|
Từ
cổ chí kim con người vẩn hằng tin tưởng rằng mỗi loại thực phẩm
ăn vào đều là những vị thuốc đem đến cho ta sức khỏe , và thậm
chí còn giúp phòng chống hoặc chữa trị một số bệnh tật nửa . Ý
niệm này cũng không mới mẻ gì . Các danh sư về y học ngày xưa
như Hoa Đà , Biển Thước và cả Hippocrate ,2400 năm về trước đều
nhìn nhận sự liên hệ mật thiết giữa thức ăn và sức khỏe : “ Hãy
để thức ăn trở thành những vị thuốc” (Laissez les aliments
devenir votre médecine) .
Mấy năm
gần đây , sau những phong trào “ thực phẩm sức khỏe ” (
aliments santé , health food) ít calo, không chứa
đường , ít chất béo , không có bột ngọt ( MSG) , không
cholesterol, lần lần người ta thấy xuất hiện những loại thực
phẫm mới có chứa thêm nhiều chất dinh dưỡng , nhiều chất khoáng
, nhiều vitamins, hoặc có trộn thêm các loại vi khuẩn có lợi cho
sức khỏe chúng ta . Thật vậy, giới kỹ nghệ thực phẩm rất nhạy
bén trước yêu cầu cấp thiết của xã hội , trong đó tầng lớp người
già không ngừng gia tăng thêm mãi . Vấn đề sống khỏe , sống lâu
là mối quan tâm hàng đầu của mọi người trong chúng ta…
Một
rừng danh từ
Thực
phẩm mới thì tên gọi cũng phải mới . Tùy theo mỗi quốc gia mà ý
nghĩa của chúng có thể thay đổi đôi chút .
-
Thực phẩm chức năng
( aliment fonctionnel, functional foods). Đây là những
thực phẩm bình thường , ngoài nhiệm vụ dinh dưỡng căn bản , nó
còn đem đến cho ta những bổ ích về mặt sức khỏe , cũng như có
thể giúp ngăn chận nguy cơ xuất hiện của các bệnh mạn tính .
Định nghỉa nầy thật quá rộng rãi . Nó có thể đem áp dụng cho
những loại yogurt , cũng như cho các loại nước ép trái
cây có pha thêm vitamins , sữa hoặc calcium.
-
Dược thực (
alicament, pharmafood ) . Nói chung , đây là những thực
phẩm chức năng được ăn vào như các loại bánh mì hoặc bánh
muffin có trộn thêm carotte, nhiều vitamins hoặc nhiều
chất khoáng khác nhau .
-
Dược dưỡng (nutraceutique
, nutraceutical ) . Đây là những loại thực phẩm chức năng ở
dạng lỏng , dạng bột, hoặc dưới dạng viên dùng để uống
vào . Thí dụ các loại sữa , các loại nước ép trái cây được nhà
sản xuất cho tăng cường thêm vitamins, calcium , hoặc các viên
dầu cá có chứa nhiều acid béo omega-3 vv…
-
Dược sinh (
probiotique, probiotic ) . Cũng là thực phẩm chức năng ,
nhưng đặc biệt là được người ta trộn thêm những loại vi khuẩn
sống . Ở một liều lượng thích hợp nào đó, các vi khuẩn nầy
giúp chúng ta gầy dựng lại số vi khuẩn tốt sống trong ruột , ngỏ
hầu chống lại sự xâm nhập của các loại vi khuẩn có hại . Dược
sinh còn giúp vào việc hấp thụ vitamins nhóm B , làm giãm
cholesterol cũng như giúp vào việc ngăn cản hiện tượng sình hơi
trong ruột . Các loại yogurt có pha trộn thêm vi khuẩn
Bifidus , được xem như là dược sinh .

Phong trào thực phẩm chức năng trên thế giới .
Vào năm
1984, chính phủ Nhật đã cho thành lập những nhóm nghiên cứu về
dinh dưỡng để mong tìm những loại thực phẩm có tính phòng và trị
được bệnh tật . Mục tiêu của Nhật Bản là để làm nhẹ bớt cán cân
ngân sách dùng trong việc duy trì sức khỏe của người dân xứ Phù
Tang . Ngoài ra chính phủ Nhật Bản cũng muốn ngăn chận khuynh
hướng bắt chước Tây phương của người Nhật . Đó là thói quen ăn
quá nhiều << calo rỏng >> ( empty calories) , có
nghĩa là dùng những thức ăn chứa nhiều chất béo , chất đường ,
nhưng lại quá ít chất xơ, ít chất khoáng và ít vitamins . Bộ Y
Tế Nhật Bản đã ban bố những luật lệ chặt chẽ để kiểm soát những
loại thức ăn mới mà họ gọi là FOSHU (food of specified
health uses ) Phong trào FOSHU ra đời đã được dân chúng Nhật
chiếu cố rất mạnh mẽ . Trong các siêu thị Nhật Bản, thực phẩm
chức năng đã chiếm trên 15 % diện tích mặt bằng . Sự thành công
vượt bực nầy một phần lớn nhờ vào những phát minh, khám phá mới
mẽ trong ngành dinh dưỡng học , và một phần khác cũng nhờ vào tư
tưởng rất Đông phương của người Nhật xem thức ăn như những vị
thuốc . Năm 1997, FOSHU đã thu vào 6 tỉ $ US cho Nhật Bản , Hoa
Kỳ 14.2 tỉ $ US . Riêng Canada , thì khiêm tốn hơn , chỉ thu
được có khoãng 170 triệu $ US vào năm 1998, lý do chính là tại
luật lệ về quảng cáo còn quá gắt gao chặt chẽ tại Canada .
Santé Canada căn cứ vào luật ‘ Lois et Reglements sur
les Aliments et drogues ’ cấm việc quảng cáo có hàm ý sức
khỏe (allégation santé ) trên các loại thực phẩm bán ra
. Một ví dụ điển hình là món yogurt có tăng cường vi khuẩn
bifidus . Loại sản phẩm nầy tuy rằng rất phổ biến bên Pháp
, nhưng tại Quebec nó cũng chưa được người tiêu thụ chiếu cố
đến nhiều . Tại Âu Châu, ba quốc gia có kỹ nghệ thực phẩm chức
năng phát triển nhất là, Anh, Pháp và Đức với số doanh thu ước
lượng vào khoãng 1.3 tỉ đến 3.3 tỉ $/năm. Các nhà kinh tế tiên
đoán là đến năm 2010 thị trường thực phẩm chức năng trên thế
giới sẽ dễ dàng chiếm trên 500 tỉ $ .
Thực
phẩm chức năng đầy một chợ
Ngày
nay thực phẩm chức năng hiện diện khắp mọi nơi , từ các siêu thị
lớn đến các hàng quán nhỏ bên đường . Đó là các loại bánh trái
,như bánh muffin có thêm carotte có khả năng làm giãm
cholesterol trong máu (?) , những loại nước trái cây, nước giải
khát có tăng cường thêm vitamins, thêm chất khoáng hoặc có thêm
một vài loại dược thảo nào đó , uống vào là khỏe ngay ….Hình như
Việt Nam mình đã đi tiên phong trong ý niệm thực phẩm chức năng
từ lâu rồi mà mình không biết . Nước trái cây xay , còn gọi là
nước sinh tố , nước mía lau, rể tranh , nước rau má , nước sâm
vv…Chúng là gì nếu không phải là những hình thức nào đó của thực
phẩm chức năng ? Ngày nay với những tiến bộ khoa học, người ta
biết rất rỏ tính chất bổ dưỡng của từng loại chất liệu thêm vào
trong thực phẩm. Chẳng hạn những viên dầu cá có chứa chất acid
béo omega-3 rất hữu ích trong việc ngừa các bệnh về tim mạch.
Margarine có tăng cường thêm chất phytosterol giúp vào
việc giãm cholesterol trong máu. Nước trái táo có tính nhuận
trường . Tất cả đều được xem như những thực phẩm chức năng . Tại
Canada, Cty Tropicana đã tung ra thị trường một loại nước cam có
tăng cường thêm calcium, thêm chất xơ, và thêm các loại vitamins
có tính chống oxy hóa (antioxidants) như vitamins A,C,E
. Nước giải khát có thêm nhân sâm (ginseng) . Cty Peter
Pan cho ra 1 loại bơ đậu phọng ( peanut butter)được tăng
cường thêm 8 loại vitamins và chất khoáng . Thậm chí dân ghiền
café cũng có thể tìm thấy các loại Smart coffee có chứa
chất Ginkgo biloba có khả năng bồi bổ trí nhớ, chống nhức
đầu , ngăn ngừa tai biến mạch máu não (?) . Ngoài còn có loại
Power coffee có thêm ginseng nửa . Rồi còn các
Power drink có chứa cả chục thứ khoáng chất vitamins và
duợc thảo rất được dân chơi thể thao hết lời ca ngợi . Bạn thấy
không , toàn là đồ bổ không hà . Đọc những lời quảng cáo trên
sản phẩm mà phát ham . Uống vào không bổ bề ngang cũng phải bổ
bề dọc mà thôi . Tại Florida, cửa hàng Alive chuyên sản xuất
những thức uống theo yêu cầu « sur mesure » được pha
trộn điều chế riêng theo nhu cầu và sở thích riêng của từng
khách hàng . Không những chỉ có sức khỏe mới quan trọng, vấn đề
thẩm mỹ và làm đẹp cũng đã được quan tâm đến . Cty Shisheido ,
chuyên về mỹ phẩm cho các chị , cũng cho ra Cosmeto Foods
, đó là những loại yogurt có chứa nhựa lá cây nha đam Aloès
có tính chất làm giảm các nếp nhăn trên mặt ( xin bạn nhớ, đây
cũng chỉ là lời quảng cáo của người bán mà thôi ! ) . Cty Coca
Cola cũng chuyển hướng theo thị hiếu của thị trường thức uống
bằng cách tung ra các loại nước dinh dưỡng để cạnh tranh với Cty
Pepsi Cola ( Jus Tropicana, Gatorade) . Năm 1997 , Coca
Cola đã cho ra nước giải khát Surge chứa ít gaz, mùi
chanh tương tự như loại nước Mountain Dew của Cty Pepsi .
Tại Quebec, Cty A. Lassonde Inc. ,năm 1995 đã cho ra một loại
sản phẩm nước trái cây Oasis Pause Santé . Đây là
loại nước ép trái cây có pha thêm légumes, vitamins,
magnésium, bêta carotène và chất sắt .Sau đó , họ còn cho ra
tiếp một loại cocktail nước trái cây có pha thêm sữa .
Thương vụ của Cty A Lassonde nhờ đó mà tăng lên vùng vụt . Cty
Mead Johnson, chuyên sản xuất thực phẩm cho trẻ con, cũng nhảy
vào thị trường Canada với sản phẩm nước uống lấy tên là
Calais . Loại nước nầy được tăng cường thêm calcium, rất
tốt cho những người lớn tuổi để phòng chống bệnh loãng xương (osteoporosis).
Cty Natrel, năm 1995 đã tung ra loại sữa Ultra lait
và Ultra lait calcium ( avec plus de 33%
calcium ) , và đã gặt hái kết quả ngoài dự tính của họ. Bên
Ý, người ta có thể mua những loại spaghetti, nouille có
tăng cường thêm acid béo omega-3 rất tốt cho tim mạch .Ở Hoa Kỳ
, hầu hết các loại cereals đều có pha thêm folic acid
, có công dụng bổ máu, và giúp bào thai tạo lập thần kinh và
tủy sống tránh nguy cơ xảy ra hiện tượng neural tube defect
(là một loại bệnh bẫm sinh) . Tại Phần Lan , người ta đã
sản xuất ra một loại margarine Benecol có khả năng
làm giãm 14 % cholesterol xấu ( LDL) xuống và đồng thời cũng
giảm 10 % hàm lượng cholesterol chung trong máu . Các loại
yogurts được tăng cường vi khuẩn bifidus và acidophilus
đều là những mặt hàng rất phổ biến bên Âu Châu . Cty
Nestlé/ chambourcy tung ra yogurt LCl , và Cty Danone
cũng nối gót theo với 2 loại yogurt Danone Bio caséi và
Danone Actimel .
Thực
phẩm chức năng được quy định như thế nào ?
Canada
rất chặt chẽ trong vấn đề nhãn hiệu và quảng cáo . Nhà sản xuất
thực phẩm không được phép ghi trên nhãn hiệu những câu (
allegation) có liên quan đến sức khỏe và trị liệu .
Theo đà
phát triển của phong trào thực phẩm chức năng trên thế giới ,
cũng như để giúp giới kỹ nghệ , Santé Canada đang nghiên cứu để
tu chính lại bộ Luật Quảng cáo cho bớt gắt gao . Tại Hoa Kỳ ,
Luật Nutrition Labelling and Education Act , 1994
cho phép kỹ nghệ có thể nói lên tính chất ích lợi về mặt sức
khỏe của những thực phẩm chức năng . Có tất cả 10 câu liên quan
đến sức khỏe ( health claims) đả được chính phủ Mỹ cho
phép sử dụng . Riêng Âu
châu,mổi quốc gia quy định một cách khác nhau về
quảng cáo và nhãn hiệu . Nói chung thì họ cho phép nêu ra những
câu liên hệ đến mặt dinh dưỡng nhưng cấm ghi những câu có liên
quan đến sức khỏe và trị liệu .
Hoạt
chất của thực phẩm chức năng
Tỏi
: Terpenes , Sulfides
, Phénols - Giảm cholesterol máu , giúp tăng khả năng
miễn dịch , chống lại các góc tự do radicaux libres ,là
những chất độc của tế bào .
Quế
, Gừng : Trepénoides,
Phénols, acides organiques – ngăn ngừa 1 vài loại cancers .
Cá
salmon, Tuna, Mackerel : Acides
béo omega-3 ( EPA , DHA) , vitamin D – ngăn ngừa các bệnh
tim mạch .
Cám
lúa yến mạch ( oat bran, son
d’avoine) : Bêta glucan , fibre soluble –
giúp giãm cholesterol , ngừa các bệnh thuộc về tim mạch , ngừa
cancer ruột …
Sửa
đậu nành , đậu hủ : Isoflavones,
Phytoestrogènes- giãm cholesterol, ngăn ngừa các triệu chứng
bất lợi của thời kỳ mãn kinh , đồng thời cũng ngừa bệnh loãng
xương .
Trà
xanh : Catéchines
, chống các gốc tự do có hại cho sức khẻo , giảm
cholesterol máu và giảm nguy cơ cancer đường tiêu hóa ?
Trái
Cranberry : Proanthocyanidins
, là 1 chất nhóm flavonoids . Chất nầy có tính chất ngăn
trở việc vi trùng bám vào tế bào nhờ vậy giúp giảm nguy cơ
nhiễm trùng(E.coli) đường tiết niệu.Ngoài ra cranberry
cũng giúp ngừa bệnh loét bao tử va nướu răng . Người ta còn nói
cranberry có thể ngừa bệnh tim mạch và 1 vài loại bệnh ung thư
nửa ? Chất chống oxy hóa ( antioxidant)
Proanthocyanidins củng thấy có nhiều trong vỏ cây thông (
pine bark ) , trong hạt và trong vỏ trái nho .
Yogurt : Calcium, lactobacillus
– ngừa bệnh loãng xương , giảm áp huyết dộng mạch , chống nhiễm
trùng ,tăng số vi khuẩn tốt tron ruột , tăng cường tính miễn
dịch
Tomates ,sauce tomate, ketchup : Lycopène
– Giảm nguy cơ cancer tiền liệt tuyến ( prostate) .
Carotte, trái cây các loại :
Alpha carotène, Bêta carotène –
Giúp làm giảm các góc tự do, là những chất độc của tế bào .
Bưởi , Flavonone – giảm các radicaux libres .
Rau
cải có lá xanh đậm : Lutéine
- giúp giảm nguy cơ bệnh thoái hóa hoàng diểm võng mạc AMD (
age related macular degeneration ) . Cải broccoli (
bông cải xanh), cải cauliflower ( bông cải trắng),
cải cabbage ( cải bắp ) có chứa nhiều chất chống oxy hóa
sulforaphane và isiothiocyanates giúp kích thích cơ
thể sản xuất ra enzyms khử độc tố ,nhờ đó làm giảm nguy cơ xuất
hiện của vài loại bệnh cancer .
Nhân
sâm ( ginseng) :
Ginsénoides- bồi bổ sức khỏe.
Những trở ngại trước mắt
Dù tính
chất ích lợi cho sức khỏe đã được nhiều người nhìn nhận , nhưng
trong thực tế một số lớn thực phẩm chức năng vẩn còn bí mật đối
với người tiêu thụ . Thực vật và ngủ cốc đã được con người sử
dụng từ ngàn xưa trong dinh duỡng cũng như trong việc chửa bệnh
nhưng không có ai dám tự hào là mình biết rõ hết các hoạt chất
cũng như ảnh hưỡng của chúng trên sức khỏe con người . Các thí
nghiệm gần đây bên Hoa kỳ cho thất loại thực vật Echinacea
( trị cãm cúm, tăng sức miễn dịch ) đôi khi cũng có thể gây ra
các phản ứng dị ứng cho người dùng . Vấn đề định chuẩn các hoạt
chất và liều lượng cũng là những trở ngại lớn khác của thực phẩm
chức năng . Vì được xếp vào nhóm thực phẩm nên chúng không bị
chi phối bởi những luật lệ kiễm tra chặt chẽ như đối với một
dược phẩm . Liều lượng sử dụng, những điều cấm kỵ ,và các phản
ứng phụ thường không được nêu ra một cách rỏ ràng . Ai muốn ăn,
ai muốn uống bao nhiêu cũng được hết . Tuy vậy, trong thực tế sự
lạm dụng liều lượng ít thấy xảy ra với với dược thực
alicament ( tức loại thực phẩm chức năng dùng để ăn vào) vì
sức chứa của bao tử có giới hạn . Có ai ăn nổi một hơi hai ba kí
yogurt đâu mà sợ . Đối với loại dược dưỡng nutraceutique(
thức ăn ở dạng bột và dạng lỏng ) vấn đề lạm dụng liều lượng
trên lý thuyết có thể xảy ra được . Một trở ngại khác ,là con
buôn thiếu lương tâm có thể cho trộn thêm một vài chất dinh
dưỡng hay vitamins để biến món hàng thành 1 loại thực phẩm
chức năng (để dể bán và bán với giá cao) dù rằng sản phẩm nầy
tự nó đã có chứa rất nhiều chất không tốt cho sức khỏe như chứa
nhiều đường, cholesterol, trans fat hoặc rất nhiều chất
béo bão hòa . Không phải hể là thực phẩm chức năng là mình muốn
sử dụng bao nhiêu củng được đâu . Một chế độ ăn uống cân bằng,
nghỉa là vừa đủ các nhu cầu dinh dưỡng vẩn tốt hơn là sử dụng
một chế độ dinh dưỡng gồm có nhiều thực phẩm chức năng không cân
đối . Nhưng thế nào là cân bằng ,thế nào là cân đối ? Đây là cái
khó nghĩ của đa số chúng ta
Người tiêu thụ nghĩ gì ?
Nói
chung phong trào thực phẩm chức năng càng ngày càng được các
giới tiêu thụ chiếu cố đến một cách mạnh mẻ . Tuy vậy , cũng có
một số người e dè . Người ta tự hỏi tính chất an toàn của loại
thực phẩm nầy có được bảo đãm hay không ? Còn rất nhiều điều bí
ẩn mà không ai biết được hết . Nhửng loại hóa chất nào đã được
dùng đến ? Nhửng loại thực vật nào đã được nhà sản xuất sử dụng
? Biết đâu một số nguyên liệu có nguồn góc từ phương pháp làm
thay đổi di thể ( OGM, organisme génétiquement modifié)
? Một thức ăn có thể phòng trị được bá bệnh gọi là siêu thực
phẩm ( super food) là một ảo tưỡng mà thôi . Tuy nói
vậy chớ thực tế ngoài đời , giới kỹ nghệ đã không ngừng tung ra
những loại thực phẩm mới mà quảng cáo cho biết như những
thức ăn nhiệm mầu có thể phòng trị được nhiều thứ bệnh tật .
Phó mặc sức khỏe cho giới kỹ nghệ quyết định đôi khi cũng thật
đáng ngại . Cơ quan trách nhiệm về y tế Hoa Kỳ cho biết là 95%
thực phẩm chức năng tại xứ cờ hoa không có kèm theo thí nghiệm
lâm sàng cụ thể , cũng như các lời quảng cáo của họ cũng không
có dựa trên những dẫn chứng khoa học nào đáng tin cậy cả!
Ai
chiếu cố đến thực phẩm chức năng ?
Nhà
thăm dò dư luận Léger& Léger Québec cho biết là chính tầng lớp
Baby Boomer, nghỉa là những người sinh sau đệ nhị thế chiến tuổi
khoãng 50 -55 là nhóm khách hàng chiếu cố đến thực phẩm chức
năng nhiều nhất . 70.6 % là những hạng người năng hoạt động ,
có kiến thức văn hoá cao , thường cở bậc đại học . Ngược lại,
những lớp người không quan tâm đến loại thực phẫm mới nầy là
những người không hoạt động, văn hóa thấp , và ở vào lứa tuổi từ
65 trở lên .
Kết
luận
Phải tự
hào mà nói rằng ý niệm thực phẩm chức năng cũng không có mới mẻ
gì đối với người dân tộc VN . Từ hồi nào tới giờ, mọi người
chúng ta đều xem thức ăn là những vị thuốc . “ Ăn cho mát ” ,
“ Ăn cho bổ ” , “ Ăn cho khỏe” ,” Ăn gì bổ nấy ” , đó là
những câu chúng ta thường hay nghe mói đến luôn . Biết bao
nhiêu là thổ sản , rau cỏ mọc quanh nhà , phía sau hè , cạnh
sàng nước , hoặc ven bờ ao, vừa là những thực phẩm , vừa là
những vị thuốc đã nuôi sống dân tộc ta từ cả ngàn năm nay rồi
. Các sách về Đông y đều nhìn nhận tính trị liệu của một số rau
cỏ thảo mộc rất gần gủi với dân tộc ta : Nào là rau răm, diếp
cá , tía tô , cải trời ,rau đắng đất , rau bò ngót , mồng tơi ,
khổ qua, rau má , rể tranh , gừng, nghệ , riềng , sã ,hành,
tỏi , ớt vv….Tất cả đều là những món bình dân , thật dể tìm và
rất phổ biến khắp nông thôn VN . Ở đây chúng ta chưa đề cập đến
những loại cao lương mỹ vị, như bào ngư , sáo yến chẳng hạn ,
rất đắt tiền , ít phổ thông hơn , nhưng tính bổ dưỡng và trị
liệu đều được nhiều người công nhận từ lâu . Ngoài ra còn phải
kể đến những loại rượu thuốc , đế Gò đen ngâm với đủ thứ thực
vật , hoặc động vật mà nhiều người đồn đại rằng chúng rất tốt
cho người lớn tuổi ăn ngon, ngủ khỏe , bớt đau lưng nhức mỏi .
Hiệu năng thật sự của những mặt hàng nầy khó có ai có thể kiễm
chứng và biết được hết . Hàng dõm và lang bâm cũng nhiều . Nhưng
dù sao , đây đúng là những loại dược dưỡng ( nutraceutique)
thiên nhiên 100% . Thậm chí còn có những quý tữu thuộc loại ông
uống bà khen nửa .
“ Đói
ăn rau , đau uống thuốc ” , đó là câu mà ông bà ta thường hay
nói .Rau cỏ vừa là thức ăn vừa là những vị thuốc hữu ích cho tất
cả mọi người . Ý niệm nầy cùng với ý niệm âm dương ngũ hành
tương sinh tương khắc đã nói lên nét đặc thù và phong phú của
tập tục ăn uống dưỡng sinh của người Việt Nam chúng ta ./.
Montreal, Nov 17, 2005
Trở về Trang Chính
|