|
Mặc dù số lượng sản xuất còn khiêm tốn so với
sữa bò, nhưng sữa dê nhờ tính năng bổ dưỡng của nó nên càng ngày
càng được nhiều người chiếu cố đến.
Trên thế giới, 90% dê được nuôi tại những
quốc gia đang phát triển.
Á Châu chiếm 61% số dê nuôi với 53% sản lượng
sữa trên thế giới.
Bắc Mỹ và Trung Mỹ nuôi 4% dê và chỉ sản xuất
được có 4% sữa, trong khi Âu Châu mặc dù chỉ có 3% dê nuôi nhưng
có một sản lượng sữa rất khả quan, lối 17%.
Những giống dê sữa tại Canada
Có tất cả sáu giống dê chính, chuyên cho sữa.
Đó là những thú thuần chuẩn.
Bốn giống có nguồn gốc từ Thụy Sĩ: Saanen,
Toggenburg, Oberhasli và Alpine.
Hai giống còn lại là: Nubian gốc Phi Châu và
được cho lai giống với dê sữa gốc Anh Quốc, và
La Mancha được đào tạo tại Hoa Kỳ vào những
năm 30 qua sự lai giống giữa dê Tây Ban Nha và dê gốc Thụy Sĩ.
Riêng tỉnh bang Quebec, có một đàn dê sữa lối
14.000 con.
Alpine, Saanen, Nubian và La Mancha là những
giống phổ thông nhất.
Sữa dê được sản xuất ra sao?
Tại Bắc Mỹ, kỹ thuật chăn nuôi dê và vắt sữa
được làm theo lối khoa học.
www.ontariogoatmilk.org/Equipment.htm
Sau khi được đẻ ra, dê con được giữ cho bú mẹ
trong vài ngày đầu để có đủ kháng thể, sau đó được tách ra, và
đem giữ chung với những dê con khác trong một chuồng có thể xem
như nursing hay một loại nhà trẻ.
Tại đây, dê con tiếp tục bú sữa qua những
thùng đặc biệt mà nhiều con có thể bú cùng một lúc. Đặc biệt
trong thời gian từ 7 đến 10 ngày đầu, để tăng sức cho dê con,
người ta có thể trộn thêm colostrum hay còn được gọi là
sữa đầu chứa rất nhiều kháng thể. Sau đó, dê con lần lần được
tập ăn. Đến tuần thứ 7 thì cho dê con cai sữa.
http://www.omafra.gov.on.ca/english/livestock/goat/news/dgg0604a2.htm
Về phần dê mẹ thì mỗi ngày được vắt sữa 2
lần và được thực hiện bằng máy. Sữa vắt ra chảy thẳng vào những
bồn chứa bằng inox có hệ thống làm cho lạnh.

Mỗi ngày có những xe bồn đặc biệt đến trại
chở sữa về nhà máy biến chế để lọc, gạn bớt chất béo,và hấp khử
trùng pasteurized trước khi đem bán cho người tiêu thụ.
Dê tuy nhỏ con nhưng khả năng cho sữa rất
cao. Lúc đầu cho 4 lít/ngày, sau đó từ từ giảm dần xuống theo
thời gian
Thời gian cho sữa có thể từ 260 ngày đến 300
ngày/năm, với một năng suất 700 - 800kg sữa trong đó có lối 30kg
chất béo.
Đến cuối mùa sữa, người ta vắt cạn hết sữa
còn lại trong vú, và sau đó cho dê mẹ nghỉ ngơi vài ngày rồi
cho phối giống để nó mang thai và cho sữa trở lại sau khi đẻ.
Nhiều chất bổ dưỡng hơn sữa bò
Nhìn chung, thì thành phần các chất dinh
dưỡng của sữa dê cũng tương tợ như sữa bò nhưng nổi bật hơn hết
là các chất khoáng như: calcium, potassium, phosphorus, và
magnesium chiếm một tỉ lệ cao hơn sữa bò.
Sữa dê chứa nhiều vitamine A, nhưng rất ít
chất bêta carotène vì vậy sữa dê có màu trắng ngần hơn
sữa bò. Đặc biệt là chất béo của sữa dê gồm những hạt
(globules) rất bé nhỏ nên rất dễ tiêu hóa. Sữa dê có chứa đường
lactose, nhưng uống sữa dê ít bị phản ứng bất dung nạp lactose
(intolérance au lactose) hơn như khi uống sữa bò.
Khác với sữa bò (45%), sữa dê chứa rất ít
(3%) chất alpha S1 là casein protein gây dị
ứng. Lipides của sữa dê có nhiều chất acides béo thiết yếu
(acides gras essentiels) rất tốt cho não bộ. Sữa dê cũng chứa
nhiều vitamine B2 (riboflavine), B5 (acide panthoténique) và B6
(pyridoxine). Sữa dê chứa ít acide folique hơn sữa bò. Ngoài
ra, hai chất chống oxyt hóa sélénium và gluthation
peroxydase cũng có trong sữa dê. Hai chất nầy rất tốt cho
hoạt động của các tế bào nói chung.
Dùng sữa dê rất tốt trong trường hợp bị thiếu
máu do thiếu chất sắt.
Sữa dê có khả dụng sinh học (bioavailability,
biodisponibilité) cao đối với calcium, sắt và phosphorus. Tỉ lệ
parathyroid hormon PTH hay hormon của tuyến phó giáp
trạng hiện diện trong sữa dê cũng khá cao nhờ vậy rất có ích để
giúp ổn định sự quân bình calcium trong cơ thể.
So với sữa bò, các acid béo của sữa dê bao
gồm 35% acid béo chuỗi trung (medium chain fatty acids) C6-C14,
chẳng hạn như các acid béo Caproic C6, Caprylic C8
và Capric C10.
Những acid béo nầy rất có ích trong các
trường hợp như hội chứng kém hấp thụ (malabsorption syndrome),
rối loạn tiêu hóa, suy dinh dưỡng ở trẻ em, xơ nang (cystic
fibrosis,fibrose kystique), sỏi mật (gallstone, calcul
biliaire), và giúp làm tan cholesterol bám trong các thành mạch
máu.
The Composition of Goat Milk
as compared with those of
Cow & Human milks
(Values per 100 ml)
|
Constituents |
Human |
Cow |
Goat |
|
Protein (g) |
1.2 |
3.3 |
3.3 |
|
Casein (g) |
0.4 |
2.8 |
2.5 |
|
Lactalbumin (g) |
0.3 |
0.4 |
0.4 |
|
Fat (g) |
3.8 |
3.7 |
4.1 |
|
Lactose (g) |
7.0 |
4.8 |
4.7 |
|
Caloric Value (Kcal) |
71 |
69 |
76 |
|
Mineral matter (g) |
0.21 |
0.72 |
0.77 |
|
Calcium (mg) |
33 |
125 |
130 |
|
Phosphorus (mg) |
43 |
103 |
159 |
|
Magnesium (mg) |
4 |
12 |
16 |
|
Potassium (mg) |
55 |
138 |
181 |
|
Sodium (mg) |
15 |
58 |
41 |
|
Iron (mg) |
0.15 |
0.10 |
0.05 |
|
Copper (mg) |
0.04 |
0.03 |
0.04 |
|
Table 1. Comparison of Milk Fat
Compositions in Goat, Cow and Human Milk (weight%)
|
|
Principal fatty acids in milk fat |
Goat milk fat |
Cow milk fat |
Human milk fat |
Melting point o F |
|
C4:0-Butyric |
3 |
3 |
trace |
18 |
|
C6:0-Caproic |
2 |
1 |
trace |
25 |
|
C8:0-Caprylic |
3 |
1 |
trace |
16 |
|
C10:0-Capric |
10 |
3 |
2 |
31 |
|
C12:0- Lauric |
7 |
2 |
6 |
44 |
|
C14:0- Myristic |
13 |
10 |
9 |
54 |
|
Total Medium Chain Acids (C6-C14) |
35 |
17 |
|
|
Ai nên dùng sữa dê?
Sữa dê bán tại Canada đều đã được hấp khử
trùng theo luật định. Thường có bổ sung thêm acide folique và
vitamine A - D.
Trẻ em dưới một tuổi không nên bú sữa dê vì
dưỡng chất của nó không được mấy quân bình cho nhu cầu các cháu,
chẳng hạn như chứa ít chất sắt và acide folique. Ngoài ra, nếu
cháu bị dị ứng với sữa bò thì rất có thể cháu cũng bị dị ứng cả
với sữa dê nữa.
Sau đây là khuyến cáo của Cơ quan Joint Food
Safety & Standards của Anh Quốc về việc sử dụng sữa dê ở trẻ em
dưới một tuổi.
These aren't suitable as drinks for babies under
a year old because they don't contain the right balance of
nutrients to meet your baby's needs, for example they don't
contain enough iron.
Providing they are pasteurised, goats' and sheep's milk can be
used once a baby is a year old. When your baby is six months
old, you can start using full-fat milks in foods you cook for
him or her, and give your baby full-fat milk products, such as
yoghurt or fromage frais, unless you have been advised otherwise
by your health visitor or GP.
Most babies with cows' milk allergy are also likely to react to
goats' milk and sheep's milk.
Goats' milk infant formulas and follow-on formulas based on
goats' milk protein have not been approved for use in Europe.
Đối với người lớn, thì tất cả nam phụ lão ấu
đều nên uống sữa dê vì nó rất bổ đồng thời cũng rất nên thuốc.
Đặc biệt các bác lớn tuổi cũng như các chị trong thời gian mãn
kinh cũng nên dùng sữa dê để bồi dưỡng sứu khỏe và tăng cường
khoáng chất.
Các vị nào đang bị bệnh thống phong (goutte,
gout) đau nhức khớp xương vì có quá nhiều acide urique
trong máu thì nên dùng sữa dê vì nó chứa rất ít
chất xanthine oxydase.
Được biết xanthine oxydase có khuynh
hướng làm tăng chất acide urique trong máu và làm cho
bệnh goutte trở nên trầm trọng hơn.
Sữa dê còn được chế biến thành beurre và
fromage.
Ngoài ra, cũng có savon, shampoo, lait de
bain moussant, v.v...làm từ sữa dê để giúp cho các bà các cô làm
đẹp da hoặc làm cho da được tươi mát hơn.
Trở ngại duy nhất là mùi sữa dê rất khó chịu
nên có một số người không thích lắm.
Tại chợ, sữa dê được bán dưới dạng 2% và dạng
3,25% chất béo.
Kết luận
Ngày nay, các giới dinh dưỡng đều xem sữa dê
như là một thực phẩm chức năng (aliment fonctionnel, functional
food) hay rõ hơn là một chất dưỡng dược (nutraceutique,
nutraceutical) có tính năng phòng trị một số bệnh mạn tính.
Cùng với những tiến bộ khoa học trong lãnh
vực sinh học phân tử và di truyền học, các nhà chuyên môn đã tạo
ra được những dòng dê chuyển đổi gène (transgénique) rất hữu
ích.
Những con vật nầy được ví như những nhà máy
dược phẩm sống.
Một số dược liệu đã được trích lấy từ sữa của
những dê chuyển đổi gene. Đó là chất alpha antitrypsine
dùng để trị bệnh xơ nang và chất antithrombine C rất
thiết yếu trong các ca giải phẫu thay ghép tim.
http://www.sciencedaily.com/releases/2008/01/080131082224.htm
Ngoài ra, các loại protéine đặc biệt như
insuline để trị bệnh tiểu đường và một vài protéine khác để trị
cancer cũng được trích lấy từ sữa dê chuyển đổi gène.
Về lãnh vực chiến tranh hóa học, sữa dê
chuyển đổi gène cũng giúp người ta tìm ra một chất thuốc giải
độc hơi ngạt sarin, và hơi vx gây tê liệt
thần kinh trung ương. Đây là hai loại hơi ngạc cực kỳ nguy hiểm
gây tử vong trong chớp mắt. Hơi độc sarin đã từng được
xài trong một hành động khủng bố đường xe điện ngầm tại Tokyo
ngày 20/3/95, còn hơi vx cũng đã được Saddam Hussein đem
ra sử dụng trong cuộc chiến tranh giữa Iran và Iraq (1980-1988).
Thuốc giải độc nói trên, được mang tên là
Protexia do PharmAthene sản xuất theo yêu cầu của Bộ quốc
phòng Hoa kỳ.
http://www.atsdr.cdc.gov/MHMI/mmg166.html
Trong tương lai, có thể vaccin trị bệnh sốt
rét malaria cũng sẽ được sản xuất từ sữa dê chuyển đổi
gène.
Công ty Nexia / Montreal đã thành công trong
việc sản xuất ra một dòng dê chuyển đổi gène có khả năng tạo ra
một loại sữa rất đặc biệt.
Protein của sữa được trích lấy để tổng hợp ra
thành một sợi tơ nhện có độ bền chắc vô song và được đặt tên là
Biosteel.
Sợi tơ nhện nầy được sử dụng để chế tạo ra
những vật liệu đặc biệt dùng trong lãnh vực xây cất. Biosteel
cũng được dùng để sản xuất ra những áo giáp chống đạn cho quân
đội.
Các phi hành gia không gian cũng sử dụng
những trang phục đặc biệt dệt từ Biosteel.
http://www.eurekalert.org/pub_releases/2002-01/nbi-nau011102.php
Với những thành quả như vậy, sữa dê quả thật
là một sản phẩm vô cùng quý báu cho nhân loại./.
Tham khảo:
-
George F.W.
Why Goat Milk ?. Univ Delaware
http://www.goatworld.com/articles/whygoatmilk.shtml
-
Laura Davey.
Dairy Goat Society of Western Australia Inc. 2005
http://wa.dairygoats.org.au/goats_milk.htm
Montreal, May 25, 2008
Trở về Trang Chính
|