|
Không kể „kiếp trước“
của Kiều (1) vốn đỗi vô danh ở bên Trung Quốc. Chỉ tính riêng tuổi Kiều từ khi
nức tiếng, do được tái sinh và nhập tịch „làng Nôm“ nước Việt đến nay đã ngót
hai trăm năm. Chúng ta dường như vẫn rất mờ mịt, về việc : ai trong số những gã
mày râu đi qua đời người kỹ nữ này, thực sự yêu nàng và được nàng yêu ?
Bảo rằng đối tượng
„phải lòng“ Kiều trước tiên là Kim Trọng e có điều chi chưa ổn, chính xác phải
là nhân vật khác kia. Nhân vật từ một cõi xa lắc xa lơ nào đó, từng truyền âm
nhập mật lệnh cho thần bút nhà Nguyễn nặn ra số phận bỉ sắc tư phong của cô gái
nghiêng nước nghiêng thành. Một vị khách thuộc hàng VIP ấy, tức… ông Trời - bằng
không, sao có sự „quen thói má hồng đánh gehen“ và xuất hiện đúng vào thời điểm
xấp xỉ xuân xanh của nàng tiểu thư họ Vương cơ chứ ?
Nguyễn Du tiên sinh
rõ khéo nhún mình, mời mọc một khách tình si tự chín tầng mây xuống cõi ô trọc
chỉ để tiếp thị một tài sắc. Nhưng có sự tiếp thị hay công chứng nào cho một sản
phẩm mà không đòi hỏi ít nhiều sự hàm ơn và trả giá. Trớ trêu thay thiên cơ bất
khả lậu, nên Kiều chẳng mảy may ý thức tầm quan trọng của sự không biết đền ơn
và trả giá. Thế là chưa kịp nếm mùi yêu đương, Kiều đã chịu một trận đòn thù
gián tiếp nhân danh cái nghiệp :
Đã mang lấy nghiệp vào thân,
Cũng đừng trách lẫn trời gần
trời xa.
Yêu người vốn đã khổ,
bị người yêu mà „người“ ấy chính là… ông Trời, thêm khổ bội phần. Bước đầu Kiều
bị tước đoạt ngay cái quyền chọn lựa, vì nếu được chọn lựa sao Kiều lại lựa chọn
cách sống cách yêu lạ lùng đến thế :
Ngẫm hay muôn sự tại trời,
Trời kia đã bắt làm người có
thân.
Bắt phong trần phải
phong trần,
Cho thanh cao, mới
được phần thanh cao.
Ông trời quả thật khác thường, tự thuở êm đềm trướng rũ đã nhẫn tâm đẩy người
mình yêu vào vị thế nạn nhân của nạn ong bướm đi về. Không chỉ quen khuynh loát
phận người, ông trời xem ra còn khá thấm nhuần thứ triết lý rất thực của kẻ trần
gian “không lấy thì khuấy cho hôi” để thỏa lòng hậm hực. Thay vì là đối tượng
được yêu trong mắt nhìn của người đẹp nhân thế, ông trời dẫu cao sang song dị
chủng hẳn nhiên rất khó với Kiều có sự… đồng thanh tương ứng !
Trời là để vâng phục, tiếc thay chỉ vâng phục thôi… đâu có nghĩa là yêu ? Biết
bao cung tần mỹ nữ ngày xửa, ngày xưa hí hửng “vào nội” - để tiêu phòng lạnh lẽo
chỉ sau “cái đêm hôm ấy đêm gì” - họ chẳng đã chờ đến mỏi mắt một cái gật đầu
của đấng chí tôn là… buồn ơi chào mi dịch vụ nâng khăn sửa túi, trở về cố hương
sống cuộc sống dân dã một vợ một chồng đó sao ?
Cơ
hội tưởng như hồ dễ ấy, ngỡ đã sớm đến với Kiều trong dịp thanh minh. Bên nấm mộ
tiêu điều của nàng kỹ nữ đàn chị quá cố Đạm Tiên, giữa lúc đang dùng dằng nửa ở
nửa về chợt dưng :
Trông chừng thấy một
văn nhân,
Lỏng buông tay khấu,
bước lần dặm băng.
Đề huề lưng túi
gió trăng ,
Sau chân theo
một vài thằng con con.
Kim Trọng, ứng viên đạt chuẩn “có thịt có da” dáng dấp ra chiều môn đăng hộ đối
:
Nền phú hậu bậc
tài danh
Văn chương nết đất,
thông minh tính trời.
Tuy nhiên có cường điệu quá không, khi cách quãng giữa Thúy Kiều và cậu út Vương
Quan vẫn còn một nàng thứ Thúy Vân trang trọng ? Thử hỏi là bạn với một “chữ”
đang tuổi thiếu nhi nhi đồng như Vương Quan, thì Kim Trọng trình độ đến đâu để
mà :
Phong tư tài mạo
tót vời,
Vào trong phong nhã
ra ngoài hào hoa.
Khiến lúc vừa gặp chẳng ai bảo ai đều dưới hoa nép vào, riêng Kiều lại còn nghé
theo khi… “khách đà lên ngựa” ? Nguyễn Du ắt muốn khơi mào một chấm hỏi “lăng
xăng như bướm, lượm đượm như dầu” về một Thúy Kiều trôi nổi sau này ? Có thể lắm
bởi biết đâu, tiềm ẩn ở cô ả một gène-tính Thị Mầu nên mới “rộn đường gần với
nỗi xa bời bời” khi mặt vừa đối mặt gã họ Kim búng ra sữa chưa quá một bận ?
Cũng nép vào, cũng e lệ nhưng Thúy Vân nào có dấu hiệu gì liên quan đến hội
chứng suy tim cấp tính. Chỉ với Kiều “anh hoa phát tiết” khả dĩ cho phép chúng
ta hoài nghi một hiện tượng ức chế, tín hiệu báo trước sẽ có một sự xé rào tìm
đến với Kim giữa đêm thanh vắng ?
Nhà lan thanh vắng
một mình,
Ngẫm cơ hội ngộ
đã dành hôm nay.
Thời trân thức
thức sẵn bày
Gót sen thoăn thoắt
dạo ngay mé tường…
Ôi, chẳng phải vô cớ mà Nguyễn Công Trứ - một tay cự phách trong lãnh vực liễu
chán hoa chê sinh ra dỗi hờn và tiếc hụt, do đã không được xí phần nên mới buông
lời cay độc Kiều… “cho đáng kiếp tà dâm” ?
Phải chi thay cho cậu ấm họ Kim hoặc tay hảo hán râu hùm dại gái họ Từ, người
đón Kiều về dinh sau này là tướng công “ngũ thập niên tiền nhị thập tam” Uy Viễn
nhỉ ?
Hà như Uy viễn
tướng quân thú,
Túy ủng hồng nhi
thượng pháp môn (2).
Với lão tình nhân xem trời bằng vung vào mọi thời điểm, Kiều hẳn sẽ thấy đời dễ
chịu và ung dung. Sẽ tha hồ mà ngắm cảnh dạo chơi, kể cả “khi ngâm ngợi nguyệt,
khi cười cợt hoa” trên mọi địa thế .
Với việc đánh mất chiếc trâm cài cũng là một điều xác tín cho sự đáng ngờ nói
trên : Kiều vô tình hay lả lơi theo chiến thuật ? Dĩ nhiên sự thể mỗi khi đã xẩy
ra, Kim Trọng dẫu chậm hiểu cũng tương kế tựu kế nhặt về rồi mang trả, nhằm thực
hiện ý đồ… trước ngoài sân sau lần vô bếp !
Khôn em dễ bán dại này, xem ra Kim vẫn chưa đến nỗi là một gã tay mơ. Nói cách
khác, chẳng qua Kim là một tác phẩm điêu khắc chưa kịp nên dạng nên hình của
người nghệ sĩ nhiều lận đận Tiên Điền đấy thôi. Ngọn bút lông của Nguyễn Du hẳn
quá đà mà vung vãi, chấm phá chứ suy cho cùng người quốc sắc khéo làm mặt thẹn
lấp ló sau rèm là Kiều, kẻ thiên tài cũng chính Kiều. Anh họ Kim tự thân chẳng
nên tích sự, khó giữ nỗi Kiều ngày ấy - nói chi mười lăm năm sau tái ngộ ván
trót đóng thuyền. Kiều bấy giờ nghiễm nhiên là bà chị vợ, chẳng rõ Kim ta toan
tính “vớt hương dưới đất, bẻ hoa cuối mùa” chăng ?
Một lời đã trót thâm
giao,
Dưới dày có đất,
trên cao có trời.
Dẫu rằng vật đổi sao
dời,
Tử sinh cũng giữ
lấy lời tử sinh.
Duyên kia có phụ chi
tình,
Mà toan sẻ gánh,
chia tình làm đôi ?
Chẳng nhẽ mọi sự kết thúc có hậu cho riêng cậu ta, một con người dở hơi đến thế.
Lẽ ra Kim phải giữ ýgiữ tứ, chớ có gợi nhắc để Kiều phải tủi thân nhớ về một
đoạn đời không đáng nhớ :
Thiếp từ ngộ biến
đến giờ,
Ong qua bướm lại
đã thừa xấu xa.
Bấy chầy gió táp
mưa sa,
Mấy trăng cũng
khuyết, mấy hoa cũng tàn.
Còn chi là cái
hồng nhan,
Đã xong thân thế,
còn toan nỗi nào ?
Ngầm cảnh giác Kim về sự hiện diện đâu đó của cô em mình, Kiều sau những ngắn
dài thở than đành… phán :
Khéo là giở nhuốc
bày trò,
Còn tình đâu nữa
mà thù đấy thôi.
Người yêu, ta xấu
với người,
Yêu nhau thì lại
bằng mười phụ nhau.
Cửa nhà dù tính
về sau
Thì đà em đó ,
lọ cầu chị đây …
Chữ trinh còn một
chút này
Chẳng cầm cho vững
lại dày cho tan ?
Kim buộc phải ậm ự nghi binh hoặc giả lả trì hoãn chiến, nào… “một lời quyết hẳn
muôn phần” nào… “lọ là chăn gối mới ra sắt cầm” ! Thực tình cậu em rể giờ đây
khó để được Kiều tin, trừ phi bà chị vợ quỷ quái… giả vờ tin. Nhớ thuở từ Liêu
Dương quay về chốn cũ Lâm tri, Kim vội vã chạy sang vườn Thúy tìm Kiều thì sẽ
biết ngay :
…Hỏi ông, ông mắc
tụng đình
Hỏi nàng, nàng đã
bán mình chuộc cha.
…Đau đòi đoạn, ngất
đòi thôi
Tỉnh ra lại khóc,
khóc rồi lại mê.
Kim vật mình vật mẩy thiếu đường hấp hối tới nơi, rốt cuộc tỉnh dậy cưới ngay
Thúy Vân làm vợ. Bấy nhiêu nói lên tính ăn chắc mặc bền, vui đâu chốc đó của Kim
và trùng hợp thay, Thúy Kiều cũng hời hợt không kém. Mới ngày nào giọt ngắn giọt
dài, bàn giao quyền thừa kế tình nhân cho em gái :
Cậy em, em có
chịu lời
Ngồi lên cho chị
lạy rồi sẽ thưa.
…Dù em nên vợ
nên chồng
Xót người mệnh bạc
ắt lòng chẳng quên
…Mai sau dù có
bao giờ
Đốt lò hương ấy,
so tơ phím này,
Trông ra ngọn cỏ
lá cây,
Thấy hiu hiu gió
thì hay chị về.
Nay vừa vui sum họp Kim lẫn Kiều đã ít nhiều cử chỉ khó coi, hóa ra bàn giao là
để nhờ em… giữ đấy ? Ai dám chắc sẽ không tránh khỏi sự dây dưa trong nhăm ba
ngày tới, ai dám tin Kiều huống chi tin Kim Trọng ? Dấu ấn duyên xưa và chuỗi
tháng ngày lênh đênh, tình cảm thiếu trước hụt sau : liệu lấy gì cầm chắc cả hai
sẽ giữ trọn cái chất tri kỷ ? Hay sớm muộn cũng xé nát tâm can cô em, gương
trăng vốn đã đầy đặn nay càng đầy đặn hơn bởi đà… mắn con :
Thoắt thôi tay
lại cầm tay,
Càng yêu vì nết
càng say vì tình.
Thêm nến giá, nối
hương bình
Cùng nhau lại chuốc
chén quỳnh giao hoan.
Tình xưa lai
láng khôn hàn,
Thong dong lại
hỏi ngón đàn ngày xưa.
Có
thể đấy là thao tác giả chứ bảo “yêu” e thiếu sức thuyết phục. Một qúy ông ởm ờ
như Kim chắc gì được vợ yêu, sao khiến nỗi bà chị vợ nay đã từng trải thực hư hư
thực… yêu. Họa chăng, yêu như làm của… để dành : “miếng khi đói, gói khi no” ?
Nhưng thiên tiểu thuyết bằng thơ vội vã khép lại và bóng dáng Kiều đâu chẳng
thấy, chỉ nghe lời kết như một tiếng vọng đầy triết lý của tác giả :
Thiện căn ở tại
lòng ta,
Chữ tâm kia mới bằng
ba chữ tài !
Chúng ta thôi cũng chớ điều tra sự việc hậu đoạn trường làm chi cho thêm phũ
phàng và tội nghiệp Thúy Vân, một tính cách vốn luôn khác xa chị mình. Hãy cùng
trở lại với Kiều, sau cuôc “nữ đáo nam phòng” đầy chất ngẫu hứng và bao lâu sau
gia đình gặp nạn phải bán mình chuộc cha, khởi đầu “bước một” thăng trầm theo
con thuyền bạc mệnh.
Thúy Kiều rơi vào tay một thương lái giả dạng hay là khách chơi tỉnh lẻ ? Với
tác phong “ghế trên ngồi tót sỗ sàng” ngay từ buổi đầu, Mã Giám Sinh đã khiến
Kiều chưng hửng. Kiều đâm ra hối tiếc ngày ấy trót đã… chối từ Kim, sự hối tiếc
cũng rất ư là… Kiều :
Phẩm tiên rơi
đến tay hèn,
Hoài công nắng giữ
, mưa gìn với ai.
Biết thân đến
bước lạc loài,
Nhị đào thà bẻ cho
người tình chung.
Rốt lại vẫn một thực tế Thúy Kiều muôn thuở vẫn là Thúy Kiều, luôn có sự đánh
đồng giữa tình yêu và tính lãng đãng. Cũng dễ hiểu thôi bởi Kiều sinh ra đâu có
số chọn chồng, thậm chí còn không được… chọn mối. Kiều luôn là kẻ bị chọn mua
hay chịu xuôi xuôi cho người mua chọn :
Rủi may âu
cũng sự đời ,
Đoạn trường lại chọn
mặt người vô duyên !
Xót nàng chút phận
thuyền quyên,
Cành hoa đem bán
vào thuyền lái buôn.
Mà
họ Mã đã chịu mua tất sẽ tính đường bán, dễ gì một con buôn là hắn lại bỏ nhỡ cơ
hội “nước trước bẻ hoa” như một cách lấy lãi trước khi giao hàng và nhận vốn :
Tiếc thay một
đóa trà mi,
Con ong đã tỏ
đường đi lối về.
Một cơn mưa gió
nặng nề,
Thương gì đến ngọc,
tiếc gì đến hương.
Rồi… đuốc hoa để đó, rồi… mặc nàng nằm trơ : tay nghề của Kiều bấy giờ ắt còn
quá non ? Chỉ một lần “căm nỗi khách” ấy, Kiều chẳng những không yêu - vả lại,
phường mạt cưa mướp đắng như Mã cũng chỉ cần tiền chứ đâu cần yêu hay cần thứ
tình yêu của Kiều. Giả sử không bị mưu bán vào lầu xanh “học đạo” đưa người cửa
trước rước người cửa sau, Kiều lại được Mã qui hoạch vào một vị trí thê thiếp có
lẽ Kiều không đến phải :
Thôi thì thôi, có
tiếc gì ...
… Một dao oan
nghiệt, dứt dây phong trần !
Nhưng “kiếp này nợ trả chưa xong” nên Kiều được cứu sống và vào lầu Ngưng Bích
theo lời thần mộng, nhằm tránh chi thêm “nợ chồng kiếp sau”. Tại đây, Kiều lại
trở về với tập tính cũ cùng những gã trai tơ :
Một chàng vừa trạc
thanh xuân,
Hình dong chải chuốt
áo khăn dịu dàng.
Không quen vẫn phải quen cái nghiệp nước chảy hoa trôi, Kiều tiếp tục lả lơi
cùng khách tình mới :
Nghĩ rằng cũng mạch
thư hương
Hỏi ra mới biết rằng
chàng Sở Khanh.
Cũng bốc và kịch như bao tay phong tình chuyên nghiệp khác, Sở Khanh đánh hơi
được cảnh “hoa sao hoa khéo đọa đày bấy hoa” bèn nhập ngay vai diễn. Nhưng trái
hẳn tinh thần ngọt ngào mã thượng của nhân vật trong truyện thơ của Nguyễn đình
Chiểu, trên đường gặp cảnh Nguyệt Nga lâm nạn và cứu thoát :
Khoan khoan đứng đó chớ ra
Nàng là phận
gái, ta là phận trai (3)
Sở
Khanh vẫn diễn rất đạt, có điều gã không tôn trọng nguyên tắc “nam nữ thọ thọ
bất thân” mà cứ việc xấn vào :
Tức gan riêng
giận trời già,
Ra tay tháo cũi
sổ lồng như chơi.
Nàng đà biết đến
ta chăng,
Bể trầm luân lấp
cho bằng mới thôi.
do
Kiều gợi ý :
Đánh liều nhắn một
hai lời,
Nhờ tay tế độ vớt
người trầm luân.
Dám nhờ cốt nhục
tử sinh,
Còn nhiều kết cỏ
ngậm vành về sau.
Kế
hoạch đào tẩu chưa đến đâu, bóng đêm đã toa rập cùng Sở Khanh lẫn Thúy Kiều :
Chim hôm thoi thóp
về rừng,
Đóa trà mi đã ngậm
trăng nửa vành.
Tường đông lay động
bóng cành,
Đẩy song đã thấy
Sở Khanh lẻn vào.
Trong đêm giả vờ dẫn Kiều bỏ trốn, y đã nhanh chân… quất ngựa. Thúy Kiều một lần
nữa không thoát khỏi vòng kim cô, trở lại Ngưng Bích học nốt “những nghề nghiệp
hay” để từ đấy :
-Biết bao bướm
lả ong lơi,
Cuộc say đầy tháng
trận cười suốt đêm.
-Dập dìu lá gió
cành chim,
Sớm đưa Tống Ngọc,
tối tìm Tràng Khanh.
-Khi tỉnh rượu , lúc
tàn canh
Giật mình, mình lại
thương mình xót xa.
Khi sao phong
gấm rủ là ?
Giờ sao tan tác
như hoa giữa đường ?
Kiều lại gặp trong đám khách du một mẫu người đồng điệu, Thúc Sinh. Thúc đến Lâm
tri để mở cửa hàøng nhưng kinh doanh là chuyện nhỏ, ăn chơi mới là nghề chính
của chàng. Và do cái sự vung tay quá trán “trăm nghìn đổ một trận cười” nên Kiều
và Thúc như rồng mây gặp hội :
Hải đường mơn
mởn cành tơ
Ngày xuân càng gió,
càng mưa, càng nồng.
Lạ gì thanh khí
lẽ hằng,
Một dây một bước
ai giằng cho ra.
Sớm đào tối mận
lân la,
Trước còn trăng
gió, sau ra đá vàng.
Khi gió gác, khi
trăng sân,
Bầu tiên chuốc rượu,
câu thần nối thơ.
Khi hương sớm khi
trà trưa,
Bàn vây điểm nước,
đường tơ họa đàn.
Miệt mài trong cuộc
truy hoan,
Càng quen thuộc nết,
càng dan díu tình.
Tính cách phong lưu có gốc có gác của Thúc, đánh thức thứ bản năng gốc rất ư phụ
nữ ở Kiều. Khác chi bao thân phận trót nhỡ khác, Kiều cũng có lúc chợt mơ một sự
yên bề. Song chợt nghĩ đến cảnh ngộ của mình, Kiều tình thực trút hết :
Thiếp như hoa đã
lìa cành,
Chàng như con bướm
lượn vành mà chơi.
Chúa xuân đành
đã có nơi,
Ngắn ngày thôi
chớ dài lời làm chi.
Rồi ra nhạt phấn
phai hương,
Lòng kia giữ được
thường thường mãi chăng ?
Kiều dùng lời lẽ thăm dò, kích động khéo “máu liều” của Thúc Sinh trước khi chấp
nhận… làm lẻ !
Sá chi liễu ngõ
hoa tường,
Lầu xanh lại bỏ ra
phường lầu xanh.
Lại càng dơ dáng
dại hình,
Đành thân phận thiếp
ngại danh giá chàng.
Thương sao cho vẹn
thì thương,
Tính sao cho
trọn mọi đường thì vâng.
Tự
thâm tâm hẳn Thúc lẫn Kiều, chỉ do hết đường lui mới liều và Thúc Sinh chịu…
liều thật :
Mượn điều trúc viện
thừa lương,
Rước về hãy tạm
giấu nàng một nơi.
Kể từ độ bán mình, đoạn đời Kiều hạnh phúc và cám cảnh nhất có lẽ là đây do cảm
giác tâm đầu ý hiệp bên Thúc, dẫu ít nhiều mong manh :
Công tư đôi lẽ
đều xong,
Gót tiên phút đã
thoát vòng trần ai.
Một nhà sum họp
trúc mai,
Càng sâu nghĩa
bể càng dài tình sông.
Hương càng đượm lửa
càng nồng,
Càng xôi vẻ ngọc
càng lồng màu sen.
Khổ thay, dẫu trăng hoa nhưng Thúc vẫn luôn canh cánh nỗi niềm trở lại mái nhà
xưa. Thế gian ai hiểu vợ hơn chồng, chỉ cần Hoạn Thư xuất hiện thì đâu sẽ vào
đấy. Hoạn Thư ghen nào thua gì Liễu thị (4). Khác chăng là Hoạn Thư không như
“sư tử hống” mà ghen… bài bản, tình tiết và thâm trầm :
Bề ngoài thơn thớt nói cười
Mà trong nham hiểm giết
người không dao.
Trách hay oán là chuyện của Kiều, trước sau Hoạn Thư vẫn như một Kiều không được
Hoạn Thư hân hoan rước về, sớm muộn Kiều cũng phải ra đi trong sự dày vò của
Thúc vừa “được phép” hồi gia :
Phận bèo bao quản nước sa,
Lênh đênh đâu nữa cũng
là lênh đênh.
Bạc mệnh hay không bạc mệnh cũng do Kiều, khó thể đổi tội cho người… “đàn bà dễ
có mấy tay” này được ? Kiều chẳng đã khéo phất một cách ra hồn ra vía, khi dựa
vào Từ Hải để ân đền oán trả với những kẻ xưa đã hại mình, vượt xa từng trận đòn
thù của nàng tiểu thư nhà ghen họ Hoạn đấy sao ?
Máu rơi thịt nát tan tành,
Ai ai trông thấy hồn
kinh phách rời !
Nhưng suy cho cùng sau cái phút giận quá mất khôn, Từ phu nhân cũng thấm từng lý
lẽ “chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai” của Hoạn Thư. Kiều đã “phóng sinh” cho
kẻ tình thù :
“Đã lòng tri quá thì nên”
Truyền quân lệnh xuống
trướng tiền tha ngay.
Liệu đấy có là một “cách yêu” của Kiều riêng đối với Thúc lần cuối, khi liếc
nhìn cố nhân bấy giờ “mặt như chàm đổ, mình dường dẽ run” bởi Thúc là kẻ trước
tiên được Kiều … “cho gươm mời đến” ?
Nàng rằng – “nghĩa trọn nghìn
non”
Lâm tri người cũ,
chàng còn nhớ không ?
Sâm Thương
chẳng vẹn chữ tòng
Tại ai, há dám
phụ lòng cố nhân.
Trong toàn bộ 3254 câu của thiên truyện thơ Kiều, có lẽ tính lãng mạn cảm động
và đáng yêu nhất là để dành riêng cho Thúc cùng Kiều, được thể hiện chính trong
tình đoạn đầy kịch tính này :
Thúc sinh trông mặt bấy giờ,
Mồ hôi chàng đã
như mưa ướt dầm
Lòng riêng
mừng sợ khôn cầm,
Sợ thay, mà lại
mừng thầm cho ai.
Phải chi là “hờn” thay cho… “sợ” (sợ thay) vì trăm phần Thúc vẫn nặng tình với
Kiều đấy chứ. Ai cấm Thúc không ngầm giận Kiều, khi ngước nhìn lên cái cảnh Từ
Hải đang ung dung bên Kiều :
Trướng hùm mở giữa
trung quân
Từ công sánh với
phu nhân cùng ngồi.
Kể
ra Từ Hải cũng đáng mặt… giang hồ, nếu là Trương Phi chắc trăm phần không biết
chơi đẹp như Từ, mạng Thúc bấy giờ tất khó được bảo toàn. Kiều yêu và đền đáp
tình yêu kiểu này quả thật múa rìu qua mắt thợ và không ổn chút nào. Khác chi
“chuông treo chỉ mành” con tim của Thúc cùng một lúc trước hai con tim Hoạn Thư
và Từ Hải !
Nhưng phải trở lại thời điểm Kiều thoát khỏi tay Hoạn Thư, vào gởi thân ở Chiêu
ẩn am. Chẳng bao lâu Kiều lại mắc mưu Bạc bà và “má hồng đến quá nửa thì chưa
thôi” Kiều bị ép duyên cùng Bạc Hạnh để bị đem bán tiếp vào lầu xanh :
Biết thân tránh chẳng khỏi
trời
Cũng liều mặt phấn
cho rồi ngày xanh
Có
thế Kiều mới gặp hảo hớn Từ Hải “vai năm tấc rộng thân mười thước cao” nhưng ai
bảo Từ Hải trí dũng ? Lãnh vực côn quyền thì có thể, chứ lược thao ắt phải xét
lại. Từ chẳng qua là tay thảo khấu, một dạng thời thế tạo vì mới hôm nao mượn
tiếng sông hồ để chia tay Kiều :
Nửa năm hương lửa
đang nồng,
Trượng phu thoắt đã
động lòng bốn phương.
Trông vời trời
bể mênh mang,
Thanh gươm, yên ngựa
lên đường thẳng giong.
Kể
cả khi Kiều phận gái chữ tòng xin theo, chàng ta còn �quyết lời dứt áo ra đi…
bằng cách hẹn khéo :
… Bao giờ mười vạn
tinh binh,
Tiếng chiêng dậy
đất, bóng tinh rợp đường.
Làm cho rõ mặt phi
thường,
Bấy giờ ta sẽ
rước nàng nghi gia.
Bằng nay bốn bể
không nhà,
Theo càng thêm
bận, biết là đi đâu ?
Đành lòng chờ đó
ít lâu,
Chầy chăng là một
năm sau, vội gì !
Vậy mà vừa “nghe lời nàng nói” theo kế dụ hàng của Hồ Tôn Hiến, phút chốc lại
quyết định một cách xốc nổi điều gã vốn đã hình dung :
Bó thân về với
triều đình,
Vào luồn ra cúi
công hầu mà chi !
Rồi.. riu ríu “thành hạ yêu minh” để cho bao nhiêu thuộc hạ “ngọn cờ ngơ ngác,
trống canh trễ tràng” ! Đâu nữa, giọng tự xưng đầy tính cường điệu của Từ Hải
bấy lâu :
Từ rằng : Quốc sĩ
xưa nay,
Chọn người tri kỷ
một ngày được không ?
Anh hùng tiếng đã
gọi rằng :
Giữa đường dẫu
thấy bất bằng mà tha…
Nên dẫu có tự phong anh hùng hay quốc sĩ, nhưng ngẫu hứng không đúng lúc đúng
cảnh thì Từ có vong mạng cũng là logic.
Đáng ngạc nhiên chăng là cái nết, cái hạnh của Kiều sau khi chồng vừa chết đứng.
Nếu vì thúc thủ phải thất thân với Hồ Tôn Hiến vẫn có thể chấp nhận được, chứ
cái cách Kiều chịu đánh đàn và đánh “rất hay” cho Tôn Hiến nghe, quả là điều
không thể biện minh cho cốt cách một người vợ. Năm xưa trong vị trí một a hoàn
(mang tên mới là Hoa) nhà họ Thúc, phải vâng lời Hoạn Thư ra trình diện Thúc
Sinh và đánh đàn cho họ nghe, Kiều đã đánh “rất hay” nhưng đấy là ngón đàn “hay”
của một kẻ… yêu tình (yêu… Thúc Sinh) :
Nàng đà choáng váng tê mê,
Vâng lời ra trước
bình the vặn đàn.
Bốn dây như
khóc như than,
Khiến người trên tiệc
cũng tan nát lòng.
Cùng trong một
tiếng tơ đồng
Người ngoài cười nụ,
người trong khóc thầm
Giọt châu lã
chã khôn cầm,
Cúi đầu chàng những
gạt thầm giọt tương.
Riêng với Từ Hải, chừng như Kiều tự thâm tâm không có được thứ tình ấy chăng,
sao có sự phân tích mạch lạc ân cần khi Hiến hỏi :
Hỏi rằng - …Này khúc
ở đâu ?
Nghe ra muôn oán
nghìn sầu lắm thay !
Phần lão Tôn Hiến đại thần, việc dụ hàng một tướng giặc qua trung gian người vợ
(Kiều) rồi hạ thủ, đành rằng không xứng mặt trượng phu vẫn là chuyện chưa có gì
đáng trách. Nhưng tì thiếp và gái đẹp đâu mà Hiến trơ mặt vớt chút tàn hương ở
Kiều, đã thế còn gạ gẫm muốn nối lại “dây đàn” (nối duyên) cùng Kiều nhỉ ?
Dạy rằng – “Hương lửa ba sinh
Dây loan xin nối
cầm lành cho ai !”
Tôn Hiến trong hành động này mới thực sự vô sĩ, lẽ ra hắn và Kiều phải chết thay
cho Từ Hải thì đúng hơn :
Giết chồng mà lại
lấy chồng,
Mặt nào mà lại
đứng trong cõi đời ?
Sau sự đã rồi, Hiến chợt “nghĩ mình phương diện quốc gia” mới vội vã gán Kiều
cho một thổ quan. Mỉa mai thay, gã thổ quan này mới là người chồng tương đối
danh chính ngôn thuận của Kiều, nếu Kiều không vì thế mà gieo mình xuống sông
Tiền Đường :
Lệnh quan ai dám
cãi lời,
Eùp tình mới gán cho
người thổ quan.
Ông tơ thật nhẽ
đa đoan,
Xe tơ sao khéo vơ
quàng vơ xiên ?
Tóm lại, ngoại trừ Thúc tương đối khắng khít - chẳng một anh nào trong số những
đấng tu mi còn lại là người để Kiều yêu hay thực sự yêu Kiều. Vả chăng, Kiều
cũng chỉ đáng được chừng ấy chứ không thể khiếu kiện hoặc yêu sách gì hơn. Kiều
chưa thực sự biết yêu, đúng hơn là chưa kịp yêu vì nợ người nợ tình bỗng đâu dồn
dập. Trong mọi tình huống cô ả chỉ cân phân đôi chút rồi… phản ứng tự vô thức,
Kiều luôn đẩy phần thiệt về phía tình nhân.
May ra chỉ có Nguyễn Du yêu Thúy Kiều hay đúng hơn mượn Thúy Kiều, Nguyễn Du tâm
sự… Nguyễn Du xót thương… Nguyễn Du tự ví và cay đắng cho riêng mình, trước hay
sau ngày tiên sinh là một ông quan buồn bên dòng Hương giang “kim cổ hứa đa sầu”
(5).. Đơn giản là Kiều hay Nguyễn Du, dễ gì ai thoát khỏi thân phận một con
người mà chỉ như… “mùa xuân thấm thoát kia cùng trôi theo dòng nước, biết… về
đâu” (6) !
Chú thích:
(1) Theo nguyên tác Kim Vân Kiều truyện bằng chữ Hán của Thanh Tâm Tài Nhân thì
nhân vật Vương Thúy Kiều là một kỹ nữ sống vào khoảng 1522 đến 1566 triều Gia
Tĩnh tức gần cuối đời nhà Minh (Trung Quốc). Nguyên tác này không được phổ biến
cho lắm như khi được Nguyễn Du diễn Nôm bằng thể thơ lục bát ơ Việt Nam vào đầu
thế kỷ 19 dưới đề tựa Đoạn Trường Tân Thanh..
(2) thơ Phan Bội Châu ca ngợi Nguyễn Công Trứ :
Sao được như Uy Viễn tướng quân
Lúc say mang cả ả đào lên cửa Phật
(3) thơ trích từ truyên thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu.
(4) Một phụ nữ đời Tống (Trung Quốc) nổi tiếng ghen có tên Liễu thị, mỗi lần thế
nàng gầm thét tựa sư tử rống, khiến ai ai cũng khiếp sợ. Bạn của chồng Liễu thị
là Tô Thức thấy vậy, đã làm bài thơ sau :
Hốt văn Hà Đông sư tử hống
Trụ trượng lạc thủ tâm mang nhiên
(Chợt nghe sư tử Hà Đông rống
Gậy chống rời tay, hồn vía lên mây)
(5) thơ Nguyễn Du :
Hương giang nhất phiến nguyệt
Kim cổ hứa đa sầu
(Sông Hương một mảnh trăng soi
Xưa nay gợi nhắc biết bao sầu)
(6) thơ Nguyễn Du :
Xuân tòng giang thượng lai hà xứ !
(Xuân theo dòng nước về đâu nhỉ !)
NGUYỄN VĂN SA.
nguyennguyensa@hotmail.com
Trở về Trang Chính |