ăn
-
Calcium
gluconate : có 9 % Calcium. Uống sau khi ăn .
-
Dolomite:
làm từ bột xương thú vật thu lượm từ lò sát sanh , từ các hổn
hợp Calcium magnesium lấy từ nham thạch (limestone ) . Có
thể chứa các chất độc như chì, thủy ngân , arsenic vv…Nên tránh
sử dụng
Nhu
cầu calcium hằng ngày
Sự hấp
thụ Calcium trong ruột rất thay đổi và tùy thuộc vào loại
supplement Calcium sử dụng . Thông thường chỉ 1/3 đến 1/5
Calcium uống vào được hấp thụ mà thôi. Sự hấp thụ còn tùy thuộc
vào sự hiện diện trong ruột của vitamin D và của 1 vài loại
thực phẩm như cà phê, rượu , nước ngọt có gaz như pepsi, coke ,
bởi các loại thuốc antacids trị ợ chua có tính kiềm
v…v... Độ pH của ruột cũng ảnh hưởng vào việc hấp thụ . Calcium
carbonate dể được hấp thụ trong môi trường acid . Nên uống loại
Calcium nầy với nước lạnh hoặc với nước cam vắt và uống sau bửa
ăn .
Nhu cầu
hằng ngày của Calcium ở người lớn
-
từ 19 tuổi
đến 50 tuổi : 1000 mg
-
Đàn bà lúc
mãn kinh : 1500 mg , nếu có uống hormone thì chỉ cần uống 800 mg
Calcium mà thôi .
Mặc dù
liều lượng có thể gây độc của Calcium là 5000 mg ,nhưng chúng ta
không nên uống trên 2500mg calcium trong 1 ngày . Uống
quá nhiều Calcium có thể bị táo bón, nhức đầu, đau nhức bắp cơ
và xương , nôn mữa, và tâm thần bị rối loạn . Uống quá nhiều
Calcium nhưng không chịu uống nhiều nước , cộng thêm sự hiện
diện của chất oxalate là những nhân tố dẩn đến bệnh sỏi
thận .
Các
viên Calcium thường quá to nên đôi khi cũng khó uống . Bạn có
thể lựa loại Calcium để nhai , thí dụ loại Tums ( chứa
Calcium carbonate ) hoặc loại Calcium xùi bọt tan trong
nước . Nên uống mổi lần không quá 600mg elemental Calcium,
và nên uống làm nhiều lần trong ngày .
Calcium có thể tương tác với 1 số thuốc
-Calcium làm giãm hấp thụ các supplements chứa chất sắt .
Nên uống 2 loại supplements nầy riêng rẻ cách nhau 2 giờ .
-Calcium làm giãm hấp thụ chất kháng sinh fluoroquinolones
( Cipro).
-Calcium làm giãm hấp thụ thuốc trị kinh phong Phenytoine
(Dilantin)
Vì thế
nên uống 2 loại nầy cách nhau 2-3 giờ .
-Calcium làm giãm hấp thụ thuốc kháng sinh
Tetracycline , nên uống 2 loại nầy cách khoảng nhau 3 giờ
đồng hồ .
Làm
sao phòng bệnh loãng xương ?
1-
Nên nhớ là
nhu cầu Calcium tăng theo các giai đoạn tăng trưỡng , tình trạng
mang thai, có cho con bú hay không ?…
2-
Nên sử dụng
thức ăn thức uống đa dạng giàu Calcium .Nên uống thêm supplement
Calcium nếu thiếu chất vôi trong dinh dưỡng thường ngày.
3-
Cần uống kèm
theo vitamin D nếu uống Calcium. Có nhiều loại supplement
Calcium bán trên thị trường có chứa vitamin D .
4-
Một số bệnh
có thể làm thất thoát Calcium từ xương , và có thể gây ra bệnh
loãng xương thứ cấp ( secondary osteoporosis) chẳng hạn :
bệnh xơ gan, bệnh Crohn ( 1 loại bệnh đường ruột) , bệnh viêm
khớp tự miển (rheumatoid arthritis) , bệnh suy các tuyến
sinh dục (hypogonadism), bệnh cường giáp trạng (
hyperthyroidism) , bệnh cường phó giáp trạng (
hyperparathyroidism ) ,bệnh suy thận mạn tính, trường hợp
ghép bộ phận ( transplantation) và tình trạng nằm bất
động lâu ngày .
5-
Một số thuốc Tây nếu xài thường xuyên trong
1 thời gian lâu dài ( 4-5 tháng) cũng làm mất Calcium của xương
, chẳng hạn thuốc trị kinh phong co giật Dilantin , thuốc
kháng đông heparine , hormone tuyến giáp trạng
Synthroid , các thuốc trị cancer ( antineoplasic) ,
các thuốc làm giảm acid dạ dầy hay antacids có chứa chất
nhôm aluminum , các thuốc nhóm corticosteroids như thuốc
Dexamethasone ( VN gọi là Đề Xa) , Prednisone ,
các loại thuốc GnRH ( gonadotropin releasing hormones
).
6-
Để phòng ngừa bệnh loãng xương , ngoài việc
ăn uống 1 khẩu phần giàu Calcium chúng ta cũng cần chú trọng đến
việc tập thể dục thường xuyên, bớt rượu, bớt trà ,
bớt cà phê và bỏ thuốc lá .
7-
Phụ nữ trong thời gian mãn kinh nên đi khám
bác sĩ dể được xét nghiệm và đo mật độ xương (
osteodensitometry) , và nếu cần Bs sẽ kê toa cho thuốc trị
liệu .
8-
Ăn nhiều thịt ( đạm động vật) và nhiều muối
có thể làm cho thận gia tăng bài tiết Calcium qua nước tiểu .
9-
Cẩn thận khi sử dụng 1 số thuốc trong 1 thời
gian lâu dài ,thí dụ các thuốc nhóm corticosteroids.

Có
thuốc trị không ?
Trên thị trường Canada hiện nay có bán nhiều loại
thuốc để chửa trị, và để giảm bớt tốc độ loãng xương . Tất cả
các loại thuốc nầy đều phải do bác sĩ kê toa mới mua được . Thí
dụ : Raloxifene HCl ( Evista), Alendronate
(Fosamax) , Risedronate ( Actonel ) , Etidronate
disodium +Calcium carbonate (Didrocal). Cũng như bất
cứ các loại thuốc nào khác, thuốc trị loãng xương cũng có thể
gây nên 1 số phản ứng phụ bất lợi . Có dư luận đồn rằng Evista
có chứa 1 hormone tổng hợp nhóm estrogen nên nó có thể tăng nguy
gây ra cancer buồng trứng ( ovarian cancer ) nếu sử dụng lâu
ngày ?
Các
supplement Calcium cũng có rất nhiều nhản hiệu , mua tự do . Thí
dụ
-
Cal 500-D
tablet ( thuốc viên )
-
Carbocal D
400 IU ( viên có 500mg elemental Calcium và 400 IU vitamin D3 )
-
Caltrate 600
( viên chứa 1500mg Calcium carbonate có 600 mg elemental
Calcium )
-
Apo Cal 500
( viên có 500mg elemental Calcium )
-
Tums là 1
loại antacid ( trị ợ chua) có chứa Calcium carbonate
-
Calcium
Sandoz forte 500mg : viên xùi bọt trong nước , Gramcal cũng xùi
bọt trong nước : mổi viên chứa 1000mg elemental Calcium ( gồm có
lactate, gluconate và Calcium carbonate )
-
Neo Cal-D
500 ( viên 1250 mg Calcium carbonate có 500mg elemental Calcium
và 125 IU vitamin D3 )
Kết
luận
Calcium
đóng 1 vai trò vô cùng quan trọng đối với sức khoẽ của chúng ta.
Bệnh loãng xương thường xảy ra 1 cách rất âm thầm thầm lặng ,và
trong 1 thời gian lâu dài mới lần hồi biểu lộ ra thành triệu
chứng . Bệnh thường dể xãy ra ở đàn bà trên 55 tuổi nhiều hơn là
ở đàn ông .
Để
phòng bệnh loãng xương, chúng ta nên ăn uống những loại thực
phẩm đa dạng giàu Calcium, phơi nắng, tập thể dục , bỏ thuốc lá
, bớt cà phê, bớt rượu , nếu cần thì uống thêm supplement
Calcium , đó là những phương pháp dể thực hành mà bất cứ ai với
1 ít ý chí đều có thể làm được . Theo định kỳ nhớ đi khám bác sĩ
để được đo mật độ xương nếu thấy cần . /.
Tài
liệu tham khảo :
-National Institute of Healh , Dietary Supplement Fact Sheet:
Calcium
- Ask the Dietitian , Calcium & Osteoporosis
- France Lécuyer, revue Le Lundi 14/5/2005 :Protéger
nos os pour la
Vie
-
Eric
Whittom,L’ actualité Pharmaceutique, Fév 2004 : Ostéoporose
Postménopausique
- Service Vie santé ,
Qu’ est ce que l’ ostéoporose secondaire ?
Montreal, Nov 10 , 2005
Trở về Trang Chính
|