|
Ngày
nay phong trào dùng thuốc thiên nhiên đang bành trướng mạnh mẽ
khắp mọi nơi trên thế giới. Phải chăng đây là khuynh hướng trở
về nguồn của con người? Tại Canada, trên 50% dân chúng sử dụng
thuốc thiên nhiên (herbal medicines, produits naturels).
Đây là những loại thuốc được làm từ thực vật, cây cỏ, từ các
phần của động vật, côn trùng hoặc từ các loại khoáng chất,
v.v…Thuốc thiên nhiên thường được sử dụng để bồi dưỡng sức khỏe,
lọc thận, bổ gan, tẩy độc, tạo thêm sinh lực, trợ dương, tăng
sức
miễn
dịch, phòng trị các bệnh thông thường như ho hen cảm cúm, viêm
sưng đau nhức khớp xương hoặc để giúp làm tăng hay giảm cân. Đối
với người Vn chúng ta, hiện tượng này không có gì mới lạ hết.
Ngày xưa ở quê nhà, chúng ta cũng đã từng dùng thuốc thiên nhiên
rồi. Đó là thuốc Bắc, thuốc Nam, thuốc Ta hay thuốc “Vườn”. Sau
75, danh từ thuốc Dân tộc đã được dùng để chỉ những loại thuốc
được sản xuất và bào chế từ cây cỏ ở Vn...Tại
Canada, thuốc thiên nhiên được qui định và chi phối bởi luật Loi
et Règlements sur les Aliments et Drogues của Bộ Y Tế Santé
Canada. Phần lớn thuốc thiên nhiên được xếp vào trong nhóm thực
phẩm bổ sung (supplément alimentaire) và có thể
mua dễ
dàng không cần toa bác sĩ trong các pharmacies, trong các chợ,
trong tiệm Produits naturels, Health food stores hoặc mua qua
ngõ bưu điện và Internet…Viết bài nầy, tác giả không có chủ tâm
đánh giá thuốc thiên nhiên hay thuốc Tây. Thuốc nào cũng có cái
hay cái dở, cái mạnh cái yếu của nó hết!..
Một nhận định sai lầm
Thường
tình, ai cũng nghĩ rằng hễ thiên nhiên là vô hại. Các nhà khoa
học Tây phương đã cho biết là có một số thuốc thiên nhiên kể cả
các loại vitamines, nếu dùng không đúng cách vẫn có thể gây hại
cho sức khỏe...Một vài loại thuốc có thể che lấp một cách tạm
thời diễn biến thật sự của bệnh trạng và làm sai lạc kết quả các
test của phòng thí nghiệm. Chúng cũng có thể làm gia tăng tác
dụng của thuốc Tây đến độ gây nguy hiểm cho bệnh nhân. Đôi khi
thuốc thiên nhiên cũng có thể hóa giải, làm giảm hay làm mất tác
dụng của một loại âu dược nào đó nếu được dùng chung với nhau.
Tóm lại, tất cả các phản ứng bất lợi vừa nêu trên đều do sự
tương tác (interaction) giữa các món thuốc với nhau mà ra
thôi.
Một số thuốc thiên nhiên thông dụng tại hải
ngoại
*Valériane (Valeriana officinalis, Valerian, Herbe aux chats,
Herbe de st George): Giúp an
thần, giảm lo âu bức rức, giảm stress, giảm suy nhược tinh thần,
động kinh, giúp tập trung tư tưởng và ngủ ngon...Không nên sử
dụng chung với các loại thuốc ngủ hay thuốc an thần (sédatifs)
như barbituriques, benzodiazepines (Valium,
Librium, Ativan). Cũng không nên uống chung với các thuốc thiên
nhiên có tính an thần như Camomille, Kava và Millepertuis vì
tính an thần sẽ bị gia tăng gấp bội, bệnh nhân có thể rơi vào
trạng thái mê man. Cùng một lý do vừa nêu, không nên uống
Valeriane chung với rượu vì sẽ làm tăng tác dụng của alcool.
Không nên uống chung cùng lúc với thuốc trị bệnh mất ngủ vì tác
dụng của thuốc nầy sẽ tăng.
*Kava-Kava (Piper methysticum, Tonga, Awa):
Trị lo âu, an thần...Không nên sử dụng chung với các loại thuốc
barbituriques, benzodiazepines, thuốc trị suy nhược tinh thần và
thuốc trị bệnh Parkinson. Kava có ảnh hưởng không tốt đối với
các loại thuốc gây mê, như nó có thể làm gia tăng tác dụng của
thuốc mê Halothane, rất nguy hiểm khi giải phẫu. Không nên uống
rượu lúc sử dụng thuốc Kava.
*Echinacée (Echinacea sp, Cone flower, Hedgehog, Indian Head):
Trị cảm cúm, cảm nhiễm đường hô hấp, tăng cường sức miễn
dịch...Không sử dụng Echinacée nếu đang xài các loại thuốc làm
giảm sức miễn dịch (immunosuppresseur) như Cyclosporine
sau khi được giải phẫu ghép bộ phận. Kỵ các loại thuốc
corticostéroides (Prednisone, Decadron), các steroides
anabolisants (Winstrol), Amiodarone (Cordarone), Methotrexate
(Rheumatrex) và Ketocomazol (Nizoral). Phụ nữ đang mang thai
không nên xài Echinacée. Những người nào đang mắc bệnh lao, hoặc
các bệnh thuộc tự miễn (auto immune disease) như rheumathoid
arthritis, systemic lupus erythomatosus cũng không
nên sử dụng Echinacée. Chỉ nên uống
trong vòng từ 7 đến 14 ngày mà thôi, không nên uống liên tục
trong 8 tuần lễ.

*Tỏi
(Allium sativum, Garlic, Nectar of the Gods, Ail):
Trị cảm cúm, tiêu chảy, giúp làm giảm đường lượng trong máu,
giảm cholesterol, giảm áp huyết, ngăn ngừa tình trạng xơ cứng
động mạch, ngừa các bệnh thuộc về tim, bổ gan và tăng cường sức
miễn dịch…Thuốc tỏi có khuynh hướng làm máu loãng. Không nên xài
thuốc tỏi cùng lúc với các thuốc kháng đông (anticoagulant)
như Warfarin (Coumadin) hoặc với các thuốc có tính chống kết tụ
tiểu cầu (antiplaquettaire) như Aspirine vì có nhiều nguy
cơ bị xuất huyết. Đối với các thuốc trị bệnh tiểu đường thường
được gọi là thuốc giảm đường lượng (hypoglycémiant), cũng
không nên dùng chung với thuốc tỏi để tránh tình trạng đường
huyết bị kéo xuống quá thấp.
*Gừng (Gingembre, Ginger) dùng
trong trường hợp muốn nôn mửa, say sóng (motion sickness) và ăn
không ngon, mất đói...Gừng kéo dài thời gian chảy máu. Tránh
dùng gừng chung với các loại thuốc làm loãng máu như Aspirine,
Coumadin. Lạm dụng gừng có thể ảnh hưởng đến các thuốc trị bệnh
tim và thuốc trị tiểu đường.
*Camomille (Tanacetum parthenium, Feverfew, Wild Chamomile):
Trị tinh thần căng thẳng, nhức
đầu, phong thấp, dị ứng, chóng mặt, đau bụng lúc hành
kinh...Không nên uống Camomille chung với các thuốc kháng đông
vì sẽ dễ gây xuất huyết. Cũng không nên uống chung với thuốc
chống đau nhức làm loãng máu thuộc nhóm anti inflammatoire
non stéroidien như Tylénol, Aspirine, Ibuprofene (Advil,
Motrin), Celebrex. Phụ nữ đang mang thai tránh dùng Camomille vì
có thể làm tử cung co thắt. Không uống chung với thuốc kháng
đông Coumadin. Camomille có chứa chất chát tannin có thể ngăn
trở việc hấp thụ chất sắt.
*Millepertuis (Hypericum perforatum, St John’s Wort,
Goatweed, Herbe de St Jean):
Trị suy nhược tinh thần nhẹ, lo âu, mệt mỏi,
ăn không biết ngon, mất ngủ và đau nhức các bắp cơ, tăng sinh
lực, giúp ổn định tâm tánh trong thời gian tiền kinh
nguyệt...Uống chung với các thuốc trị sida, như thuốc Indinavir,
sẽ làm giảm tác dụng của loại thuốc diệt siêu vi nầy.
Millepertuis cũng ảnh hưởng đến tác dụng của các thuốc trị kinh
phong (antiépileptique), thuốc ngừa thai, thuốc làm giảm
sức miễn dịch, thuốc chống suy nhược tinh thần (Prozac, Paxil),
thuốc chống kết tụ tiểu cầu, thuốc kháng đông (Coumadin), thuốc
ngừa sự loại bỏ bộ phận ghép (Cyclosporine), thuốc chống siêu vi
agents antirétroviraux (Invirase), thuốc trị bệnh tim Digoxine
(Lanoxin) và Théophylline.
*Bạch quả (Ginkgo biloba, Yinhsing, Fossil tree, Kew tree,
Maiden hair tree): Giúp máu
lưu thông được dễ dàng, trị viêm phế quản, xơ cứng động mạch,
cholesterol cao, bồi dưỡng trí nhớ, giảm triệu chứng bệnh
Alzheimer, cải thiện tình trạng chóng mặt, giúp gan và túi mật
hoạt động tốt...Có thể làm xuất huyết nếu xài chung với thuốc
kháng đông hoặc thuốc làm máu loãng như Aspirine, vitamin E,
Plavix, Persantine và Ticlid. Tạp chí New England Journal of
Medicine có đề cập đến một ca xuất huyết trong mắt sau khi bệnh
nhân đã thường xuyên uống Ginkgo biloba và Aspirin trong một
thời gian dài. Tránh xài Ginkgo biloba lúc mang thai và lúc cho
con bú.
*Nhân Sâm (Panax ginseng):
An thần, giảm stress, bồi dưỡng sinh lực, tăng sức miễn dịch,
giảm đường máu, giảm cholesterol và trợ dương...Dùng Ginseng
chung với thuốc kháng đông có thể gây xuất huyết. Với thuốc trị
suy nhược tinh thần Phenelzine (Nardil) sẽ gây nhức đầu, run
rẩy. Với thuốc trị bệnh tim Digoxin (Lanoxin) sẽ làm khó đo
lường hiệu quả và tác dụng của món thuốc nầy. Cũng không nên
uống Ginseng nếu đang trị liệu bằng các thuốc tâm thần (antipsychotiques)
và thuốc trị suy nhược tinh thần hay trầm cảm (antidepresseur).
Nếu đang dùng thuốc trị bệnh tiểu đường (Diabeta, Diamicron) thì
cũng không nên dùng Ginseng cùng một lúc vì đường lượng có thể
bị kéo xuống quá nhanh...Lạm dụng Ginseng sẽ có nguy cơ làm tăng
áp huyết, bồn chồn, mất ngủ, bị tiêu chảy hoặc da nổi đỏ.
*Ephedra / Ephedrine (Ephedra sinica, Ma Huang, Sea Grape,
Yellow Horse, Desert Herb):
Trị suyễn, tăng sinh lực, và để giúp làm giảm cân...Có thể dẫn
đến những phản ứng bất lợi như ngạt thở, áp huyết tăng cao gây
hại cho tim.
Sử dụng
cùng lúc với thuốc thông mũi (décongestants) có chứa chất
Ephedrine như Dristan, Sinutab, Sudafed, Actifed hoặc với các
thuốc có Caffeine, bệnh nhân sẽ bị co giật, hôn mê và có thể bị
đột quỵ tim. Không nên uống Ephedra trong các trường hợp
sau đây: lúc mang thai, lúc cho con bú, khi có bệnh tiểu đường,
đang bị bệnh tăng nhãn áp glaucome hoặc đang bị chứng
cường giáp trạng (hyperthyroidisme).
*Sulfate de glucosamine: Trị đau
nhức do thoái hóa khớp (arthrose), bảo vệ sụn khớp...Có
người cho rằng Glucosamine có tính làm tăng đường máu? Nếu dùng
chung với thuốc Insuline có thể sẽ làm giảm tác dụng của thuốc
nầy. Vấn đề trên cũng còn trong vòng tranh cãi giữa các nhà khoa
học với nhau. Nên ngưng uống Glucosamine một tuần trước ngày đi
thử máu để việc đo đường lượng được chính xác hơn. Không xài
Glucosamine đồng thời với thuốc kháng đông Warfarin (Coumadin).
Các người nào thường hay bị dị ứng với đồ biển thì không nên
uống Glucosamine có hoặc không có phối hợp với Chondroitine vì
cả hai chất nầy đều có nguồn gốc từ cá
mập.
*Dong Quai (Angelica sinensis, Ginseng pour femme):
Trị mất ngủ, điều kinh, trị đau bụng và giúp giảm thiểu các
triệu chứng bất lợi của thời kỳ mãn kinh...Không
nên dùng Dong Quai lúc đang mang thai, hoặc lúc có kinh nguyệt
quá nhiều. Những người đang bị bệnh tiểu đường cần thận trọng vì
Dong Quai có thể làm tăng đường huyết.
Với
liều lượng cao, Dong Quai làm tăng nhịp tim và làm tăng áp
huyết.
*Cam thảo (Réglisse, Glycyrrhiza glabra, Licorice, Sweetwood):
Trị bệnh đau dạ dầy, loét bao tử, loét miệng, ho hen, phong
thấp, v.v… Dùng cùng lúc với các thuốc lợi tiểu (diurétiques)
có thể làm giảm chất potassium trong máu. Không nên uống cùng
một lượt với thuốc trị bệnh tim như Lanoxin hoặc với các thuốc
làm hạ áp huyết. Tránh dùng Réglisse khi có thai, lúc bị tiểu
đường, yếu gan, yếu thận hoặc đang mắc các bệnh chứng về tim
mạch hoặc áp huyết cao.
*Saw
Palmetto (Serenoa repens, Cabbage Palm, Sabal, Dwarf Palm,
Palmier Nain): Có tính lợi
tiểu, và được dùng để trị các bệnh thuộc đường tiết niệu...Saw
Palmetto cũng thường được sử dụng để chữa trị truờng hợp tiền
liệt tuyến bị triển dưỡng (benign prostatic hypertrophy).
Phản ứng phụ của thuốc là có thể làm giảm sự ham muốn tình dục
và gây nhức đầu. Nó cũng có thể làm thay đổi tác dụng của các
thuốc ngừa thai và của các hormones trị liệu khác. Không nên
dùng Saw Palmetto lúc mang thai hoặc trong thời gian cho con bú.
*Hawthorn (Crataegus oxycantha, Aubépine, Mayflower, Maybrush):
Trị hồi hộp, tim đập nhanh, lo âu
mất ngủ, giảm các cơn đau thắt ngực bằng cách giảm áp huyết động
mạch và giảm cholesterol trong máu...Không nên uống cùng một lúc
với các loại thuốc trị bệnh tim như Digoxin (Lanoxin) vì nhịp
tim có thể bị giảm nhiều.
*Hà
thủ ô (Polygonum
multiflorum, Radix Polygoni multiflori, Chineese knotweed,
Flowery knotweed, Ho shou wu, He shou wu, Zi shou wu, Shou Wu
Pian, Fo ti): Rất phổ biến ở Việt Nam và Bắc Mỹ. Theo
Đông y, Hà thủ ô dùng để bồi dưỡng sức khỏe, giữ cho tóc và râu
được đen lâu bạc, bổ gan thận huyết, bổ xương, trợ dương…Theo cơ
quan y tế của Anh quốc Medecine&Health Care Products Regulatory
Agency cho biết, có nhiều khảo cứu nói đến tác dụng độc hại của
Hà thủ ô đối với gan như làm vàng da, vàng mắt, nước tiểu xậm
màu, ói mửa, đau bụng, biếng ăn và làm cho yếu sức (Batinelli
et al 2004, New case of acute hepatitis following
consumption of Shou Wu Pian, Ann Inter Med140:E589)
*Nước bưởi (Jus de
pamplemousse, grapefruit juice): Món giải khát bổ dưỡng
chứa nhiều sinh tố...Có thể tương tác với một số thuốc Tây rất
nguy hiểm. Không uống nước bưởi cùng lúc với các thuốc trị cao
máu, thuốc hạ cholesterol, thuốc trị nấm, thuốc trị đau thắt
ngực hoặc điều hòa nhịp tim và các loại thuốc ngừa sự loại bỏ bộ
phận ghép.
Một thị trường hỗn độn
Trên
70% thuốc thiên nhiên bán tại Canada được xếp vào nhóm thực
phẩm... Ngày 1 Janvier 2004, Cơ quan Santé Canada cho áp dụng
điều luật mới về thuốc thiên nhiên. Santé Canada gọi tất cả các
sản phẩm thiên nhiên với cái tên chung là Produits de santé
naturels PSN. Trong nhóm nầy bao gồm: các dược thảo, rong biển,
nấm, vi khuẩn tốt hay probiotics, vitamins, khoáng chất, các
acids béo thiết yếu (essential fatty acids) như Omega-3, các sản
phẩm từ thú vật và hải sản, các thuốc Tàu hay thuốc Bắc, Cao đơn
hoàn tán, thuốc Nam, thuốc Ấn độ, các thuốc liệu pháp vi lượng
đồng cân (produits homéopathiques)… Theo luật nầy tất cả nhà sản
xuất thuốc thiên nhiên phải có môn bài cấp bởi Santé Canada. Nhà
sản xuất phải đệ nạp các thông tin như: phải nêu rõ tên sản
phẩm, chất gì, nguồn gốc từ đâu, có những hoạt chất nào, ảnh
hưởng trên sức khỏe cùng liều lượng và cách sử dụng ra sao, các
tài liệu khảo cứu liên hệ, v.v…Nếu được chấp nhận, Santé Canada
mới cấp cho sản phẩm một DIN (drug identification number) gồm 8
số, hoặc số NPN (numéro de Produit Naturel), hoặc số liệu pháp
vi lượng đồng cân DIN-HM (homeopathic medecine). Tất cả chỉ dẫn
và các điều cấm kỵ (contre-indications, mise en garde)
cũng đều phải được ghi rõ bên ngoài hộp thuốc...Đối với thuốc
thiên nhiên sản xuất tại Canada và Hoa Kỳ, nhà bào chế phải tuân
theo một số quy tắc làm ăn đàng hoàng gọi là BPF (Bonne Pratique
de Fabrication, Good Manufacturing Practice). Một món thuốc có
mang ký hiệu DIN, NPN hoặc DIN- HM cho biết là nó đã đáp ứng đầy
đủ thủ tục cứu xét của cơ quan Y tế Canada...Thực tế cho thấy kỹ
nghệ thuốc thiên nhiên không ngừng phát triển một cách quá nhanh
chóng trong một bối cảnh hỗn độn, không có luật lệ rõ ràng để
quy định và kiểm soát. Ai muốn bán gì thì bán, nói sao hay quảng
cáo sao cũng được hết...Tạp chí Protégez Vous đã từng cho điều
tra xét nghiệm một số thuốc thiên nhiên bán tại Quebec, thì mặc
dù có mang ký hiệu DIN đàng hoàng nhưng không ít sản phẩm đã
không tôn trọng những điều đã ghi trên hộp thuốc như liều lượng
không đúng, thậm chí chất thuốc cũng không tương ứng như đã ghi
bên ngoài. Direction des Produits de Santé naturels thuộc Santé
Canada hiện đang cố gắng nghiên cứu và tìm cách giải quyết vấn
đề thuốc thiên nhiên cho được trật tự và hợp lý hơn. Chuyện
không đơn giản đâu!.
Chất lượng của thuốc: một vấn đề nan giải
Trước
một rừng thuốc thiên nhiên đủ loại, đủ cỡ, người tiêu thụ bị hoa
mắt, phân vân và tự hỏi không biết mình nên chọn thuốc nào đây?
Thôi thì chỉ còn biết tin vào quảng cáo, hình thức và màu sắc
bên ngoài của hộp thuốc để mà quyết định.
Tại
Canada, thuốc thiên nhiên nằm trong vòng kiểm soát của một số
nhà bào chế lớn như: Wampole Canada, Swiss Herbal, Quest,
Jamieson, Lalco, Adrien Gagnon, Jean Marc Brunet, v.v...Ngoài ra
cũng có một số labo nhỏ chen chân kiếm ăn bên cạnh các nhà bào
chế đàn anh. Santé Canada ước lượng thị trường thuốc thiên nhiên
tại Canada ở vào lối
4,3$
tỉ/năm (so với 10,9$ tỉ/năm cho các dược phẩm có brevet). Thuốc
thiên nhiên tại Hoa kỳ 36$ tỉ/năm. Thuốc thiên nhiên được sản
xuất theo lối công nghiệp thì đòi hỏi phải có nguồn cung cấp
nguyên liệu thật dồi dào. Một số được sản xuất ngay tại Canada
hoặc Hoa Kỳ và phần lớn còn lại được nhập cảng từ Á Châu hay từ
Nam Mỹ. Hoạt chất của cây thuốc có thể rất thay đổi, tùy theo
thời gian tăng trưởng, nơi trồng, cách trồng, tùy theo phần nào
của thực vật được sử dụng và cũng tùy theo cây thuốc được gặt
hái lúc nào trong năm. Tại những phương trời xa xôi vạn dặm thì
làm sao kiểm soát một cách chu đáo tất cả quy trình sản xuất
nguyên vật liệu để bảo đảm có một chất lượng an toàn và trung
thực cho được?. Đây cũng là một vấn đề lo nghĩ của những nhà bào
chế có lương tâm...Không phải thiên nhiên là vô hại!!!
Một số thực vật có thể có hại cho sức khỏe như làm hư gan,
hại thận hay thậm chí còn có thể gây ra ung thư. Bởi
lẽ nầy nên một số chất sau đây bị cấm tại Canada: Aristolochia (Birthworth,
Snake root, Guang Fang Ji), Coca (Erythroxylum
coca), Nux vomica (có Strychnine) và Pau d’arco (Tabebuia
impetiginosa). Santé Canada thường theo dõi và kiểm soát các
loại thuốc thiên nhiên bán trên thị truờng, đặc biệt quan tâm
đến các món thuốc nhập cảng từ Á châu. Thỉnh thoảng cơ quan nầy
cũng có phát hiện một số thuốc mạo hóa. Tuy mang danh nghĩa là
thuốc thiên nhiên nhưng nhà sản xuất lại cố tình pha trộn thêm
những loại thuốc Tây (prescription drugs, medicaments
d’ordonnance) vào trong đó. Những chất thuốc thường được
trộn thêm có thể là những steroides, hormones, các chất thuốc
lợi tiểu, các thuốc kháng viêm sưng (anti inflammatoires),
các thuốc trợ dương (aphrodisiaques) và thuốc làm giảm
đường huyết (hypoglycémiant). Nhãn hiệu của các thuốc
nhập cảng từ Á Châu thường lem nhem không rõ rệt, khó hiểu,
không đầy đủ chỉ dẫn cần thiết và cũng không nêu rõ những điều
cấm kỵ quan trọng!
Santé Canada cảnh giác dân chúng
Nhằm
mục đích cảnh giác người tiêu thụ về sự nguy hiểm của một vài
loại thuốc thiên nhiên, Santé Canada thường xuyên cho phổ biến
các thông báo như sau:
-
-Thuốc K4 của Ấn độ, dùng trị các
bệnh liên quan đến tiền liệt tuyến...Thuốc do du khách mang
vào Canada, hoặc được mua qua đường bưu điện. Tại Tân Tây
Lan đã có 4 người bệnh và 1 người chết sau khi sử dụng thuốc
K4 (5/09/96).
-
-Millepertuis, làm mất tác
dụng của các loại thuốc trị sida như Indinavir chẳng hạn và
có thể tạo ra những dòng virus có tính đề kháng với thuốc
nầy (7/04/2000).
-
-Capsules West Pharm Hydro Lean và
4Ever Fit, Ephedra/Ephedrine (Ma Huang). Có
chứa Éphédrine và đây là thuốc thiên nhiên dùng để làm giảm
đói, mục đích để giảm cân làm cho ốm bớt, tăng cường sinh
lực và giúp các lực sĩ đạt thành tích mong muốn...Thuốc được
phối hợp với caffeine và với một chất kích thích khác nữa.
Rất nguy hiểm cho những người có bệnh tim, đang bị cao máu
hoặc tiểu đường. Éphédrine: liều tối đa 8mg/monodose
hay 32mg/ngày...Éphédra: liều tối đa 400mg/monodose
hay 1600mg/ngày...Sự phối hợp hai chất Éphédrine với
Caffeine rất nguy hiểm. Có thể gây hồi hộp, tim đập nhanh,
rung cơ, mất ngủ và có thể làm chết người!...Có chứa
Éphédrine nếu trên nhãn hiệu có đề Ma Huang, Éphédra
chinois, Sida codifolia, hoặc Épitonine. Có chứa Cafféine
nếu thấy nhãn hiệu có đề Thé vert, Guarana, Maté, Noix de
cola, Yohimbine…Vậy hãy cẩn thận khi bạn uống cà phê hay trà
sau khi uống thuốc (23/5/2006).
-
-Kava kava, không nên dùng bất cứ
loại thuốc nào có chứa chất Kava kava. Áp dụng cho tất cả
thuốc có ký hiệu DIN cũng như thuốc không có ký hiệu. Thuốc
rất độc hại cho gan. Canada chưa có báo cáo chính thức về
các sự ngộ độc do Kava gây ra. Tại Âu châu và Hoa kỳ đã xảy
ra rất nhiều ca ngộ độc được ghi nhận, trong số đó đã có
một bệnh nhân cần phải được ghép gan (16/01/2002).
-
-PC SPE và SPES, thuốc do
Botanic Lab Hoa Kỳ sản xuất. Dùng để tăng cường sức miễn
dịch và trị các bệnh về tiền liệt tuyến...Cơ quan FDA đã tìm
thấy 2 loại thuốc trên có chứa thuốc kháng đông Warfarin và
thuốc chống lo âu sợ hãi Aprazolam (Xanax). Nếu chẳng may,
bệnh nhân uống 2 loại thuốc thiên nhiên nầy cùng một lúc với
các loại thuốc an thần thì sẽ rất có hại cho sức khỏe.
Thuốc được bán qua ngõ bưu điện
và Internet.
-
-HuaFo Vigor Max, thuốc trợ dương,
trị yếu sinh lý...Thuốc viên màu đỏ, nhập cảng từ Á châu.
Hua Fo do Guizhu Ribulo medical
Industry, China sản xuất. Thuốc có chứa một cách bất hợp
pháp chất Sildefanil (Viagra). Có thể rất nguy hiểm cho
những ông nào đang xài thuốc trị đau thắt ngực thuộc nhóm
dérivés nitrés, áp huyết động mạch sẽ tụt xuống quá thấp
dám đứt bóng đi luôn về bên kia thế giới (15/02/02).
-
-Arhrin Capsules (có chứa bất hợp
pháp Indomethacin, DES, Alprazolam) để trị đau khớp;
Osporo Capsules (có Indomethacin, DES) dùng giúp cho bộ
xương khỏe mạnh; Poena Capsules (có Indomethacin)
dùng giãn cơ; Neutralis Capsules (có Indomethacin)
dùng tăng cường sức miễn dịch; 5OA Plus Capsules (có
Indomethacin, Alprazolam) giúp hoạt động của khớp, cơ và
gân; RA Spes Capsules (có Indomethacin và
Alprazolam) giúp giãn cơ và gân; Hepastat Capsules
(có Indomethacin) bán để tẩy độc gan...Được biết các món
thuốc Tây trên đều là thuốc phải có toa nhưng lại được chứa
bất hợp pháp trong các thuốc thiên nhiên vừa kể.....Indomethacin
thuộc nhóm thuốc chống viêm sưng non-steroidal
anti-inflammatory drug, không nên dùng nếu bệnh nhân có vấn
đề bao tử, cũng như nó có thể tương tác với một số thuốc
khác...Diethylstillbestrol (DES) là hormone estrogen
non stéroidien có thể gây cancer... Alprazolam là
thuốc trị lo âu phiền não. Alprazolam làm tăng tác dụng của
rượu và của nhiều loại thuốc an thần khác...Tất cả thuốc
thiên nhiên kể ở trên đều do Botanic Lab Hoa Kỳ sản xuất
dưới danh nghĩa là thuốc Tàu (6/2002).
-
-Bell Magnum Bullet, thuốc
trợ dương...Không có ký hiệu DIN ghi trên hộp Thuốc viên dài
có màu trắng đục, do công ty Bell Lifestyle Products Ltd
Mississauga, Ontario Canada sản xuất. Santé Canada cho biết
thuốc trên có chứa một chất tương tợ như chất Tadalafil
(Cialis), là một loại thuốc trợ dương mới ra trên thị
trường, tác dụng cũng giống như Viagra...Những ông nào đang
sử dụng chất nitrate để trị đau thắt ngực mà lỡ uống
thêm thuốc Bell Magnum Bullet thì có thể rất nguy hiểm vì áp
huyết sẽ bị giảm xuống, ngoài ra trong những trường hợp hạn
hữu và rất hiếm các mô của dương vật có thể bị tổn hại gây
nên sự bất lực vĩnh viễn (21/05/2004).
-
-Liquiang 4, Santé Canada
vừa cảnh giác dân chúng đừng nên uống thuốc Tàu Liquiang 4
vì thuốc này có chứa thuốc tây Glyburide một cách bất hợp
pháp, có thể gây hại cho sức khỏe. Được biết Glyburide (tên
thương mại là thuốc Diabeta, trị tiểu đường) rất phổ thông
tại Canada và cần phải có toa mới mua được. Liquiang 4 được
sản xuất tại Trung Quốc và cũng còn được gọi là Liquiang
Xiao Ke Ling (có nghĩa là hữu hiệu để trị khát nước). Theo
nhà sản xuất, thì đây là một loại thuốc thiên nhiên, trình
bày dưới dạng viên (Liquiang 4 dietary Supplement
Capsules). Thuốc được cty Bugle International
Northridge, California phân phối. Thuốc được bán qua đường
bưu điện và qua ngõ Internet (25/10/2005).
-
-Hanna’s Herbal Special Teas-LYM,
Strauss Healthy Cell Tea, Strauss Lymphatic Capsules,
Strauss Lymphatic Tea...Santé Canada cảnh báo dân chúng
không nên dùng những món thuốc nêu trên vì có chứa chất
chaparral trích từ các loài thực vật Larrea tridentata
còn gọi là “Shegoi”, Larrea divaricata và Larrea mexicana.
Các loài thực vật nầy là những thuốc cổ truyền của thổ dân
Mexico để trị viêm khớp, cancer, đau bụng, tiêu chảy, cảm
cúm, v.v…). Chaparral không được Santé Canada cho phép sử
dụng dưới bất cứ mọi hình thức vì có hại cho gan và cho
thận (21/12/05).
-
-Qing Zhi, căn cứ theo cảnh báo
của Y tế Tân Tây Lan, Santé Canada khuyên du khách có đi du
lịch Tân Tây Lan đừng nên mua một loại thuốc sản xuất từ
Trung Quốc. Thuốc nầy có tên là Qing Zhi vì có chứa bất hợp
pháp chất Sibutramine là thuốc bán theo toa để làm cho không
đói bụng (coupe faim). Sibutramine có thể gây các phản ứng
bất lợi về thị giác, làm xáo trộn nhịp đập của tim, gây cao
áp huyết. Sibutramine không nên dùng chung với các thuốc nào
có tác dụng trên chất sérotonine của não, chẳng hạn như các
loại thuốc chống trầm cảm (05/01/07).
-
-Kang Da, Santé Canada cảnh báo du
khách đi Tân Tây Lan đừng nên mua một loại thuốc mang tên
Kang Da, sản xuất bên Trung Quốc. Đây là thuốc trợ dương có
chứa bất hợp pháp chất Sildénafil (Viagra). Các ông đang có
bệnh tim mà còn ham xài thuốc Kang Da thì rất nguy hiểm vì
có thể bị tai biến mạch máu não (05/01/07).
-
Power 58, Platinum Power 58, Ehanix,
Jolex, Onyo, Deguozonghengtianxia,
các thuốc nầy đều được dùng để trợ dương
và có chứa bất hợp pháp chất Acétildénafil (là một chất
thuốc tương tợ như Viagra) có thể gây nguy hiểm cho những
ông đang yếu tim (05/01/07).
**Theo
sự nhận định của cơ quan Y Tế Canada, thì…sự phối hợp giữa nhiều
loại thuốc thiên nhiên với nhau đều được nghi ngờ là có thể dẫn
đến những phản ứng bất lợi, làm tổn thương gan và có hại cho sức
khỏe. Ngoài ra còn có vấn đề như những nguyên liệu sử dụng là
những nguyên liệu bị giả mạo hay bị biến đổi cũng được kể như là
những nhân tố bất lợi…(…a
number of factors must be considered when a natural product with
multiple ingredients is suspected to be associated with adverse
effects. And adulterant or misidentified ingredients could be
present in the product that maybe responsible for any adverse
effects. Possible toxicity due to excessive dosing or prolonged
intake should be considered. Some herbs may contain hepatotoxins
and other may contribute to idiosyncratic hepatotoxic reactions
and involve an immunological response... Health Canada, Canadian
adverse Reaction Newletter, Jan 2003).
Kết luận
Tại
Canada thuốc thiên nhiên mặc dù được sử dụng rộng rãi khắp nơi,
nhưng khác với một số nước bên Âu châu nó vẫn chưa được giới y
khoa chính thức công nhận. Chắc phải còn lâu lắm các trường y
dược Canada mới có thể thêm môn thuốc lá cây trong chương trình
đào tạo bác sĩ và dược sĩ tại xứ nầy. Tuy nói vậy nhưng trường
Đại học Laval Quebec cũng dự trù vào năm 2009 sẽ cho ghi thêm
môn thuốc thiên nhiên trong chương trình đào tạo dược sĩ. Dù sao
đi nữa, không ai có thể chối cãi được những lợi ích của một số
thuốc thiên nhiên đã mang lại cho sức khỏe chúng ta, chẳng hạn
như sâm nhung và lộc nhung mà mọi người Vn chúng ta đều có nghe
nói đến...Trở ngại chính yếu hiện nay của thuốc thiên nhiên là
thiếu cơ chế pháp lý quy định rõ rệt để việc kiểm soát loại
thuốc nầy được hữu hiệu hơn. Ngoài ra vấn đề thiếu tài liệu khảo
cứu khoa học giá trị và đáng tin cậy cũng làm giới y khoa e dè
chưa có thể chính thức chấp nhận thuốc thiên nhiên như một
phương pháp y khoa phù trợ (médecine complémentaire,
médecine alternative) bên cạnh thuốc Tây được!...Thiên
nhiên không phải là hoàn toàn vô hại… Collège des
Médecins và Ordre des Pharmaciens du Québec khuyên chúng ta
không nên sử dụng vitamines với những liều lượng quá lớn, đừng
bao giờ mua thuốc thiên nhiên mà nhãn hiệu không rõ rệt và chỉ
sử dụng thuốc thiên nhiên trong thời gian ngắn mà thôi (dưới 3
tháng) vì khoa học chưa biết ảnh hưởng về lâu về dài của món
thuốc thiên nhiên đó ra sao. Cẩn thận với các lời quảng cáo
chẳng hạn như bảo đảm sẽ chữa khỏi bệnh, hoặc có thể ngừa được
bệnh, hoặc họ nói đây là một loại thuốc nhiệm mầu đã được người
Trung Hoa sử dụng từ cả ngàn năm nay rồi, v.v…Mỗi khi đi khám
bệnh, bạn cần phải nói rõ cho bác sĩ biết nếu bạn đang dùng loại
thuốc thiên nhiên nào. Tốt hơn hết là bạn nên hỏi ý kiến của bác
sĩ và dược sĩ trường hợp bạn có ý định xài thuốc ngoại khoa. Lời
khuyên của nhà chuyên môn rất ư là cần thiết nếu bạn đang thường
xuyên sử dụng các loại thuốc Tây như: thuốc chống đông máu,
thuốc làm loãng máu, thuốc làm giảm đường huyết, thuốc trị bệnh
tim, lúc đang mang thai, lúc cho con bú, lúc bạn chuẩn bị để
được giải phẫu và cuối cùng nếu bạn lúc nào cũng cảm thấy cần
phải…sáng say chiều xỉn hết!
Tài liệu tham khảo:
-
Santé
Canada- Cadre réglementaire pour les produits de santé
naturels: Aperçu(2004).
-
Chevalier,
A. Encyclopédie des plantes médicinales. Montréal,
Sélection du Reader’s Digest, 1997.
-
The healing power of vitamins, minerals and
herbs-the A-Z guide to enhancing your health and treating
illness with nutritional supplement.
Montreal, The Reader’s Didest Association 1999.
-
Collège des
Médecins du Québec et Ordre des Pharmaciens du Québec-
Attention, Parlez-en avec votre Médecin ou votre
Pharmacien.
-
Natural Medicines Comprehensive Database
- compiled by the Editors of
Pharmacist’s Letter and Prescriber’s Letter, Sixth edition,
2004.
Montreal, March 15, 2007
Print this
site

Trở về Trang Chính
|