CÁI  MIỆNG  HẠI  CÁI  THÂN


Nguyễn thượng Chánh , DVM

19 tháng 01 năm 2006

 

Từ khóa  : Toxi - infection alimentaire , Food poisoning

 

Cổ nhân thường nói : “ bệnh tòng khẩu nhập , họa tòng khẩu xuất ”  . Thật vậy ,  ăn uống bừa bãi , không hạp vệ sinh sẽ dẫn đến bệnh tật đủ thứ, đôi khi cũng bỏ mạng như chơi . Còn  ăn nói   cẩu thả , điêu ngoa , thêu dệt , chê bai người nầy , kích bác người khác ,thì cũng có thể , một ngày nào đó sẽ chuốc lấy họa vào  thân mà thôi .

Từ trước tới nay , Canada được xem như là một  trong những quốc gia có nền kỷ thuật sản xuất  và bảo quản thực phẩm rất an toàn và hữu hiệu , tuy vậy vấn đề ngộ độc thực phẩm cũng vẫn  thường thấy xảy ra . Theo Bộ Y Tế Canada ( Health Canada)  , mỗi năm có  lối một triệu  trường hợp ngộ độc thực phẩm  được ghi nhận tại quốc gia nầy . Tại Hoa Kỳ , cơ quan Centers for Disease Control and Prevention  ( CDC )  cho biết hằng năm có vào khoảng 76 triệu ca ngộ độc thực phẩm ,  phần lớn là nhẹ , tuy vậy cũng có khoảng 350 000 người  cần phải nằm bệnh viện  và có lối 5000 tử vong .

 

 

NGỘ  ĐỘC  THỰC   PHẨM  LÀ   GÌ   ?  ( toxi – infection alimentaire , food  poisoning )

 

Ngộ độc thực phẩm xảy ra khi chúng ta dùng thức ăn thức uống dơ bẩn , không được bảo quản đúng cách , hư thối , đã bị nhiễm trùng , virus, ký sinh trùng , nấm mốc hoặc  hóa chất độc hại . Từ trước tới nay người ta thường nghĩ rằng nhiễm khuẩn là nguyên nhân chính , nhưng các khão cứu của Hoa kỳ gần đây cho biết là các loại virus thực phẩm ( virus alimentaire) mới thường là thủ phạm của các trường hợp ngộ  độc thức ăn  xảy ra tại Hoa Kỳ và Canada . Triệu chứng chung là rối loạn tiêu hóa , như đau bụng , tiêu chảy , có thể có máu  , nôn mửa , nhức đầu và sốt nóng chút ít . Các  biểu hiệu này có thể xảy ra mau chóng , vài giờ sau khi ăn uống , hoặc chậm rải hơn sau đôi ba ngày hay sau 1-2 tuần lễ .  Bình thường , bệnh sẽ dứt sau 1 vài ngày , hoặc nó cũng có thể dây dưa cả tuần . Bệnh có thể rất nặng  ở trẻ em nhỏ tuổi , ở các người già cả , và những người nào có sức miễn dịch đã bị suy yếu sẵn vì bệnh tật . Không ít người thường nhầm lẫn tiêu chảy do ngộ độc thực phẩm  với bệnh cảm cúm do virus gây nên .

 

 

KẺ  THÙ  VÔ  HÌNH 

 

Khi hội đủ điều kiện , vi khuẩn sẽ phát triển rất nhanh chóng trong thực phẩm . Không phải tất cả vi khuẩn nào cũng đều có hại . Có loại  cũng rất hửu ích cho chúng ta , chẳng hạn  như các loại vi khuẩn dùng trong việc sản xuất fromage yogourt .

 

 

CÁC  LOẠI  VI  KHUẨN  NÀO  THƯỜNG  GẶP  NHẤT  ?

 

E . coli   :  Vi khuẩn nầy hiện diện một cách tự nhiên trong ruột của chúng ta cũng như của thú vật  . Có  cả hằng trăm chủng (serotypes  )  E.coli . Đa số đều là những chủng  hiền , tuy nhiên cũng có vài chủng  rất độc hại  , chẳng  hạn như E.coli 0157 :H7 , có thể được tìm thấy trong ruột và trong phân của các loài gia súc , đặc biệt là trong phân bò . Vi khuẩn nầy được xác định lần đầu tiên  vào năm 1982 tại  Hoa Kỳ nhân biến cố ngộ độc thực phẩm  do việc ăn hamburger. Từ đó vi khuẩn  E.coli 0157 :H7 còn có tên là vi khuẩn của bệnh hamburger .Tại lò sát sinh , vi khuẩn E.coli 0157 :H7  , hiện diện trong phân có thể lây nhiễm vào quày thịt . Thịt bằm, thịt xay, thịt hamburger,  thường có tỷ lệ nhiễm khuẩn cao nhất , ngoài ra  E coli cũng còn  có thể nhiễm vào nguồn nước ( nếu nước không được khử trùng bằng  chlorine ) , vào rau cải, trái cây , giá sống , rượu  cidre (apple cider)  , sữa ,và các loại nước trái cây trong lon trong hộp nếu chúng không được hấp khử trùng ( pasteurized )  trước khi bán ra . Ở những người bình thường , E. coli 0157 :H7 sẽ gây rối loạn tiêu hóa : đau bụng , tiêu chảy , nôn mữa , thân nhiệt có thể tăng chút ít . Bình thường bệnh sẻ khõi sau 1 tuần hay 10 ngày . Bệnh có thể rất nặng ở trẻ em , ở những người cao tuổi  , và ở những người mà hệ miễn dịch đã bị suy yếu sẵn vì bệnh tật . Từ 3% đến 5%  trường hợp có thể gây biến chứng sau vài ba tuần lễ . Độc tố verotoxin của E.coli 0157 :H7  làm dung huyết ( hemolysis), hủy hoại niêm mạc ruột gây tiêu chảy có máu , làm hư thận , và đồng thời làm   giảm lượng nước tiểu  . Khoa học gọi đây là hội chứng HUS ( Hemolytic Uremic Syndrome ), rất nguy hiễm có thể chết , bằng không thì cũng cần phải được  lọc thận ( renal  dialysis )  suốt đời .

Campylobacter jejuni  -  thường hiện diện trong ruột của các loài gia súc và  gia cầm …Phân có thể nhiễm vào nguồn nước và các loại thức ăn , như thịt gà , sữa và rau cải . Có thể nói ngộ độc thực phẩm do vi khuẩn Campylobacter là bệnh tiêu chảy thường hay xảy ra nhất . Triệu chứng của bệnh phát hiện ra sau khi ăn từ 2 đến 5 ngày ,  và thường là đau bụng  , nôn mữa và tiêu chảy có thể có máu  . Bệnh sẽ dứt sau 1 tuần lễ .

Salmonella -          Có thể được tìm thấy trong phân của các loài vật cũng như của gia cầm . Rùarắn và các loài bò sát thường mang vi khuẩn salmonella . Thịt bò , thịt heo  , nhất là thịt gà , trứng gà , sữa tươi và các loài thủy sản , như cá , tôm , sò óc , rau cải  đều có thể bị nhiễm khuẩn Salmonella . Một số loài vật có thể được ví như là những ổ bệnh ( carrier ,reservoir )vì chúng có chứa  loại vi khuẩn nầy nhưng không bao giờ bị bệnh cả , và nguy hiễm hơn hết là chúng có thể tiết mầm bệnh nầy ra ngoài  theo  phân để lây nhiễm chúng ta . Triệu chứng chính, là đau bụng quặn thắt, tiêu chảy thường có máu  , sốt nóng  , có khi kèm theo nôn mữa  , bắt đầu xuất hiện  từ 12 giờ đến 72 giờ sau khi ăn phải  thực phẩm nhiễm trùng . Bệnh thường khỏi sau 1 tuần lễ .Truờng hợp nặng , sẽ bị nhiễm trùng huyết ( septicemia) và có thể chết . Một số người có thể bị biến chứng viêm khớp xương , xót mắt ,và  đau rát lúc đi tiểu . Khoa học gọi đây là hội chứng Reiter  ( Reiter’s syndrome )    Hai dòng Salmonella thường gặp nhất tại Bắc Mỹ là S. typhimuriumS. enteridis .

Listeria monocytogenes -  Gặp trong ruột của thú vật  và trong đất cát. Vi khuẩn Listeria có thể nhiễm vào trong các loại rau cải tươi. Đặc biệt hơn nữa là nó có thể âm thầm tăng trưỡng trong tủ lạnh ở nhiệt độ 4 o C . Listeria cũng có thể nhiễm vào thịt nguội ,jambon, saucisse, hot dog , vào fromage và vào sữa tươi nếu không được hấp khử trùng trước khi bán .

  Staphylococcus aureus -          Thường được tìm thấy trên da , từ các nốt ghẻ lở có mủ , trong mũi và trong họng của chúng ta . Vi khuẩn có thể nhiễm vào thức ăn lúc chúng được biến chế , hoặc lây truyền từ người nầy sang cho người khác lúc họ tiếp xúc lẫn nhau . Staph aureus gây bệnh bằng độc tố . Đau bụng , tiêu chảy và nôn mữa dữ dội là những biểu hiện chính.

 Vi khuẩn nầy  rất dễ bị hủy sức nóng   , nhưng ngược lại  độc tố của nó có thể tồn tại nhiệt độ  cao  110  độ C   trong vòng 26 phút   .

Clostridium perfringens  -   Có trong đất cát , cống rảnh  và cả trong ruột của thú vật . Vi khuẩn nầy phát triển trong điều kiện không cần có không khí hoặc chỉ cần có rất ít không khí mà thôi . Người ta gọi chúng là vi khuẩn của nhà ăn ( The Cafeteria germ ) vì chúng thường hiện diện trong các thực phẩm nguội lạnh  của các cửa hàng ăn uống .Việc nấu nướng đôi lúc cũng không thể diệt hết mầm bệnh được , một số vi khuẩn có thể  vẫn còn sống sót , tiếp tục sinh sôi nẩy nở phát triển  và sản xuất ra độc tố  .

Clostridium botulinum -          . Hiện diện trong đất cát, trong ruột của thú vật và của các loài cá .  Vi khuẩn nầy chỉ phát triển trong điều kiện hoàn toàn không có không khí . Các loại thực phẩm thường bị nhiễm là , các loại đồ hộp, đồ conserve , mật ong , củ tỏi ngâm dầu  và các loại thịt đã được đóng gói vô bao bằng kỹ thuật chân không  ( vacuum packed  , emballage sous vide ) . Ăn phải những thức ăn vừa kể , độc tố của vi khuẩn C.botulinum sẽ gây ra bệnh Botulism rất nguy hiễm : nuốt khó , ăn nói khó khăn , xệ mí mắt , tê liệt dần dần hệ hô hấp và có thể nhìn thấy cả 2 ảnh cùng 1 lúc ( double vision ) . Cẩn thận đối với các lon hộp mốp méo và nhất là nấp đã bị phòng lên . Nấu chín ở nhiệt độ cao sẽ hủy diệt được bào tử ( spores ) của  vi khuẩn và  độc tố  của chúng .

Shigella –    Lây truyền từ những người biến chế thức ăn không chịu rửa tay cho  kỹ lưỡng  trước khi sờ mó vào rau cải  và thực phẩm tươi sống .  Khuẩn  Shigella có thể được tìm thấy trong thịt gà, trong các dĩa salade và trong sữa . Triệu chứng phát hiện ra sau khi ăn 1 vài ngày :đau bụng quặn thắt , sốt nóng , và tiêu chảy thường có máu . Khỏi bệnh sau 5-7 ngày . Trường hợp nặng có thể thấy ở các trẻ em dưới 2 tuổi . Các cháu có thể bị động kinh và co giật . Một số người bị nhiễm mà không bị bệnh gì hết nhưng họ lại có thể lây nhiễm cho các người khác .

Vibrio vulnificus -          Gặp  ở nhửng vùng ven biển . Người có thể bị nhiễm qua các vết trầy trên da từ nước biển ,  hoặc do ăn phải những loại  đồ biển , như nghêu sò ,  có chứa  vi khuẫn  V. vulnificus  .. Đau bụng , nôn mữa và tiêu chảy là nhửng triệu chứng chính . Ở những người già cả hoặc ở nhửng người có sức miễn dịch  kém  , họ có thể bị nhiễm trùng huyết , nổi mụt nước ngoài da    , giảm áp huyết động mạch  và chết vì bị shock  .

Calicivirus hay Norwalk- like virus -  Virus nầy cũng thường gây ngộ độc thực phẩm, nhưng ít khi được người ta  định bệnh 1 cách chính xác được . Triệu chứng là đau bụng và ói mữa  dữ dội nhiều hơn là tiêu chảy . Bệnh thường dứt sau 2-3 ngày . Virus được tìm thấy trong chất nôn mửa và trong phân của người bệnh . Khác với các mầm bệnh thường gặp đều có nguồn gốc từ thú vật , Calicivirus thường  lây truyền từ người nầy sang người khác qua việc sờ mó , chuẩn bị và biến chế món ăn  .

Vibrio parahemolyticus -  Vi khuẩn được tìm thấy ở vùng biển . Ăn tôm ,cá , nghêu ,và sò nấu không thật chín  có thể bị ngộ độc .

Cryptospora và Giardia lamblia  -   Đây là 2 loại ký sinh trùng thuộc nhóm nguyên sinh vật ( protozoa ) có trong phân súc vật   và có thể nhiễm vào nguồn nước ( kể cả nước giếng ) và rau cải  vv…

 

 

AI  CHỊU  TRÁCH  NHIỆM  ĐÂY    ?

 

Ngộ độc thực phẩm thường hay xảy ra khi có sự chểnh mãng trong vấn đề vệ sinh lúc sản xuất , lúc biến chế ,lúc bảo quản hoặc lúc chúng ta sử dụng thức ăn .  Thực phẩm có thể bị nhiễm tại lò sát sinh, tại nhà máy biến chế , tại chợ hoặc cả chính ngay tại nhà bếp của chúng ta nữa . Sau đây là sự phân bố các nguyên nhân theo thứ tự quan trọng .

1-     Phương pháp trử lạnh không đúng cách , không đủ độ lạnh cần thiết .

2-     Nhiệt độ không đúng lúc cần giữ nóng thức ăn .

3-     Vệ sinh cá nhân thiếu sót ( như không chịu rửa tay kỹ  ! ) gây  nhiễm trùng từ người biến chế món ăn hoặc do chính chúng ta lúc ăn uống .

4-     Dụng cụ nhà bếp và dụng cụ tồn trử dơ bẩn không sạch sẻ.

5-     Thức ăn  mới nấu ,  hoặc dư bữa , không được tồn trữ và bảo quản đúng cách , đúng lúc .

6-     Thức ăn bị hâm đi hâm lại quá nhiều lần  ở nhiệt độ không thích hợp .

7-     Do nhiễm trùng chéo ( Contamination croisée , cross contamination ), như sử dụng lại dao , thớt , thau , nồi ,chảo, chén dĩa đã bị nhiễm trùng sẵn từ trước đó rồi .

8-     Sử dụng thực phẫm tươi sống  đả bị nhiễm trùng sẵn  từ trước  .

9-     Nguồn cung cấp thực phẩm không tốt , đáng nghi ngờ .                                                                              

 

PHÒNG  BỆNH  HƠN LÀ  CHỮA  BỆNH

 

Để tránh nhửng trường hợp ngộ độc thực phẩm có thể xảy ra , chúng ta cần phải đặc biệt quan tâm đến 4 điểm then chốt sau đây .

 

·                                 Rửa Kỹ  :  Rửa tay kỹ lưỡng  với savon , tối thiểu 20 giây mỗi lần , trước và  sau khi làm bếp , hoặc trước khi sờ mó vào thức ăn . Dụng cụ nhà bếp cần được rửa kỹ với savon và nước nóng . Có thể pha 1 muổng café (5ml) nước javel trong 3 tách nước (750 ml)  để rửa dao và thớt . Luôn luôn rửa kỷ rau cải  và trái cây với nước lạnh  trước khi sử dụng . Chùi rửa  kệ bếp, bàn ăn khi xong việc .

·                                 Tách Riêng  : Để tránh nhiễm trùng lẫn nhau , không nên giữ thịt cá tươi sống  cùng chung 1 ngăn tủ lạnh  với thức ăn đã được nấu chín rồi . Thịt cá tươi cần được gói kỹ và cất giữ ở ngăn cuối cùng bên dưới của tủ lạnh để tránh nước thịt có thể lây nhiễm vào nhửng thực phẩm khác . Gói và đậy  kỹ lưỡng những thức ăn nào mình chưa dùng đến . Sử dụng 1 thớt riêng biệt cho thịt cá , và 1 thớt khác cho rau cải tươi .

·                                 Nấu  Kỹ  : Nấu nướng kỹ là điều cần thiết để ngừa ngộ độc thực phẩm  Thời gian và nhiệt độ nấu nướng khác biệt nhau cho mỗi loại thức ăn .  Nhiệt độ lò nướng không được thấp hơn 160o C ( 320o F ) cho thịt gà , và thấp hơn 121o C ( 250o F ) cho thịt bò , thịt heo . Đa số  vi khuẩn đều bị diệt khi thực phẩm đạt tới nhiệt độ 71oC ( 160o F) , Muốn biết thịt đã thật sự chín hay chưa , thì hãy dùng 1 nhiệt kế đặc biệt của nhà bếp  và đâm thẳng vào khối thịt để đo . Thịt rôti : hơi chín (medium) 70oC , thật chín 75oC ( 167oF ) . Gà vịt đút lò nguyên con , thịt chín khi chính giữa khối thịt đạt được   82-85oC ( 180o- 185o F ) hoặc cắt ra thấy trắng .  

·                                 Trử Lạnh – Trử lạnh và đông lạnh không diệt được vi khuẩn , nhưng chỉ ngăn chận sự phát triển của chúng mà thôi . Điều chỉnh tủ lạnh ở + 4 o C (39.2 o F ) và tủ đông lạnh ở mức    trừ 18 độ C ( O độ F ). Trử lạnh hoặc đông lạnh tất cả thực phẩm tươi ,thịt cá , sữa  , thức ăn vừa mới  được nấu chín , và thức ăn dư bữa  càng sớm càng tốt . Không nên để các loại thực phẩm đã nấu chín ở nhiệt độ bên ngoài tủ lạnh , lâu hơn 2 giờ đồng hồ . Thịt mua về , nên phân ra thành từng  gói nhỏ , vô bọc  và đem cất vào ngăn đông lạnh ngay lập tức . Ăn tới đâu mới đem ra xài  tới đó .

 

NÊN  TRỬ  THỊT  TRONG  THỜI  GIAN  BAO  LÂU   ?

 

Sau khi mua  các thực phẩm tươi sống về, chúng ta  nên cất giữ  tối đa trong thời gian :

                                                Tủ lạnh                               Tủ đông lạnh

  -  Thịt bằm, thịt xay , thịt hamburger      1 ngày                                    3 tháng

  -    Đồ lòng  ( tim ,gan, thận)                  2 ngày                                  4 tháng

  -     Gà vịt nguyên con                           3 ngày                                    12 tháng

 -    Gà vịt  đã được cắt xẻ                       3 ngày                                    6 tháng

 -    Thịt  tươi                                           3 ngày                                    6- 9 tháng

 -    Thịt đã được nấu chín                        3 ngày                                    12 tháng

 

 

NHỮNG  ĐIỀU  CẦN NÊN  ĐỂ  Ý

 

1-Đi chợ, chúng ta nên lựa thịt nào còn thật lạnh , bao bì còn nguyên vẹn không bị rách , và nhớ xem kỹ ngày vô bao ( date d’emballagepackaged  on ) , và ngày giới hạn sử dụng  (date meilleure avant , best before ) . Phẩm chất sản phẩm có thể bị giảm đi sau ngày giới hạn  .

2- Mua thịt ,cá, sữa , crème , fromage chót nhất trước khi ra quầy trả tiền .

3- Nếu trên gói thịt bằm  có ghi câu :làm từ thịt đã được đông lạnh ( produit déjà congelé,made from frozen meat  ) hoặc có thể chứa những thành phần đã được làm đông lạnh ( peut contenir des produits déjà congelés ), thì chúng ta không nên làm đông lạnh lại nữa ở nhà mà phải sử dụng liền , ngoại trừ sau khi ta đã nấu chín rồi . Luật Canada và Hoa Kỳ bắt buộc các siêu thị phải ghi thêm trên gói thịt xay ( ground meat ,viande hachée )  2 câu trên nếu nó  được làm từ thịt đả được đông lạnh sẵn từ trước đó.  Xin nói rõ thêm là thịt đả tan đông thường có nhiều nguy cơ nhiễm trùng và cũng thường bị mất đi ít nhiều dưỡng chất chãy  theo nước thịt .

4- Chỉ hâm nóng 1 phần thức ăn vừa đủ dùng ngay  mà thôi . Tránh hâm nóng đi hâm nóng lại , và để nguội lại nhiều lần . Sự kiện nầy sẽ tạo điều kiện thích hợp cho vi khuẩn dể phát triển và sản xuất ra độc tố . Nên nhớ là độc tố của vi khuẩn Staphilococcus aureus có thể tồn tại ở nhiệt độ rất cao .

5- Thịt bằm, thịt xay , nem nướng ,hamburger phải ăn thật chín . ( cắt ra chính giữa không có màu hồng hồng ! ) . Thịt hamburger dể bị nhiễm nhất , vì lúc xay thịt ,vi khuẩn từ bên ngoài  đã bị đem trộn lẫn vào bên trong .

6- Steak có thể ăn  hơi sống  bên trong ( saignant, rare, medium ). Vi khuẩn nếu có cũng chỉ nhiễm  ở ngoài mặt của miếng thịt và chúng đã bị diệt lúc chiên rồi .

7- Khi ướp thịt xong , chớ để ở bên ngoài bếp , nên đem cất trong tủ lạnh chờ cho nó thấm .

8- Không dùng lại mâm dĩa trước đó đã được sử dụng để chứa thịt tươi sống  để đựng thịt vừa được  nướng chín .

9- Không bao giờ làm tan đông ( defrost , décongeler) thịt  trên kệ bếp . Nên để thịt trong tủ lạnh chờ cho đá từ từ tan đi . Cũng có thể làm tan đá trong lò vi ba ( microwave oven ) , hoặc dưới vòi nước , trường hợp nầy thịt cần phải được nấu ngay liền sau đó . Thịt đông lạnh để  trên kệ bếp qua đêm  để cho tan đá sẽ tạo điều kiện thích hợp cho vi khuẩn phát triển và sản xuất ra độc tố lúc thịt trở nên ấm dần từ ngoài vào bên trong .

10-  Trường hợp bị cúp điện, hay tủ lạnh bị hỏng : Nếu thịt còn lạnh , còn dính đá thì có thể làm đông lạnh lại được . Nếu đá đã tan hết, nhưng thịt vẫn còn lạnh, thì nên nấu chín thịt ,sau đó có thể làm đông lạnh trở lại nếu muốn .Nếu thịt hết còn lạnh ,thì nên vứt bỏ đi .

11- Trên nguyên tắc vùng nguy hiễm , tức là vùng nhiệt độ thích hợp cho vi khuẩn sinh sôi nẩy nở và phát triển là khoãng từ   +4 o C (39.2 o F) đến +60 o C  ( 140 o F ). Vậy, muốn giữ lạnh 1 thức ăn  thì phải giữ ở nhiệt độ từ +4oC trở xuống ,  còn muốn giữ nóng thì phải giữ  từ +60oC trở lên . Đây là  nhiệt độ chính thức đã được các giới y tế Canada , Hoa Kỳ ,  cũng như Cơ Quan Kiễm Tra Thực Phẩm  Canada ( CFIA) chính thức quy định trong vấn đề vệ sinh và bảo quản thức ăn .

 

 

KHI  NÀO  CẦN  PHẢI  ĐI  KHÁM  BÁC  SĨ    ?

 

Bình thường , tiêu chảy một hay hai ngày rồi cũng dần dần khỏi mà thôi . Tuy nhiên chúng ta cần đi khám bác sĩ ngay nếu thấy  có các triệu chứng như :

           -  Sốt nóng trên 38.6 độ C ( 101.5 o F ). Nhiệt độ lấy từ miệng .

           -  Phân có máu .

           -  Ói mữa nhiều và kéo dài có thể dẩn đến tình trạng cơ thể mất nước .

           - Có dấu hiệu mất nước như , ít đi tiểu , khô miệng khô cổ , chóng mặt mổi khi                                             

             đứng lên .

-         Tiêu chảy kéo dài trên 3 ngày .

  

 

KỸ  NGHỆ  THỰC  PHẨM  Đà LÀM   GÌ    ?

 

Thịt bị nhiễm phân là mối  quan tâm chính  của mọi người tại lò sát sinh . E.coli 0157:H7 và vi khuẩn Salmonella  là những thủ phạm gây ngộ độc thực phẩm  được thường xuyên  nói đến  . Mỗi khi phát hiện được  sự nhiễm trùng ở thịt bán ra tại chợ , toàn thể lô hàng  sẽ bị thu hồi lại để được hủy bỏ ngay sau đó . Sự kiện nầy gây rất nhiều thiệt hại cho  nhà sản xuất , đồng thời cũng làm cho họ mang tai tiếng không ít . Để ngăn ngừa nhiễm trùng , các lò sát sinh  đã cho pha chất diệt khuẩn Chlorine dioxide  ( ClO2) vào trong  nước để rửa thịt hay trộn vào bể nước đá  ngâm gà sau khi đả làm xong . Đối với thịt bò, nhà máy sử dụng nước nóng  hay hơi nước nóng ( 85 độ C ), hoặc lactic acid hay acetic acid 2 % đễ phun xịt lên quày thịt trước khi đem trữ nó vào phòng lạnh . Xạ chiếu ( irradiation ) cũng là 1 cách khác để diệt mầm bệnh trong các loại thực phẩm .. Cơ Quan Quản Trị Thực Phẫm và Dược Phẩm Hoa Kỳ  (FDA ) đã chấp thuận việc sử dụng phương pháp xạ chiếu thịt bò và thịt gà để ngừa ngộ độc thực phẩm . Mặc dù đã được các nhà khoa học trấn an và bảo đảm tính chất an toàn của việc  xạ chiếu nhưng người tiêu thụ vẫn còn e dè không an tâm trước phương pháp quá mới mẽ nầy . Họ lo sợ về lâu về dài , chất phóng xạ có thể gây  ảnh hưỡng không tốt cho sức khỏe . Tại Hoa Kỳ một số nhà sản xuất đã bắt đầu cho xạ chiếu loại  thịt hamburger ép thành miếng  ( dạng patties )  trước khi đem bán ra . Canada thì chưa dám cho phép áp dụng kỹ thuật nầy vào thịt . Trong thực tế Hoa Kỳ và Canada cũng đã bắt  đầu sử dụng xạ chiếu đối với một số  nông phẩm từ những năm 60 . Người ta  dùng tia Gamma  của chất phóng xạ cobalt 60 césium 137  ,  để diệt vi trùng , nấm móc , sâu bọ , côn trùng  , ký sinh trùng  và cũng như để ngăn chận sự nẩy mầm của thực vật ( chẳng hạn như củ hành )  nhờ vậy sự bảo quản sẽ được hửu hiệu và lâu dài hơn . Các  loại nông sản sau đây thường bị xạ chiếu:  khoai Tây , củ hành , lúa mì , bột lúa mì , các loại gia vị khô , và các loại thực phẩm đã được rút bỏ nước  vv…

 

 

 

CHƯƠNG  TRÌNH  H.A.C.C.P  VÀ  VỆ  SINH  AN  TOÀN  THỰC  PHẪM

 

H.A.C.C.P ( đọc là  Assep ), hay Hazard Analysis Critical Control Points System , là một hệ thống rất khoa học áp dụng trong kỹ nghệ kiểm soát thực phẩm , nhầm đảm bảo một chất lượng tốt và một tính vệ sinh  an toàn tối đa . Việc kiễm soát bao gồm tất cả các khâu , từ nguyên liệu , nuôi trồng , sản xuất , hạ thịt , biến chế, bao bì , bảo quản  và chuyên chở  đến  nơi tiêu thụ . Phương pháp nầy , tiên khởi đả được cơ quan Không Gian NASA Hoa Kỳ áp dụng trong  việc sản xuất thức ăn thức uống cho các phi hành gia . Nhửng năm gần đây , với khuynh hướng toàn cầu hóa mậu dịch , H.A.C.C.P  đã trở nên một yêu cầu bắt buộc của kỹ nghệ thực phẩm trên khắp thế giới . Đây là điều kiện cần thiết để có thể xuất khẩu . Một nhà máy được chứng nhận H.A.C.C.P ( certified H.A.C.C.P ) sẽ có rất nhiều lợi  điễm về mặt khuyến  mãi và xuất khẩu . Chương trình H.A.C.C.P do nhà máy  thiết lập và chiụ trách nhiệm thi hành . Bộ phận kiễm soát chất lượng ( Quality Control ) của họ có nhiệm vụ theo dõi tất cả các công đoạn sản xuất  , làm các tests thử nghiệm về hóa học và vi trùng học  và thực thi các điều đã được trù liệu trong H.A.C.C.P . Theo những định kỳ nhất định , cơ quan kiễm tra thực phẫm của chính phủ sẻ đến nhà máy để thanh tra , hay gọi là làm audit  để kiểm soát về mặt sổ sách tất cả hồ sơ H.A.C.C.P  , và coi họ có thật sự tôn trọng chương trình nầy hay kkông . H.A.C.C.P gồm có các giai đoạn chính   như sau   :

* Phân tích , tìm ra tất cả các điễm nguy cơ ( risks )có thể xảy ra trong suốt quá trình sản xuất  sản phẩm .

* Xác định những điễm , những giới hạn cần được kiểm soát và khống chế ( gọi là những CCP hay critical control points ) .

* Xác định những độ sai lệch tối đa được cho phép .

* Đề ra những biện pháp sửa chửa , mổi khi một CCP không thể khống chế được .

*Áp dụng việc kiểm tra do nhà máy thực hiện .

* Thiết lập hồ sơ tất cả các thủ tục và kết quả kiểm tra .

Ý niệm H.A.C.C.P còn rất mới lạ đối với nhiều người . Áp đặt một chương trình H.A.C.C.P vào một nhà máy không phải là chuyện đơn giản . Vấn đề thiếu nhân sự chuyên môn có thể am tường mọi khía cạnh của H.A.C.C.P  là một trở ngại chính yếu . Chương trình nầy thật sự hữu hiệu và có ích lợi trong việc đảm bảo chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm nếu nó được những người trách nhiệm thi hành một cách  nghiêm túc , không gian dối , không che lấp bớt những yếu điễm hay những nguy cơ cần được khống chế trong lúc sản xuất ,và trong suốt vòng đời của sản phẩm .

 

 

 

KẾT  LUẬN

 

Bệnh tật  vào từ ngỏ miệng .  Tuy biết vậy , nhưng đôi khi chúng ta cũng quên đi những điễm vệ sinh căn bản lúc làm bếp hay trước khi ăn uống . Rửa tay  sạch sẻ với savon tối thiểu 20 giây,là một thí dụ điển hình . Tránh dùng những thức ăn , thức uống đã bị biến chất , đổi màu , mốc meo ,có mùi vị khác thường , hơi chua, hôi ê, thiu , nhớt rờ vào dính các đầu ngón tay . Không nên vì tiếc uổng , vì bỏ sợ tội mà ăn vào . Vấn đề bảo vệ sức khỏe và vệ sinh an toàn  thực phẩm là bổn phận và trách nhiệm chung của tất cả mọi người  chớ không phải chỉ riêng của một ai  ./.

 

 

 

 

 

 

Tài liệu tham khảo :

 

-         Conseil sur la salubrité des aliments . Agence  Canadienne d’Inspection des Aliments  (ACIA)

-         Partenariat Canadien pour la Salubrité des Aliments .

-         Les Microorganismes qui peuvent nous nuire , FDA .

-         Foodborne Illness : What Consumers Need To Know , USDA .

-         Foodborne Illness , CDC .

 

 

Montreal ,  Jan 8 , 2006

 

 

Print this site

Trở về Trang Chính