|
Keywords:
Syndrome de nid vide, Empty nest syndrome
Phần đông trong chúng ta, thuộc thế hệ baby
boomer nay đã bước vào ngưỡng cửa của lớp tuổi 60 rồi. Đây cũng
là giai đoạn mà con cái chúng ta đã học hành xong xuôi, có vợ có
chồng và bắt đầu tách rời khỏi tổ ấm gia đình để đi xây dựng
cuộc đời sống riêng của chúng.
Tất cả các bậc cha mẹ Việt Nam sống ở xứ
người đều đã ý thức được rằng một ngày nào đó trong tương lai,
mấy đứa con của mình trước sau gì chúng cũng sẽ…đi ra ở riêng
hết. Biết vậy, nhưng đến lúc con cái mình gom góp đồ đạc và
xách valise ra khỏi nhà, cha mẹ nào mà không khỏi chạnh lòng
buồn man mác và cảm thấy nhà cửa sao trống vắng lạ thường.
Cuộc sống của họ bắt đầu thay đổi hoàn toàn…
Sự thay đổi đột ngột này đã tạo nơi họ một cái shock khá mãnh
liệt nhất là ở phía người mẹ.
Khoa học gọi đây là hội chứng trống ổ.
Tại sao gọi là hội chứng trống ổ?
Đây là trạng thái tâm lý mà cha mẹ cảm nhận
khi con cái mình dọn ra khỏi gia đình để đi ở riêng vì bất cứ
một lý do nào. Đi học xa, đi làm xa, có bồ bịch, lập gia đình
hay chỉ vì muốn ở riêng để được độc lập tự do, v.v…
Ảnh hưởng của hiện tượng trống ổ thường gây
tác động rất mạnh ở phía người mẹ.
Ngoài ra, giai đoạn nầy lại trùng vào thời
gian mãn kinh của người mẹ với những biến đổi tâm sinh lý bất
thường khiến người mẹ càng dễ bị rơi vào trạng thái suy nhược
tinh thần.
Trong tâm trí của phần lớn cha mẹ, con cái
mình dù nay đã hơn 25-27 tuổi rồi nhưng nó cũng vẫn còn là…một
đứa bé đối với mình.
Nỗi khổ tâm lớn nhất của cha mẹ đến từ ý
tưởng vĩnh viễn mất mát đứa con mà không có gì có thể hàn gắn
hay thay thế lại được.
Các nhà tâm lý học cho rằng hội chứng trống ổ
mà cha mẹ đang gặp phải, bắt nguồn từ cảm giác mất bổn phận làm
cha làm mẹ (parenting) mà ra, chớ thật ra không phải là sự kiện
mất đứa con.
Cuộc sống vẫn tiếp tục
Sự thay đổi là một hiện tượng không thể nào
tránh khỏi được hết.
Chúng ta có hai sự lựa chọn, hoặc là chống
lại bất kỳ một sự thay đổi nào và sống với tâm trạng buồn bực
níu kéo lại quá khứ, hoặc là chúng ta phải chấp nhận sự đổi thay
và cố gắng tìm cách thích ứng với hoàn cảnh mới của hiện tại.
Sự ra đi của mấy đứa con đã làm thay đổi hoàn
toàn khung cảnh, cách sinh hoạt và thói quen của gia đình từ hơn
hai mươi năm qua.
Ảnh hưởng của hội chứng trống ổ có thể rất
khác nhau tùy theo hoàn cảnh của mỗi gia đình. Không có ai giống
ai hết!
Trước kia, trọng tâm chính của sinh hoạt
trong gia đình là con cái.
Nay, chúng đã đi khỏi rồi thì gia đình không
còn cái trọng tâm nữa. Sự buồn chán tạo điều kiện và cơ hội để
ông ngó bà hoặc bà ngó ông và tìm những điều không vừa ý, tánh
hư tật xấu của nhau mà hành tỏi dằn vặt lẫn nhau. Vì trong thời
gian con cái còn ở chung thì ít khi thấy hiện tượng này xảy ra,
vì bị che lấp để khỏi làm phiền hà đến con cái.
Đây là điểm tiêu cực cần nên tránh.
Ngược lại phần đông cha mẹ sau một thời gian
khi tâm thần đã bớt giao động, họ trở nên thực tế hơn.
Giai đoạn trống ổ là dịp để cha mẹ ngồi lại
với nhau bên chén trà và hoạch định chương trình và thời gian để
tận hưởng tình vợ chồng mà hình như từ lâu đã bị gát qua một bên
để lo cho con cho cái.
Một thời gian sau khi đã bắt đầu quen sống
với tâm trạng trống ổ, chúng ta nên tái tổ chức lại mối quan hệ
với con cái trong điều kiện mới khi chúng đã thật sự trở nên
những người trưởng thành rồi.
Lợi dụng thời gian trống ổ:
*- Mạnh dạn chấp nhận hoàn cảnh trống ổ, chớ
nên ngồi đó mà rầu rĩ, mà than sao mình vô phước quá vậy.
*- Liên lạc thường xuyên và định kỳ bằng
email hoặc bằng phone với các con. Nên lập một lịch trình gọi
phone cho hợp lý và không để con cái nghĩ là cha mẹ muốn làm áp
lực hoặc muốn bắt buộc con cái phải thường xuyên gọi thăm mình.
*- Tổ chức lại cuộc sống hằng ngày theo thứ
tự ưu tiên và nên tôn trọng sở thích của nhau.
*- Dùng thời gian rảnh rỗi để vun đắp lại
tình vợ chồng với nhau, tránh cảnh ông nói ông nghe bà nói bà
nghe, rất dễ dẫn dến tình trạng tuy hai người ở cùng chung một
nhà nhưng vẫn cảm thấy cô đơn, Tây gọi là solitude à deux rất có
hại cho tuổi già.
*- Nếu hội chứng trống ổ kéo dài quá lâu với
những hậu quả có hại về sức khỏe như trầm cảm hay chán đời, thì
cha hoặc mẹ cần phải đi tham vấn những nhà chuyên môn.
*- Nên khai thác khía cạnh tích cực có lợi
của tình trạng trống ổ, đó là sự kiện cha mẹ được nhiều tự do
hơn thuở xưa lúc con cái còn ở chung.
Kết luận
Thời gian trống ổ là một giai đoạn trong cuộc
sống của phần đông các bậc làm cha làm mẹ ở xứ người.
Phải chăng trong tình thương con thương cái
có ẩn náu tình thương vị kỷ cho chính mình?
Mình lo lúc già rồi ở với ai đây, ai lo cho
mình mỗi khi đau yếu bệnh hoạn. Mình sợ sẽ sống trong cảnh đơn
chiếc cô độc, sợ không có người giúp đỡ, sợ những việc mình chưa
biết đến như…sợ bệnh, sợ chết, v.v…
Thời gian trống ổ chưa phải là chấm dứt bổn
phận của cha mẹ với con cái!
Mình vẫn còn là cha mẹ của chúng nó nhưng
khác biệt là mình phải thay đổi cách đối xử, xem chúng là những
thành viên đã trưởng thành và phải biết tôn trọng quyền tự do
quyết định của chúng.
Khi con cái cần đến mình thì mình vẫn sẵn
sàng vì lúc nào mình cũng vẫn còn là cha là mẹ của chúng./.
Tham khảo:
-
Chritine Webber. Empty nest syndrome. Netdoctor.co.uk
http://www.netdoctor.co.uk/womenshealth/features/ens.htm
-
Kelley Reese. Filling the nest. Univ of Texas
http://unt.edu/northtexan/archives/f00/nest.htm
Montreal, March 14, 2008
Trở về Trang Chính
|